Tuần lễ khánh thành đã qua: một vài vị khách ở lại là những họ hàng gần và không mấy dư dả, chẳng hạn như gia đình Montacute Mountjoy. Họ đến từ một nơi khá xa, và vị công tước kiên quyết giữ họ ở lại cho đến khi nữ công tước đi London—nhân tiện đây, sự kiện ấy sẽ diễn ra rất nhanh chóng thôi. Phu nhân Eleanor khá dễ mến, và nữ công tước hơi quý bà; tất nhiên là có bốn cô con gái, không được hoạt bát cho lắm, nhưng họ biết hát vào buổi tối.
Đó là một buổi sáng rực rỡ, và nữ công tước, với một trái tim tràn ngập dự cảm hạnh phúc, muốn giãi bày lòng mình cùng con trai; do đó, bà định mời cậu đi dạo cùng, và bà đã sai người đến phòng cậu nhưng không tìm thấy, đang lúc dò hỏi tung tích của cậu thì bà được cho biết rằng ‘Lãnh chúa Montacute đang ở cùng ngài Công tước.’
Một nụ cười hài lòng thoáng hiện trên khuôn mặt bà, khi bà nhớ lại nguyên nhân tốt đẹp của cuộc gặp gỡ đang diễn ra giữa cha và con.
Chúng ta hãy xem sự việc tiến triển ra sao.
Vị công tước đang ở trong thư phòng riêng của mình, nơi chủ yếu trưng bày các bộ luật toàn thư, biên bản Hansard, Niên giám Thường niên, các Báo cáo Nghị viện, và các chuyên khảo pháp lý về quyền hạn vànhiệm vụ của các thẩm phán hòa bình. Chân dung thân mẫu ông được treo phía trên lò sưởi: đối diện là một bản đồ lớn của hạt. Thư tín của ông về công vụ với quốc vụ khanh và các nhà chức trách khác nhau trong hạt được sắp xếp rất tuyệt vời: bởi vì vị công tước là người mà người ta vẫn gọi là một người làm việc cực kỳ xuất sắc, nghĩa là có phương pháp và rất thành thạo mọi lặt vặt của lề thói quan liêu. Những giấy tờ này, sau khi đã được dán nhãn ghi ngày tháng và tóm tắt nội dung rồi cột chặt bằng ruy băng bản lớn, được cất trong một chiếc tủ hồ sơ lớn chiếm gần hết một mặt phòng, phía trên đặt tượng bán thân bằng cẩm thạch của ông Pitt, vua George III, và Công tước xứ Wellington.
Vị công tước đang ngả người ra sau ghế—qua dáng vẻ và tư thế, có vẻ như ông vừa đẩy ghế lùi lại hơi đột ngột—và không thể phủ nhận rằng một vẻ ngạc nhiên đầy đau đớn đang hằn trên nét mặt ông. Lãnh chúa Montacute đang đứng, tì tay trái lên bệ lò sưởi, vẻ mặt vô cùng nghiêm trọng và, nếu có thể thì, còn tái nhợt hơn thường ngày.
‘Cha hoàn toàn bất ngờ trước con,’ vị công tước nói; ‘Cha cứ nghĩ đó là một sự sắp xếp khiến con vô cùng hoan hỉ.’
Lãnh chúa Montacute khẽ cúi đầu nhưng không nói gì. Cha cậu tiếp tục.
‘Không muốn bước vào Nghị viện vào lúc này ư? Chà, điều đó nghe thì hay đấy, và nếu như trước kia, chúng ta có thể vào Nghị viện bất cứ khi nào ta muốn và bằng cách nào ta thích, thì ước muốn ấy có lẽ rất hợp lý. Nếu cha có thể bấm chuông gọi và đưa con làm nghị sĩ đại diện cho Montacute dễ dàng như cha sai người sang Bellamont thuê một chuyến tàu riêng đưa chúng ta lên tỉnh, thì con có thể có lý khi nuôi dưỡng một sở thích cá nhân. Nhưng con thử nghĩ xem, bằng cách nào và khi nào mà con có thể bước vào Nghị viện lúc này? Quốc hội khóa này sẽ còn kéo dài: nó sẽ kéo dài cho đến tận cùng. Lãnh chúa Eskdale đã bảo cha như vậy chưa đầy một tuần trước. Vậy thì, dù sao đi nữa, con sẽ mất ba năm: trong ba năm con thành kẻ rỗi nghề. Cha chưa bao giờ nghĩ đó là tính cách của con. Cha luôn có ấn tượng rằng con sẽ hướng tâm trí vào chính sự, để rồi hạt này sẽ phải ngước nhìn con. Nếu con có những cái gọi là tầm nhìn cao xa hơn, con không nên quên rằng hiện nay đang có một cơ hội lớn trong đời sống chính trị, mà có lẽ sẽ không lặp lại lần nữa. Đức vua quyết định ưu tiên giới quý tộc trong việc điều hành công việc đất nước. Ngài tin rằng