Dành cho những ai thắc mắc về nền tảng cách tiếp cận của chúng tôi đối với quy trình ReCODE, tôi sẽ cung cấp thông tin bên dưới. Thông tin bổ sung có thể tìm thấy trong hơn 200 bài đăng đã được bình duyệt của chúng tôi, phần lớn các bài đăng có thể đọc miễn phí trên mạng.


Phần giải thích cho những bằng chứng trên:
◆ Hiện tượng não bộ thích nghi và tinh chỉnh để đảm bảo sự cân bằng có tồn tại, nó tác động đến cán cân giữa sự lưu trữ trí nhớ so với sự tái tổ chứcsự quên. Hiện tượng trí nhớ thị giác (eideticphotographic memory) ủng hộ cho quan điểm này, và việc can thiệp vào sự cân bằng này cho thấy thêm nhiều bằng chứng.
Đột biến tại vị trí caspase trên thụ thể APP làm giảm hiệu ứng mất-trí-nhớ của những chú chuột “Mouzheimer” – chuột biến đổi gen gây bệnh Alzheimer. Ngược lại, việc thêm vào các đột biến của thụ thể APP liên quan đến Alzheimer vào chuột khỏe mạnh gây nên hiện tượng mất trí nhớ “Mouzheimer”.
Còn khi thêm vào những chú chuột khỏe mạnh các gen đột biến từng giúp cải thiện triệu chứng trên các con chuột Mouzheimer, những chú chuột khỏe mạnh cho thấy tiến bộ rõ rệt trong khả năng ghi nhớ. Tất cả những phát hiện này ủng hộ lý thuyết rằng não bộ có cơ chế cân bằng sự tinh chỉnh của nó – thứ tác động đến cán cân giữa sự lưu trữ trí nhớ so với sự tái tổ chứcsự quên.
◆ APP là chất trung gian của cán cân tinh chỉnh này. Như đã nhắc đến ở trên, những đột biến của thụ thể APP – ví dụ tại những vị trí beta, gamma và caspase – làm thay đổi sự cân bằng này theo cả hai chiều hướng: cả phía làm trí nhớ tốt hơn và xấu đi (mà ta có thể dự đoán được). Những phát hiện này ủng hộ lý thuyết bản thân APP là chất trung gian của khả năng cân bằng trong quá trình thích nghi.
◆ Tỷ lệ 4:2 cho thấy hiện tượng cân bằng thích nghi với trung gian là APP. Những đột biến và sự can thiệp khác – ví dụ như bổ sung các yếu tố biến dưỡng có vai trò làm tăng số lượng 4 peptide có nguồn gốc từ APP như APPβ, Aβ, Jcasp và C31; hoặc làm giảm số lượng 2 peptide cũng có nguồn gốc từ APP là sAPPα và αCTF – làm giảm khả năng ghi nhớ và tăng các biến đổi bệnh lý của Alzheimer. Ngược lại, những đột biến và sự can thiệp làm giảm tỷ lệ này sẽ tạo ra hiệu ứng trái ngược, làm tăng khả năng ghi nhớ và giảm các biến đổi về mặt sinh lý bệnh của Alzheimer.
◆ Các yếu tố nguy cơ của Alzheimer như ApoE4 làm thay đổi khả năng tinh chỉnh cán cân và tỷ lệ 4:2. Có những yếu tố làm tăng tỷ lệ này như gen ApoE4, sụt giảm estrogen, sụt giảm vitamin D và nhiều yếu tố khác. Ngược lại, việc tập thể dục và phân tử BDNF là các yếu tố làm giảm tỷ lệ này.
◆ APP là một thụ thể có tính phụ thuộc. Như đã trình bày ở phần tài liệu tham khảo trong bảng phía trên, APP thể hiện một số đặc tính của một thụ thể có tính phụ thuộc, ví dụ như việc chỉ có một vị trí gắn caspase nội bào duy nhất và việc gắn kết với một yếu tố biến dưỡng – mà ở đây là phân tử netrin-1.
◆ Xác suất mắc bệnh Alzheimer: tỷ số D = [tín hiệu phá hủy synapse]/[tín hiệu hình thành synapse]. Giống như mối tương quan giữa tín hiệu tiêu xương so với tạo xương ở bệnh loãng xương, xác suất để mắc bệnh Alzheimer tỷ lệ thuận với tỷ số của tín hiệu phá hủy synapse trên tín hiệu hình thành synapse. Việc điều hòa tỷ lệ này dù theo chiều hướng nào cũng tạo ra tác động có thể dự đoán đối với nguy cơ bị bệnh và tương quan giữa việc bệnh diễn tiến hay thoái lui.
