Chiến tranh sẽ chấm dứt nếu những người chết có thể sống lại
- STANDLEY BALDWIN
Khi bạn còn nhỏ và bạn bị bệnh, bạn sẽ cảm thấy khó chịu. Đó là điều khiến bạn nghỉ học và đến gặp bác sĩ: cảm giác tồi tệ. Cảm thấy tệ hại và bệnh tật là hai thứ luôn song hành với nhau, phải không? Đó chính là vấn đề trong bệnh Alzheimer. Bạn sống chung với bệnh một thời gian dài, rất dài mà không hề cảm thấy tồi tệ. Đến khi bạn nhận ra mình có triệu chứng và đến gặp bác sĩ, bệnh đã tiến triển khá lâu và khó điều trị – nếu không muốn nói là vô phương cứu chữa. Với bệnh Alzheimer, quá trình bệnh tật thường diễn tiến trong mười lăm đến hai mươi năm trước khi bệnh được chẩn đoán.
Như để khiến vấn đề trở nên tồi tệ hơn, khi ta bắt đầu có các triệu chứng như mất trí nhớ, ta thường tìm lý do tự trấn an mình rằng không có gì nghiêm trọng đâu. Ta hay nói rằng mình “vừa mới nhớ ra đây mà” hay là mình chỉ “lâu lâu bị đãng trí”. Ta tự nhủ rằng mình sẽ “suy nghĩ lại sau”, rằng mình đang tạm thời bị “đơ não”, hoặc mình đang trải qua “thời kỳ đãng trí do có tuổi”. Nói một cách công bằng, nhiều người trong chúng ta vẫn thi thoảng chợt quên, nhưng họ không mắc Alzheimer giai đoạn sớm, do đó không cần phải lo lắng thái quá. Tuy nhiên, với nhiều người khác, họ đang thật sự có bệnh.
Nếu bạn có thể phục hồi sau khi đã mắc Alzheimer, bạn sẽ muốn kể lại gì về cảm giác dần dần mất đi trí nhớ? Và một câu hỏi khác tích cực hơn, cảm giác của bạn ra sao khi khôi phục lại các khả năng nhận thức? Nhờ vào việc nhiều người đã phục hồi khi điều trị bằng phác đồ ReCODE, chúng ta cuối cùng đã tìm được câu trả lời cho câu hỏi này và những câu hỏi khác nữa.
Triệu chứng khởi phát của mọi người không giống nhau, cũng như mỗi bệnh nhân đều sẽ phục hồi theo một lộ trình riêng. Tuy nhiên, trải nghiệm của mỗi người đều chứa đựng điều gì đó đáng để học hỏi. Eleanor là một ví dụ, cô chỉ mới 40 tuổi khi bắt đầu rơi vào hố đen của bệnh Alzheimer. Khi cha cô đang mắc Alzheimer giai đoạn muộn, cô bắt đầu nhận thấy mình có những triệu chứng giống với những gì ông đã từng trải qua nhiều năm về trước:
1. Không nhận diện được gương mặt. Triệu chứng khó khăn trong việc nhận diện và ghi nhớ gương mặt (prosopagnosia) là thay đổi đầu tiên mà Eleanor nhận thấy. Nó xuất hiện đột ngột và trở nên rõ ràng khi cô ở độ tuổi 40. Cô nói: “Tôi không nghĩ việc này liên quan đến bệnh sa sút trí tuệ giai đoạn sớm, mà cho là mình đã quá mệt mỏi hoặc gặp phải vấn đề như kiểu giảm khả năng học tập. Cha tôi trước đây cũng có những triệu chứng này”.
2. Giảm sự minh mẫn tinh thần (đặc biệt về cuối ngày). “Tôi bắt đầu cảm thấy trạng thái tinh thần uể oải tăng dần, đặc biệt sau 3 hay 4 giờ chiều. Tôi tưởng nhầm tưởng tình trạng này là do mình quá mệt. Việc giúp các con làm bài tập vốn đã khiến tôi cảm thấy mệt đầu.
Trạng thái này giống với cảm giác tôi đã từng có khi còn là một sinh viên đại học rồi đến cao học, đặc biệt là những lúc học hành cao độ và trước những kỳ thi dài. Tôi hay thấy triệu chứng này xuất hiện tầm 3 giờ chiều, ngay cả khi tôi không cố gắng suy nghĩ.