đây là con đường duy nhất để chúng ta tồn tại. Ngài đã nói với cha điều đó. Nếu quả thực là vậy, cha e rằng chúng ta đã bị định mệnh phán quyết. Cha hy vọng chúng ta có thể làm được điều gì đó ích nước lợi nhà mà không cần phải làm bộ trưởng chính phủ. Nhưng hãy gác chuyện đó sang một bên. Chừng nào Đức vua còn tại vị, ngài là đấng tối cao và sẽ làm theo ý mình. Nếu con vào Nghị viện bây giờ, và thể hiện bất kỳ khuynh hướng muốn gánh vác trọng trách nào, cha đoan chắc rằng con sẽ không phải nhàn rỗi lâu đâu. Cha không hoài nghi gì về việc cha có thể sắp xếp để con đọc diễn văn đáp từ trong kỳ họp tới. Cha dám chắc Lãnh chúa Eskdale có thể lo được việc này, và nếu ông ấy không lo được, dẫu cha rất ghét việc phải xin xỏ một vị bộ trưởng bất cứ điều gì, thì trong hoàn cảnh này, cha vẫn thấy hoàn toàn đường hoàng khi tự mình nói chuyện với Đức vua về vấn đề đó, và,’ vị công tước nói thêm, với giọng thấp hơn nhưng mang vẻ quyết đoán và kiên định cao độ, ‘cha tự hào rằng nếu Công tước xứ Bellamont đã cất lời bày tỏ một ước nguyện, thì nguyện vọng ấy sẽ không bị xem nhẹ.’
Lãnh chúa Montacute dán đôi mắt đen láy, thông minh xuống sàn nhà, dường như chìm đắm trong suy tư.
‘Hơn nữa,’ vị công tước nói thêm sau một khoảng lặng ngắn, và suy luận từ sự im lặng của con trai rằng ông đang tạo được sức ảnh hưởng, ‘giả sử ba năm nữa Hungerford không còn giữ tâm trạng như bây giờ thì sao. Có thể ông ấy vẫn vậy; cũng có thể không. Đàn ông không thích bị nẫng tay trên khi họ nghĩ mình đang làm một việc rất tử tế, hào hiệp và cao thượng. Hungerford không phải là một kẻ lót đường tạm thời; chúng ta phải nhớ điều đó; ban đầu ông ấy vốn dĩ không phải, và dù có thế đi chăng nữa, ông ấy cũng đã làm nghị sĩ đại diện cho hạt này quá lâu để có thể bị coi là như vậy. Cha sẽ đặt vào một hoàn cảnh vô cùng khó khăn nếu ba năm nữa, cha phải rút lại sự ủng hộ dành cho Hungerford để bảo đảm cho sự đắc cử của con.’
‘Dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, sẽ không có sự cần thiết phải làm thế đâu, thưa cha kính yêu,’ Lãnh chúa Montacute nói, ngẩng đầu lên và cất giọng—dù hơi trầm nhưng lại là thứ âm thanh lập tức thu hút sự chú ý; một giọng nói phát ra từ cả khối óc lẫn con tim, dường như sinh ra để truyền tải cả tư duy uyên bác lẫn cảm xúc sâu sắc. Không có thước đo nào đánh giá tính cách chính xác bằng giọng điệu. Có những âm sắc rực rỡ và tuôn trào, mang lại sự nhạy cảm nhanh nhạy và đầy cảm động; lại có những âm sắc trầm nhưng điềm tĩnh, tựa như những thông dịch viên chân chính của một trí tuệ thanh thản và siêu việt. Nhưng hiếm hoi và quý giá nhất trong mọi giọng nói là thứ kết hợp được giữa niềm đam mê và sự điềm tĩnh; và những âm điệu phong phú nhưng được kìm nén ấy đôi khi tạo ra trên cơ thể con người một bùa chú mạnh mẽ hơn cả sức hút của ánh nhìn, hay thứ sức mạnh mê hoặc từ bàn tay vốn là đặc quyền của các Chủng tộc Thượng đẳng ở Châu Á.
‘Dưới bất kỳ hoàn cảnh nào, sẽ không có sự cần thiết phải làm thế đâu, thưa cha kính yêu,’ Lãnh chúa Montacute nói, ‘bởi vì, xin phép được nói thật, con tin rằng ba năm nữa con cũng sẽ ít có hứng thú bước vào Nghị viện như bây giờ mà thôi.’
Vị công tước càng thêm ngạc nhiên. ‘Ông Fox chưa đủ tuổi khi nhận ghế nghị sĩ của mình,’ vị công tước nói. ‘Con biết ông Pitt bao nhiêu tuổi khi làm bộ trưởng rồi đấy. Cả Sir Robert nữa, cũng vào đời sớm lắm. Cha vẫn luôn nghe những bậc hiền triết nói—chẳng hạn như Lãnh chúa Eskdale—rằng một người có thể phát biểu trong Nghị viện quá sớm, nhưng không thể bước vào đó quá sớm được.’