Lý thuyết này được ủng hộ bởi nhiều loại đột biến di truyền theo phả hệ của bệnh Alzheimer, mà tất cả các đột biến đó đều làm tăng tỷ số này. Ngoài ra, các yếu tố nguy cơ và yếu tố ức chế về dịch tễ học, từ tập thể dục cho tới hormone và sự hỗ trợ sinh dưỡng cũng ủng hộ lý thuyết trên.
◆ APP đóng vai trò một chiếc công tắc ở cấp độ phân tử. Những dẫn xuất từ sự phân cắt APP theo con đường này sẽ tạo ra phản hồi ngược để ức chế sự phân cắt theo con đường kia. Ví dụ, CTFα ức chế con đường phân cắt tại vị trí gamma. Vì thế, sự phân cắt có xu hướng xảy ra theo chiều này hoặc chiều còn lại, giống như một cái công tắc.
◆ APP-AE tạo một phân tử vòng có tính prion. Như một hệ quả tất yếu của lý thuyết vừa nói ở trên, việc bổ sung đơn vị amyloid-beta vào phân tử APP thúc đẩy tạo ra nhiều amyloid- beta hơn, theo như trích dẫn ghi ở bảng trên. Vì vậy, APP và Aβ tạo nên một vòng có tính prion, với thành phần Aβ khiến cho nhiều amyloid-beta được APP tạo ra hơn. Điều này dẫn đến sự phản hồi ngược và càng làm tăng thêm quá trình.
◆ Nguồn gốc ban đầu của những prion là sự khuếch đại tín hiệu sinh học. Các hệ cơ quan như hệ đông máu (mà tại đó sự khuếch đại nhanh chóng là cần thiết; và kết cục không chỉ bao gồm một mục tiêu đơn thuần như kiểu quyết định xem đây là trạng thái huyết khối hay không huyết khối, mở rộng hay teo hẹp các sợi trục thần kinh) cho thấy sự truyền tín hiệu đối kháng với cân bằng nội môi. Do đó, các tín hiệu trung gian cho phép tạo ra chính chất đó hoặc tín hiệu đó nhiều hơn. Đây là những đặc tính của prion.
◆ Sự kết tập giúp điều hòa quá trình tín hiệu. Như đã chứng minh trong nhiều hệ cơ quan, sự tự tương tác (tương tác giữa các cấu phần tương đồng – homomeric interaction) của các protein thường liên quan đến những hiệu ứng nhất định, chẳng hạn như sự kích hoạt. Một ví dụ nữa là: ở một số caspase, sự kết tập dẫn đến việc kích hoạt một cách nhanh chóng.
◆ Bệnh Alzheimer là quá trình thoái hóa thần kinh làm mất tính tinh chỉnh cân bằng của não, xảy ra do đáp ứng bảo vệ cơ thể trước các kích thích về chuyển hóa, của các độc tố hoặc sự viêmnhiễm trùng. Như đã nói trong bài, sự chuyển dịch của APP về phía bốn loại peptide tiền Alzheimer, đồng thời cũng là con đường làm tạo ra amyloid, là đáp ứng có tính bảo vệ đối với các thay đổi nhỏ thuộc ba nhóm tác nhân chính về chuyển hóa hoặc độc chất gồm: sự viêm, thiếu hụt yếu tố sinh dưỡng hoặc sự phơi nhiễm độc tố. Đáp ứng bảo vệ này có liên quan đến sự cắt giảm mạng lưới synapse.
◆ Phương pháp điều trị cho các chứng SCI, MCI và Alzheimer bao gồm việc chuyển dịch cán cân thích nghi của não về phía tín hiệu hình thành synapse và rời xa khỏi phía tín hiệu phá hủy synapse. Bằng chứng cuối cùng của lý thuyết đến từ việc khám phá ra rằng những người (không phải chỉ chuột hoặc các mô hình động vật khác) mắc SCI, MCI và Alzheimer giai đoạn sớm đã đạt được sự cải thiện triệu chứng bệnh theo sau sự chuyển dịch cán cân về phía tín hiệu hình thành synapse, như tôi đã mô tả trong phần tài liệu tham khảo.