Ngoài ra, việc đọc sách trở nên ngày càng khó khăn, đặc biệt vào thời điểm cuối ngày. Tôi thấy mình khó ghi nhớ những gì đã đọc, đôi khi thậm chí chỉ từ trang trước đến trang sau. Bên cạnh đó, tôi bắt đầu cảm thấy đầu óc “mờ nhạt” khi dự các buổi họp, hầu như không có ý tưởng gì để tham gia thảo luận, đặc biệt là những buổi họp vào cuối ngày.
Tôi thường rơi vào im lặng khi giao tiếp trong một nhóm, nhất là khi cuộc trao đổi liên quan đến những chủ đề phức tạp hoặc gây tranh cãi, đây vốn không phải là tính cách của tôi trước đây. Tôi cũng thường cảm thấy không còn gì để bàn luận thêm (tâm trí tôi chẳng nghĩ ra ý gì để nói) hoặc nghĩ rằng bình luận của mình sẽ không phù hợp vì tôi không theo kịp cuộc tranh luận.
Thường khi cần phải phát biểu trong một cuộc họp hay hội thoại, tôi sẽ chuẩn bị sẵn ý tứ trong đầu (điều này dường như có hiệu quả) và lặp đi lặp lại nó cho đến khi tôi thực sự nói ra được, chỉ để đảm bảo rằng tôi sẽ không sai sót và quên những gì định nói. Đây không phải là cách trước đây tôi đã làm.”
3. Giảm hứng thú đọc sách, mất khả năng theo nhịp hoặc nắm bắt những cuộc đối thoại phức tạp, mất khả năng theo kịp những bộ phim có cốt truyện rắc rối. Các cuộc trò chuyện “trở nên nặng nề với tôi”, Eleanor nói: “Tôi không biết tại sao. Tôi gặp khó khăn trong việc bắt kịp những cuộc hội thoại không thuộc lĩnh vực của mình và chỉ muốn nhắm nghiền mắt lại”.
4. Giảm khả năng hồi tưởng những gì đã đọc hoặc đã nghe. “Tôi kiệt sức khi phải cố nhớ lại, từ việc phải mua gì ở siêu thị cho đến loại sushi con tôi muốn đặt mua”, cô nói. Một năm trước khi bắt đầu chương trình ReCODE, Eleanor nói với tôi, tài liệu mà cô cần đọc cho một khóa học “nhìn dày đặc và tôi chẳng thể nhớ chút gì, tôi thấy khó nhớ những thứ tôi đã đọc, như tiểu thuyết hay tạp chí, việc đọc (thứ tôi đã từng thích) không còn là một thú vui nữa”.
5. Giảm vốn từ vựng. Eleanor phải chật vật để tìm từ phù hợp, và bắt đầu sử dụng các từ ngữ đơn giản hơn. “Tôi có thể nói hung hăng, nhưng không còn dùng từ thích gây gổ hay ngỗ nghịch nữa. Tôi sẽ nói một ai đó nghĩ về thứ gì đó liên tục thay vì nói anh ta đang kiên trì làm gì đó. Tôi sẽ nói một ai đó giao tiếp rộng, chứ không dùng từ hòa đồng. Tương tự, tôi cần lục lọi vốn từ của mình khi nói chuyện, đôi lúc tôi phải tạm dừng để tìm ra từ thích hợp. Tôi thường sẽ tìm một từ nào đó vừa phải, hoặc tìm cách diễn đạt gián tiếp để nói về thứ gì đó. Ví dụ, tôi sẽ nói rằng một người bắt tay vào vấn đề nào đó theo từng bước như điều vốn dĩ nên làm, bởi vì tôi không thể tìm được từ có hệ thống để diễn đạt sự tiếp cận có hệ thống. Điều này làm tôi hoang mang và phải thực sự nỗ lực nhiều. Người khác không dễ nhận ra điều đó. Sau khoảng năm hay sáu tháng điều trị theo chương trình, khi nói chuyện với người khác, tôi nhận thấy mình đã sử dụng tự nhiên những từ mà hầu như tôi đã chẳng dùng trong nhiều năm liền. Điều này làm tôi rất ngạc nhiên bởi vì tôi thậm chí đã từng quên sự tồn tại của những từ đó”.