‘Nếu người ta muốn thành công ở nghị trường đó,’ Lãnh chúa Montacute đáp, ‘con hoàn toàn có thể tin là như vậy. Trong mọi việc, việc gia nhập sớm ắt hẳn đem lại lợi thế. Nhưng con không có mong muốn đó.’
‘Cha không thích thấy một người nhận ghế tại Viện Quý tộc mà chưa từng qua Viện Thứ dân. Cậu ta trông lúc nào cũng có vẻ như chưa đủ lông đủ cánh.’
‘Con hy vọng sẽ còn lâu lắm nữa, thưa cha kính yêu, con mới nhận chiếc ghế tại Viện Quý tộc,’ Lãnh chúa Montacute nói, ‘nếu như quả thực có ngày đó.’
‘Theo lẽ tự nhiên thì đó là điều chắc chắn.’
‘Giả sử kế hoạch duy trì chế độ quý tộc của Đức vua không thành công,’ Lãnh chúa Montacute nói, ‘và dòng họ chúng ta lụi tàn thì sao?’
Cha cậu nhún vai. ‘Việc của chúng ta không phải là giả định điều đó. Cha hy vọng đó sẽ không bao giờ là việc của bất kỳ ai, ít nhất là theo nghĩa vụ nghiêm túc. Đây là một đất nước vĩ đại, và nó trở nên vĩ đại nhờ vào tầng lớp quý tộc.’
‘Vậy cha nghĩ các vị quân vương của chúng ta chẳng làm gì cho sự vĩ đại ấy sao—Nữ hoàng Elizabeth chẳng hạn, người có chuyến viếng thăm Montacute mà cha đang lấy làm hãnh diện?’
‘Họ đã hoàn thành vai trò của mình.’
‘Và đã diệt vong. Chúng ta có thể đã hoàn thành vai trò của mình, và cũng có thể gặp chung số phận ấy.’
‘Chao ôi, con đang nói chuyện theo lối tự do chủ nghĩa đấy phỏng!’
‘Đâu đến nỗi thế, thưa cha, vì con có bày tỏ quan điểm nào đâu.’
‘Cha ước gì mình biết được quan điểm của con, con trai yêu quý ạ, hay thậm chí là những mong muốn của con.’
‘Vâng, vậy thì, là để làm tròn bổn phận.’
‘Chính xác; con là một trụ cột của Quốc gia; hãy bảo vệ Quốc gia.’
‘A! Ước gì có ai đó nói cho con hay Quốc gia thực chất là gì,’ Lãnh chúa Montacute thở dài nói. ‘Xem chừng các trụ cột của cha vẫn còn đó, nhưng chúng chẳng nâng đỡ cái gì cả; trong trường hợp đó, dẫu các thân cột có đứng thẳng, và các đầu cột có chạm trổ lộng lẫy đi chăng nữa, thì chúng cũng chẳng còn là chỗ dựa nữa, mà chỉ là một đống đổ nát.’
‘Vậy là con muốn trao chúng ta vào tay đám dân chúng đóng thuế mười bảng ư?’
‘Họ thậm chí còn chẳng màng nhận mình là một Quốc gia,’ Lãnh chúa Montacute nói; ‘họ thậm chí không dám nhận là mình đang chống đỡ bất cứ thứ gì; ngược lại, bản chất triết lý của họ là chẳng có gì cần phải thiết lập cả, và mọi thứ cứ để mặc tự nhiên.’
‘Lẽ thông tuệ của đất nước này cùng điều khoản năm mươi bảng sẽ giúp chúng ta vượt qua,’ vị công tước nói.
‘Vượt qua cái gì ạ?’ con trai ông hỏi.
‘Cái này—giai đoạn chuyển giao này,’ cha ông đáp.
‘Quá độ để đi đến đâu?’
‘À! Đó là câu hỏi mà những kẻ khôn ngoan nhất cũng không thể trả lời.’
‘Nhưng những kẻ yếu thế, trong đó con tự xếp mình vào, chắc chắn có quyền được tìm hiểu chứ.’
‘Hiển nhiên là thế; và cha không biết điều gì có thể giúp con trong những cuộc nghiên cứu ấy tốt hơn việc hành động cùng những con người thực tế.’
‘Và thực hành tất cả những sai lầm của họ,’ Lãnh chúa Montacute nói. ‘Con có thể hình dung một cá nhân từng bị sa bẫy vào những đường lối ngẫu hứng của họ, tiếp tục chìm đắm trong mớ hỗn độn chết người ấy mà cậu ta đã góp phần tạo nên; nhưng ít ra con vẫn được tự do, và con muốn tiếp tục được tự do.’
‘Rồi chẳng làm gì cả ư?’
‘Nhưng liệu có phải cứ từ chối chiến đấu trong bóng tối thì một kẻ lại trở nên yếu đuối trong hành động hay không?’
‘Vậy con sẽ hành động thế nào? Kế hoạch của con là gì? Con có kế hoạch nào không?’
‘Con có.’
‘Chà, thế thì thật đáng mừng,’ vị công tước phấn khởi nói. ‘Dù chúng là gì đi nữa, con biết rằng con có thể tin tưởng vào việc cha sẽ làm mọi thứ có thể để thúc đẩy mong muốn của con. Cha biết chúng không thể là những điều thấp h kém, bởi vì cha tin, con trai ạ, con không hề có lấy một suy nghĩ nào là không tốt đẹp hay vĩ đại.’
‘Con ước gì mình biết được thế nào là tốt và vĩ đại,’ Lãnh chúa Montacute nói; ‘con sẽ đấu tranh để đạt được điều đó.’
‘Nhưng con đã hình thành một vài quan điểm chứ; con có vài kế hoạch chứ. Hãy nói cho cha nghe về chúng, đừng ngại ngùng gì cả; hãy xem cha như một người bạn, người thân cận nhất và tận tụy nhất.’
‘Thưa cha,’ Lãnh chúa Montacute nói, vừa chuyển động kéo một chiếc ghế ra bàn và ngồi xuống cạnh vị công tước, ‘cha có và có quyền nhận được sự tin tưởng của con. Lẽ ra con không nên nói rằng mình hoang mang về điều thiện; bởi vì con hiểu cha.’
‘Những đứa con như con mới là người sinh ra những người cha tốt.’
‘Không phải lúc nào cũng vậy đâu,’ Lãnh chúa Montacute nói; ‘cha đối với con còn hơn cả một người cha, và con dành cho cha cùng mẹ một tình cảm sâu sắc và nhiệt thành; một tình cảm,’ cậu nói thêm với giọng run run, ‘mà con tin là hiếm có hơn trong thời đại này so với những ngày xưa cũ. Con cảm nhận điều đó sâu sắc hơn vào lúc này,’ cậu tiếp tục bằng một giọng vững vàng hơn, ‘bởi vì con chuẩn bị đề nghị rằng chúng ta nên tạm thời xa cách.’
Vị công tước tái mặt, chồm người về phía trước ghế nhưng không nói gì.
‘Hôm nay cha đã đề nghị con,’ Lãnh chúa Montacute tiếp tục sau một thoáng ngừng lời, ‘bước vào đời sống chính trị. Con không né tránh những nghĩa vụ của nó. Ngược lại, từ vị thế con sinh ra, và hơn thế nữa là từ thôi thúc trong bản năng, con khao khát được thực hiện chúng. Con đã suy ngẫm về chúng, thậm chí có thể nói là trong nhiều năm trời. Nhưng con không thể tìm thấy lý do gì để coi việc duy trì trật tự hiện tại—vì con sẽ không gọi nó là hệ thống—đang ngự trị ở đất nước chúng ta là một phần bổn phận của mình. Con thấy rằng nó không thể kéo dài, cũng như không có gì có thể tồn tại, hoặc đáng được tồn tại, nếu không được xây dựng trên nền tảng của niềm tin; và nền tảng ấy con vẫn chưa tìm ra. Trong bất cứ thứ gì, dù là tôn giáo, chính phủ, hay phong hóa, trong đời sống thiêng liêng, chính trị hay xã hội, con đều không tìm thấy đức tin; và nếu không có đức tin, làm sao có thể có bổn phận? Liệu có thứ gọi là chân lý tôn giáo hay không? Liệu có thứ gọi là công lý chính trị hay không? Liệu có thứ gọi là sự chuẩn mực xã hội hay không? Chúng là những sự thật, hay chỉ là những lời rỗng tuếch? Và nếu chúng là sự thật, liệu chúng có thể được tìm thấy ở đâu tại nước Anh? Phải chăng chân lý nằm trong Giáo hội của chúng ta? Thế tại sao cha lại ủng hộ phe bất tuân tôn giáo? Ai có quyền cai trị? Quân vương ư? Cha đã tước đi đặc quyền của ngài ấy rồi. Tầng lớp quý tộc ư? Cha thú nhận với con rằng chúng ta tồn tại chỉ vì người ta còn dung thứ. Người dân ư? Chính họ nói với con rằng họ chỉ là những con số không. Mỗi kỳ họp của cái Nghị viện mà cha muốn đưa con vào, phương thức phân bổ quyền lực lại bị đem ra chất vấn, bị thay đổi, bị chắp vá, và rồi lại bị thách thức. Còn về đạo đức của chúng ta, xin hãy nói cho con hay, liệu lòng bác ái là đức hạnh tối cao, hay là sai lầm lớn nhất? Hệ thống xã hội của chúng ta đáng lẽ phải phụ thuộc vào một nhận thức rõ ràng về điểm này. Đạo đức của chúng ta khác nhau ở những hạt khác nhau, những thị trấn khác nhau, những con đường khác nhau, thậm chí trong cả những Đạo luật Nghị viện khác nhau. Điều gì là đạo đức ở London thì lại là vô đạo đức ở Montacute; điều gì là tội ác trong quần chúng thì lại chỉ là thói hư tật xấu trong giới thượng lưu.’