6. Nhầm lẫn từ ngữ. “Từng có khoảng thời gian việc tôi thi thoảng nhầm lẫn tên các con của tôi không còn là điều lạ lẫm. Ngay trước giai đoạn tôi bắt đầu đặt lịch đi khám bệnh, tôi đã dùng từ ngữ sai hoàn toàn. Ví dụ như, khi tôi chở bọn trẻ đi học, tôi hô to với người nhân viên trạm thu phí đầy dõng dạc và tự tin rằng “Cuộc gọi hội nghị!” thay vì “Đi chung xe” để được giảm giá khi đi chung nhiều người trên một xe. Một lần khác, tôi gọi chú chó nhà mình đang chơi ngoài sân là “Ớt ơi!” (thứ tôi đang dùng để nấu bữa tối) thay vì Juno (tên của con chó).
7. Giảm tốc độ xử lý. Cô suy nghĩ chậm chạp hơn, đặc biệt là cảm thấy “mơ hồ” mỗi khi họp hành. Cô đánh máy chậm hơn, như thể các tín hiệu khi đi từ não đến ngón tay phải băng qua một lớp mật đường dẻo kẹo vậy.
8. Lo lắng nhiều hơn về chuyện lái xe và tìm đường. Có hàng loạt thứ mà một người lái xe phải quan sát và xử lý, từ vị trí và chuyển động của các xe xung quanh, tín hiệu đèn giao thông đến sự di chuyển của người đi đường. Tất cả làm cho Eleanor cực kỳ căng thẳng, đến nỗi cô cảm thấy hầu như không thể vận hành được chiếc xe.
9. Khó nhớ danh sách việc phải làm và các cuộc hẹn, thỉnh thoảng cảm thấy “chìm ngập” trong đống việc phải hoàn thành. Eleanor bắt đầu bị lỡ cuộc hẹn và “trở nên rất lo lắng, căng thẳng khi không thể nắm bắt mọi thứ đang đang diễn ra trong cuộc sống của mình”, cô nói. “Tôi đã dùng công cụ Lịch Google và dán giấy nhắc mọi nơi, nhưng tôi vẫn cứ quên. Khi tôi còn trẻ, tôi đã từng rất tự tin về trí nhớ của mình. Tôi chưa bao giờ quên một cuộc hẹn nào và nhớ được cả số điện thoại sau lần đầu quay số”.
10. Giấc ngủ bị gián đoạn. “Tôi dễ bị thức giấc. Mỗi khi như vậy, tôi cực kỳ khó vào giấc trở lại, đôi khi việc này mất hàng giờ đồng hồ. Tôi cũng thức giấc rất nhiều lần giữa đêm”.
11. Không còn cảm thấy hưng phấn đầu óc khi dùng caffeine.
12. Khó giao tiếp bằng ngoại ngữ, bao gồm tiếng Trung và tiếng Nga – hai thứ tiếng mà cô đã từng thông thạo.
Thông thường, phải mất nhiều năm, thậm chí một hay hai thập kỷ để các triệu chứng như trên đủ nặng nề đến mức có thể chẩn đoán một người mắc bệnh Alzheimer, như trong trường hợp của Eleanor.
Chín năm sau khi khởi phát triệu chứng, khi cô đã 49 tuổi, Eleanor mới nhận được kết quả xét nghiệm dương tính với một yếu tố hình thành nguy cơ di truyền của bệnh Alzheimer – gen ApoE4.
Cô đã được khám và đánh giá tình trạng tâm - thần kinh, cho thấy các triệu chứng bất thường phù hợp với triệu chứng của cô. Nói cách khác, Enleanor không chỉ đơn giản là trải qua “thời kỳ đãng trí do có tuổi” nữa. Bộ não của cô bắt đầu hoạt động chuệch choạc.
Bên cạnh những triệu chứng riêng rẽ cô vừa mô tả, Eleanor cảm thấy như thế nào trong suốt giai đoạn chán chường đó? Do đã phục hồi khả năng tư duy, ghi nhớ và sinh hoạt, Eleanor đang ở một vị thế khác biệt. Cô giống như một nhà thám hiểm đã liều mình đến một vùng đất đáng sợ, nơi mà rất ít người sống sót trở về. Nhưng cô đã xoay sở để quay lại, để kể với những người còn lại rằng nơi đó như thế nào. Đây là điều mà Eleanor đã kể với tôi:
Tôi muốn kể cho bác sĩ nghe tường tận cảm giác của tôi khi ở trong “đám sương mù” của chứng suy giảm nhận thức giai đoạn sớm, dưới một góc nhìn đặc biệt của người đã vượt qua nó. Cảm giác đó có thê được ví như cảm giác của một người đeo tai nghe loại trùm qua đầu và cố nói chuyện với người ngồi bên cạnh vậy. Âm thanh nghe cứ nhạt nhòa và bạn có cảm như thể mình đang ở một nơi cách xa những người khác.