‘Con đang đi sâu vào những nguyên lý cơ bản rồi đấy,’ vị công tước nói, vô cùng ngạc nhiên.
‘Vậy xin cha hãy cho con những nguyên lý thứ cấp,’ con trai ông đáp; ‘cho con cái nào cũng được.’
‘Chúng ta phải có một cái nhìn tổng quan về vạn vật để đưa ra một nhận định,’ cha ông ôn tồn nói. ‘Tình trạng chung của nước Anh ưu việt hơn bất kỳ quốc gia nào khác; không thể phủ nhận rằng, nhìn chung, chúng ta có nhiều tự do chính trị hơn, nhiều hạnh phúc xã hội hơn, tôn giáo chân chính hơn, và sự thịnh vượng vật chất hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.’
‘Con có thể hoài nghi tất cả những điều đó,’ con trai ông nói; ‘nhưng đó là những cân nhắc không ảnh hưởng đến quan điểm của con. Nếu các quốc gia khác tồi tệ hơn chúng ta, và con hy vọng là họ không tệ như vậy, thì tình trạng của chúng ta cũng chẳng vì thế mà khá lên, trái lại còn tệ hơn, bởi vì khi ấy chúng ta lại cần đến sự khích lệ lành mạnh từ các tấm gương.’
‘Không còn nghi ngờ gì nữa,’ vị công tước nói, ‘rằng tình trạng của nước Anh vào lúc này là thịnh vượng nhất từ trước tới nay, chí ít là trong thời cận đại. Nhờ có những con đường sắt này, ngay cả tình trạng của người nghèo—mà cha thừa nhận là trước đây có nhiều điểm chưa thỏa đáng—cũng đã được cải thiện vô cùng. Mọi người đều có việc làm nếu họ cần, và tiền lương thậm chí còn cao nữa.’
‘Đường sắt có lẽ đã cải thiện, theo một nghĩa nào đó, điều kiện của tầng lớp lao động gần như tương đương với các thành viên Nghị viện. Chúng là một điều tốt cho cả hai bên. Và nếu cha nghĩ rằng thêm việc làm là tất cả những gì người dân nước Anh cần, thì chúng ta có thể yên tâm trong một thời gian. Con chẳng thấy gì trong sự phát triển mới mẻ của nền công nghiệp vật chất này ngoài những nguyên nhân mới dẫn đến sự suy đồi đạo đức. Cha đã thông báo cho hàng triệu người rằng phúc lợi của họ sẽ được đo lường bằng số tiền lương họ nhận được. Tiền bạc sẽ là cái vạc thử vàng cho giá trị của họ, cũng như đối với mọi tầng lớp khác. Cha đưa ra cho hạnh phúc của họ những động lực kém cao thượng nhất. Nếu cha đã thấy một tầng lớp quý tộc không thể tránh khỏi sự suy đồi dưới sức ảnh hưởng đó; nếu tất cả các thói hư tật xấu của tầng lớp trung lưu đều bắt nguồn từ một động cơ say đắm như vậy; thì tại sao chúng ta lại tin rằng dân chúng sẽ trong sạch hơn, hay họ sẽ thoát khỏi thảm họa của một chính sách đồng hóa hạnh phúc với sự giàu có của các quốc gia?’
Vị công tước lắc đầu rồi nói: ‘Con không nên quên rằng chúng ta đang sống trong một trạng thái nhân tạo.’
‘Con vẫn thường nghe thế, thưa cha,’ con trai ông đáp; ‘nhưng nghệ thuật nằm ở đâu? Đối với con, đó chính là phẩm chất còn thiếu trong tình trạng hiện tại của chúng ta. Nghệ thuật chính là trật tự, phương pháp, là những kết quả hài hòa đạt được bởi các nguyên lý tinh tế và mạnh mẽ. Con chẳng thấy chút nghệ thuật nào trong hoàn cảnh của chúng ta cả. Người dân nước Anh đã không còn là một quốc gia nữa. Họ chỉ là một đám đông, và chỉ được duy trì trong một kỷ luật thô thiển tạm bợ nhờ tàn dư của hệ thống cũ mà họ đang ngày ngày phá hủy.’
‘Nhưng con muốn làm gì đây, con trai yêu quý của cha?’ vị công tước nói, ngẩng lên với vẻ vô cùng đau khổ. ‘Con có thể cứu vãn tình trạng mà chúng ta đang mắc kẹt không?’
‘Con không phải là một nhà giáo,’ Lãnh chúa Montacute u sầu đáp; ‘Con chỉ xin cha, con khẩn khoản xin cha, thưa cha kính yêu, hãy cứu con khỏi việc góp phần vào sự ô trọc nhanh chóng đang vây quanh chúng ta này.’
‘Con sẽ là chủ nhân của những hành động của mình. Cha đưa ra lời khuyên, cha không ra lệnh; còn những chuyện khác, Thượng đế sẽ che chở chúng ta.’
‘Ước gì một vị thiên sứ ghé thăm nhà chúng ta như từng ghé thăm nhà của Lot!’ Montacute nói với giọng gần như đau đớn.
‘Các thiên sứ đã hoàn thành vai trò của mình,’ vị công tước nói. ‘Chúng ta đã nhận được những lời răn dạy từ Đấng cao cả hơn cả các thiên sứ. Thế là quá đủ cho tất cả chúng ta rồi.’
‘Đối với con thì chưa đủ,’ Lãnh chúa Montacute nói với gương mặt bừng sáng, rồi đột ngột đứng dậy. ‘Nó vẫn chưa đủ đối với các Tông đồ; bởi vì dẫu họ đã lắng nghe bài giảng trên núi và tham dự bữa tiệc thánh đầu tiên, thì Ngài vẫn cần phải hiện ra với họ một lần nữa và hứa ban cho họ một Đấng An Ủi. Con đang cần đến một đấng như thế,’ cậu nói thêm sau một khoảng lặng ngắn, nhưng bằng một giọng đầy xúc động. ‘Con phải đi tìm Ngài. Vâng! Thưa cha kính yêu, đây chính là điều con muốn thưa với cha; chính điều này đã đè nặng lên tâm can con bấy lâu nay, và thường xuyên lấp đầy con bằng nỗi u buồn khôn tả. Chúng ta phải chia tay. Con phải rời xa cha, con phải rời xa người mẹ kính yêu ấy, những đấng sinh thành yêu dấu—nơi quy tụ mọi tình cảm trần thế của con; nhưng con đang tuân theo một thôi thúc mà con tin là đến từ cõi trên. Người cha tuyệt vời và đáng kính nhất của con, cha sẽ không cản trở con chứ? Cha sẽ tha thứ, cha sẽ giúp đỡ con chứ!’ Và cậu bước đến, ngả mình vào vòng tay của cha.
Vị công tước siết chặt Lãnh chúa Montacute vào lồng ngực, và dẫu bản thân đang vô cùng xúc động và đau khổ, ông vẫn cố gắng thấu hiểu bí ẩn đằng sau sự bộc phát này. ‘Nó bảo chúng ta phải chia tay,’ vị công tước tự nhủ. ‘À! Nó ở nhà quá nhiều, thui thủi một mình quá nhiều; nó đọc sách và suy ngẫm quá nhiều; nó đâm ra u uất. Hai năm trước Eskdale đã nói đúng. Ước gì hồi đó cha gửi nó sang Paris, nhưng mẹ nó cứ lo hoảng lên; và quả thực, đó là một sinh mệnh quý giá biết bao! Viện Thứ dân sẽ vừa khéo với nó. Nó sẽ làm việc trong các ủy ban và trở nên thực tế hơn. Nhưng phải làm gì đó cho nó chứ, đứa con yêu quý của cha! Nó bảo chúng ta phải chia tay; nó muốn đi du lịch. Và có lẽ nó nên đi du lịch. Nhưng một cuộc đời mà biết bao nhiêu thứ đang dồn cả vào đó! Rồi Katherine sẽ nói gì đây? Chuyện này sẽ giết chết bà ấy mất. Cha có thể tự gượng lại được. Cha sẽ cử người đi theo chăm sóc nó thật chu đáo. Brace nên đi cùng nó; ông ấy hiểu rõ lục địa châu Âu; ông ấy từng tham gia chiến tranh Bán đảo; và nó phải có một vị bác sĩ giỏi giang đi theo. Cha hiểu rồi; ta phải hành động quả quyết và nhẹ nhàng hé lộ chuyện này với mẹ nó.’
Những ý nghĩ đó lướt qua tâm trí vị công tước trong vài giây ông ôm con trai vào lòng, đồng thời cố gắng truyền tải sự an ủi qua biểu cảm yêu thương và nỗi lo lắng khôn nguôi cho hạnh phúc của con mình.
‘Con trai yêu quý của cha,’ vị công tước nói khi Lãnh chúa Montacute đã trở về chỗ ngồi, ‘cha hiểu rồi; con muốn đi du lịch phải không?’
Lãnh chúa Montacute cúi đầu như ngầm đồng ý.
‘Đó sẽ là một cú sốc khủng khiếp đối với mẹ con; cha chưa nói đến bản thân mình. Con biết cha cảm nhận thế nào về con mà. Nhưng cả mẹ con lẫn cha đều không có quyền đặt cảm xúc của mình lên trên bất kỳ sự sắp xếp nào vì phúc lợi của con. Làm vậy sẽ là ích kỷ và vô lý tột cùng; và có lẽ con nên đi du lịch một thời gian; còn về chuyện Nghị viện, sáng nay cha có hẹn gặp Hungerford ở Bellamont. Cha sẽ cố bàn với ông ấy để hoãn việc từ chức lại đến mùa thu, hoặc nếu có thể, kéo dài thêm một chút nữa. Khi ấy con sẽ hoàn thành xong mục đích của mình. Chuyến đi sẽ mang lại cho con rất nhiều điều bổ ích. Con sẽ được nhìn ngắm thế giới, và con có thể nhận ghế vào năm sau.’