Trước khi phục hồi, tôi có cảm tưởng như thể có một dải băng quấn quanh não làm tôi không thê kết nói với những người khác và không thể bắt kịp những cuộc đối đáp qua lại thông thường. Đôi lúc, trong các buổi họp công việc, tôi phải nỗ lực rất nhiều để chuẩn bị cho lời phát biểu của mình mới nói ra được thành câu (mà không quên mắt những điều muốn nói).
“Dải băng” đó giống như rào chắn mà tôi phải xuyên thủng đề diễn đạt ý nghĩ ra bên ngoài. Những cuộc hội thoại, đặc biệt là về các chủ đề phức tạp, đã không còn là những hoạt động dễ dàng như hồi còn trẻ nữa.
Eleanor đã bắt đầu thực hiện ReCODE vào đầu năm 2015. Trong vòng sáu tháng, cô đã nhận thấy sự cải thiện rõ rệt về chức năng nhận thức. Cô được tái khám chuyên khoa tâm - thần kinh sau chín tháng, và sự tiến bộ đã được ghi nhận: cảm giác “trở lại bình thường” cô miêu tả không phải là do tưởng tượng. Sự tiến bộ là có thật, nó có thể được lượng giá, và có thể đo lường một cách khách quan.
Một tháng trước đợt đánh giá này, vào tháng 10 năm 2015, Eleanor đã mô tả về cảm giác “phục hồi về bình thường” như sau:
Tôi cảm thấy như bừng tỉnh. Tôi nhận ra một vài cải thiện nho nhỏ vào tháng 8. Nhưng đến tháng 9, “đám sương mò” mới thật sự biến mất và tôi có thể xác định được cụ thể những thay đổi trong chức năng nhận thức của mình. Tôi cảm thầy như được hồi sinh. Tôi viết thư này để cảm ơn bác sĩ và chia sẻ về điều tôi đã trải nghiệm và học được trong quá trình đó, mong là nó giúp được phần nào cho nghiên cứu của bác sĩ.
Việc thấy được những thay đổi của bản thân đã giúp tôi hiểu rõ điều gì từng xảy ra với bố tôi cũng như với chính tôi. Tôi đã từng vin vào lý do “mệt mỏi” hay “tuổi tác” để bào chữa cho nhiều thứ, nhưng giờ tôi nhận ra rằng điều đó không hề đúng.
1. Chứng không nhận diện được khuôn mặt. Giờ tôi đã cải thiện đáng kể việc nhận diện người khác và nhớ rằng mình đã gặp họ. Tôi để ý thấy điều này vào tháng 9, khi tôi tham gia Ngày hội Phụ huynh ở trường con tôi theo học. Trước đây, tôi thường lo lắng về những ngày lễ như vậy, bởi vì tôi không nhớ được những người tôi quen biết, những người tôi từng gặp và cũng không chắc ai là ai nêu không nhìn vào bảng tên của họ. Năm nay, tôi nhận ra gần như tất cả, nhớ được tên của họ và tên con cái họ, thậm chí còn biết thêm chút ít về họ nữa. Tôi còn tự tin gọi tên họ bởi vì TÔI ĐÃ BIẾT là tôi có quen biết họ!
2. “Hội chứng mệt mỏi lúc 4 giờ”. Điều này đã biến mắt! Giờ tôi hiểu được chính xác điều mà cha tôi đã trải qua khi ông ở cuối độ tuổi tứ tuần. Cha tôi đã phải kết thúc ngày làm việc sớm hơn ở bệnh viện nơi ông công tác, và chìm vào giấc ngủ mơ màng bên cạnh chiếc TV sau 3 giờ chiều mỗi ngày. Gia đình tôi từng nghĩ ông chỉ đơn giản là mệt mỏi vì công việc. Nhưng giờ tôi đã biết đó là biểu hiện sa sút trí tuệ giai đoạn sớm. Bạn không thể nhận biết được điều đó khi bạn đang trải qua nó.