Vị công tước dừng lời. Lãnh chúa Montacute trông có vẻ bối rối và ưu tư; cậu có vẻ định đáp lời, nhưng rồi lại tì người lên bàn, giấu kín khuôn mặt khỏi tầm mắt cha và giữ im lặng. Vị công tước đứng dậy, nhìn đồng hồ, nói rằng ông phải có mặt ở Bellamont trước hai giờ, hy vọng Brace sẽ đến dùng bữa tối tại lâu đài hôm nay, nghĩ rằng chuyện Brace đến hoàn toàn có thể xảy ra, sẽ sai người qua Montacute đón ông ấy, và có lẽ sẽ gặp ông ấy ở Bellamont. Brace hiểu rõ về lục địa châu Âu, nói được vài thứ tiếng, trong đó có tiếng Tây Ban Nha, mặc dù con trai ông chắc sẽ chẳng cần dùng đến thứ tiếng đó, bởi tình hình hiện tại của Tây Ban Nha không mấy hấp dẫn đối với du khách.
‘Còn về nước Pháp,’ vị công tước nói, ‘nước Pháp chính là Paris, và cha đoán đó sẽ là điểm dừng chân đầu tiên của con; thường thì là thế. Chúng ta phải xem thử người anh họ Henry Howard của con có ở đó không. Nếu có, nó sẽ lo cho con chu toàn mọi thứ. Nhờ đại sứ quán và Brace, con sẽ xoay sở rất ổn ở Paris. Sau đó, cha đoán là con sẽ muốn tới Ý; cha e rằng đó mới là trọng tâm của con. Mẹ con sẽ không thích con đến Rome đâu. Dẫu vậy, người ta vẫn bảo một người nên ngắm nghía Rome trước khi nhắm mắt xuôi tay. Cha chưa từng làm thế. Cha chưa từng vượt biển đi đâu trừ sang Ireland. Ông nội con chẳng bao giờ cho phép cha đi du lịch cả; cha rất muốn đi, nhưng ông nhất quyết không chịu. Tuy nhiên, không phải vì những lý do đã giữ chân con ở lại nhà đâu. Giả sử con trải qua mùa đông ở Rome—điều mà cha tin là việc nên làm—chà, con hoàn toàn có thể quay về vào mùa xuân. Dù sao đi nữa, chúng ta phải khéo léo dỗ dành mẹ con một chút về việc ở lại qua mùa đông, và nghĩ lại thì, chúng ta sẽ bảo Bernard đi cùng con, bên cạnh Brace và một vị bác sĩ, như thế mẹ con sẽ yên tâm hơn nhiều. Cha nghĩ rằng với sự góp mặt của Brace, Bernard, và một y bác sĩ mà chúng ta thực sự tin tưởng, cùng với Harry Howard ở Paris và những bức thư tín giới thiệu tốt nhất cho mọi nơi khác mà chúng ta sẽ tham khảo ý kiến của Lãnh chúa Eskdale, thì nguy hiểm hẳn sẽ không quá mức trầm trọng đâu.’
‘Con không có mong muốn tới Paris,’ Lãnh chúa Montacute nói, rõ ràng là đang rất lúng túng và phải cố gắng rất nhiều để trút bỏ gánh nặng trong lòng. ‘Con không có mong muốn tới Paris.’
‘Cha rất vui khi nghe con nói vậy,’ cha cậu sốt sắng đáp.
‘Con cũng chẳng muốn đến Rome đâu,’ con trai ông nói thêm.
‘Chà, chà, con vừa trút được một gánh nặng khỏi tâm trí cha rồi đấy, con trai yêu quý ạ. Cha đã không dám thú nhận điều đó, bởi vì cha muốn tránh cho con đau đớn; nhưng thực sự, cha tin rằng ý định con đến Rome sẽ là một cú sốc lớn đối với mẹ con. Không hẳn vì khoảng cách, dẫu nó rất xa, hay khí hậu vốn tiềm ẩn nhiều hiểm họa, mà con hiểu đấy, với những quan điểm đặc biệt của bà ấy, sự nghiêm ngặt đến mức……’ Vị công tước không buồn nói hết câu.
‘Cũng không phải, thưa cha kính yêu,’ Lãnh chúa Montacute tiếp tục, ‘dù con không muốn cắt lời khi cha đang nói với tất cả sự ân cần và chu đáo dành cho con, nhưng điều con cảm thấy cần thiết không hẳn là những chuyến du lịch theo nghĩa thông thường của từ này. Con thực sự muốn rời khỏi nước Anh; con muốn thực hiện một cuộc viễn chinh; một cuộc hành trình hướng đến một đích đến cụ thể; không lang thang, không dừng chân ở đâu dọc đường. Nói một cách ngắn gọn, chính Đất Thánh mới là nơi chiếm trọn tâm trí con, và con đề xuất được thực hiện một cuộc hành hương đến ngôi mộ của Đấng Cứu Thế.’