3&4. Đọc hiểu và ghi nhớ. Đã tiễn bộ! Bây giò, khi tôi đọc thứ gì đó hay nghe ai đó nói, tôi nhớ được rất nhiều — quả là một sự thay đổi lớn với tôi. Giờ tôi đã có thê theo kịp và thậm chí có thể tham gia vào những cuộc trò chuyện không thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.
5&6. Vốn từ vựng và việc tìm từ. Tôi thấy mình dùng được nhiều từ ngữ để diễn tả mọi thứ hơn. Tôi từng không nhận ra việc vốn từ của mình bị giới hạn và những lời nói của mình trở nên đơn điệu. Giờ tôi đã bắt đầu quay trở lại với lớp từ ngữ “phong phú”. Đôi khi, tôi vẫn cần suy nghĩ để tìm từ vựng phù hợp, nhưng tần suất đã giảm rất nhiều!
7. Sự minh mẫn và tốc độ suy nghĩ. Tôi sắc bén hơn khi giúp con làm tập làm văn và bài tập về nhà. Gần đây, tôi đã viết lách với tốc độ và sự tập trung như hồi còn trẻ... điều mà mây năm nay tôi không đụng tới. Tốc độ đánh máy của tôi cũng đã được hồi phục.
8. Việc lái xe. Nỗi lo khi lái xe của tôi đang giảm nhiều.
9.. Những cuộc hẹn và danh sách việc phải làm. Tôi ghi nhớ những cuộc hẹn tốt hơn và áp lực từ nỗi sợ bị lỡ hẹn thường trực giờ đang xa dân. Tôi chưa cải thiện được một cách hoàn hảo, nhưng chắc chắn là đang có sự cải thiện. Tôi không phải tốn quá nhiều công sức để ghi nhớ thứ gì đó. Tôi không còn phải bảo con ghi lại mẫu giấy nhắc mỗi khi chúng nhờ tôi làm gì đó.
10. Giấc ngủ. Tôi nhận ra sự cải thiện trong giấc ngủ khi tôi bắt đầu uống melatonin và magnesium vào ban đêm, từ lúc bắt đầu áp dụng phác đồ. Tôi thấy giấc ngủ đầu tiên của mình sâu hơn và kéo dài tận 3 đến 4 tiếng (dài hơn trước đây), còn những lần thức giấc giữa đêm thì không kéo dài lâu hoặc không xuất hiện thường xuyên như lúc trước nữa. Tôi không còn cảm thấy “mệt mỏi mọi lúc mọi nơi”, và khi được ngủ đủ giác tôi cảm giác thật sảng khoái.
11. Caffeine. Khi uống cà phê, tôi lấy lại được cảm giác tỉnh táo mà trước đây tôi từng mắt.
12. Ngoại ngữ. Thật ngạc nhiên, tiếng Anh và tiếng Trung tôi không dùng nhiều năm giờ dần quay trở lại. Tôi bắt đầu viết ra giấy từng từ mà tôi nhớ.
Một trong những điều tác động lớn nhất đến tôi sau tất cả những điều này là đáng lẽ tôi đã không thể bộc bạch với bất cứ ai rằng tôi từng gặp các vấn đề như trên vào năm ngoái. Tôi không thê liên két chúng lại với nhau.
Tôi vẫn ra khỏi nhà và hoạt động. Chỉ là tôi thấy mọi thứ xung quanh có lúc thật “mờ nhạt", nhưng chẳng thể nào xác định rõ vẫn đề là ở đâu. Sự thay đổi diễn ra chậm chạp đến mức bạn thực sự không đề ý đến, và sự mệt mỏi về tinh thần có tác động cực kỳ mạnh mẽ, nó làm cho bạn rã rời hoặc kiệt sức.
Bây giờ, khi tôi đang cải thiện dần, tôi có thể nhận ra bản chất của những khiếm khuyết đó là gì. Tôi cảm thấy như thê mình mới vừa “hồi sinh” và tôi hy vọng điều này sẽ kéo dài mãi. Tôi không biết cảm ơn bác sĩ sao cho đủ. Phác đồ của ông đã thực sự thay đổi cuộc đời tôi.
Không ai muốn đặt bản thân mình vào tình huống như của Eleanor. Nhưng trên thực tế, chúng ta sẽ dần rơi vào hoàn cảnh đó nếu cứ tiếp tục ăn uống theo chế độ dinh dưỡng điển hình của người Mỹ, hay sống theo lối sống Mỹ điển hình. Tại sao như vậy? Tôi sẽ lý giải điều này trong phần sau.