Vị công tước giật mình, ngã người quỵ xuống ghế. ‘Đất Thánh! Ngôi Mộ Thánh!’ ông thốt lên, rồi tự lặp lại, sững sờ nhìn con trai.
‘Vâng, thưa cha, chính là Ngôi Mộ Thánh,’ Lãnh chúa Montacute lặp lại, lúc này giọng nói đã lấy lại vẻ điềm tĩnh quen thuộc. ‘Khi con nhớ lại rằng Đấng Tạo Hóa, kể từ khi ánh sáng bừng lên từ bóng tối, chỉ đoái hoài mặc khải chính Ngài trước các thụ tạo của Ngài tại duy nhất một vùng đất, rằng tại vùng đất ấy Ngài đã mang hình hài phàm trần và nếm trải cái chết của con người, con cảm thấy tin chắc rằng xứ sở được ban phước bởi sự tương giao và những sự kiện ấy ắt phải được phú báu cho những phẩm chất kỳ diệu và đặc biệt—mà con người có lẽ không phải thời đại nào cũng đủ khả năng thấu suốt, nhưng dẫu vậy, vào mọi thời điểm, chúng vẫn tác động một cách không thể cưỡng lại lên vận mệnh của con người. Chính những phẩm chất ấy đã nhiều lần lôi kéo châu Âu đến với châu Á trong suốt những thế kỷ trung cổ. Lâu đài của chúng ta trước đây cũng từng tiễn đưa một De Montacute đến Palestine. Suốt ba ngày ba đêm, vị ấy đã quỳ gối bên lăng mộ của Đấng Cứu Chuộc mình. Hơn sáu thế kỷ đã trôi qua kể từ cuộc đại viễn chinh vĩ đại ấy. Đã đến lúc khôi phục và làm mới lại mối liên hệ của chúng ta với Đấng Tối Cao. Con cũng vậy, con muốn quỳ gối trước ngôi mộ ấy; con cũng vậy, được bao bọc bởi những ngọn đồi linh thiêng và khu rừng thánh của Jerusalem, con muốn giải thoát tâm hồn mình khỏi nỗi thống khổ đang đè nặng nó; con muốn cất cao tiếng gọi hướng lên thiên đàng, và hỏi rằng, Đâu là bổn phận, và đâu là đức tin? Con phải làm gì, và con phải tin vào điều gì?’
Công tước xứ Bellamont đứng dậy khỏi ghế, đi lại trong phòng suốt mấy phút liền trong sự im lặng và trầm ngâm sâu sắc. Cuối cùng, dừng bước và tì người vào chiếc tủ hồ sơ, ông cất lời: ‘Những gì diễn ra giữa cha con ta hôm nay, con yêu quý của cha ạ, có lẽ con dễ dàng hiểu được, vừa lạ lùng vừa khiến cha chấn động. Cha sẽ suy ngẫm về mọi điều con đã nói; cha sẽ cố gắng thấu hiểu tất cả những gì con nghĩa và mong muốn. Cha sẽ gắng làm những gì tốt nhất và khôn ngoan nhất; đặt hạnh phúc của con lên trên mọi thứ, chứ không phải hạnh phúc của chính chúng ta. Lúc này cha chưa đủ tĩnh tâm cho việc đó: cha cần sự yên lặng và ở một mình. Cha biết mẹ con muốn cùng con đi dạo sáng nay. Bà ấy có thể sẽ nói với con nhiều điều. Hãy giữ kín về vấn đề này, cho đến khi cha trao đổi lại với bà ấy. Hiện tại cha sẽ cưỡi ngựa sang Bellamont. Cha phải đi; hơn nữa, việc đó sẽ làm cha thấy khá hơn. Cha chẳng bao giờ suy nghĩ thấu đáo được nếu không ngồi trên lưng ngựa. Nếu Brace đến, hãy bảo ông ấy ăn tối ở đây. Chúa phù hộ cho con.’
Vị công tước rời khỏi phòng; con trai ông ở lại trong nỗi trầm tư. Bước đầu tiên đã được thực hiện. Cậu đã dồn kết quả của ba năm suy ngẫm cô độc vào cuộc trò chuyện vỏn vẹn một tiếng đồng hồ. Một âm thanh kéo cậu bừng tỉnh; đó là mẹ cậu. Bà chỉ vô tình hay tin vị công tước đã đi; bà ngạc nhiên vì ông không vào phòng bà trước khi đi; dường như đây là lần đầu tiên kể từ khi kết hôn, vị công tước lại ra ngoài mà không thèm ghé qua nói chuyện với bà trước. Thế là bà đi tìm con trai, để chúc mừng cậu vì đã trở thành nghị sĩ Quốc hội, vì đã đại diện cho hạt mà họ vô cùng yêu quý, và để hé lộ với cậu một đề nghị mà bà không mờ nhạt hoài nghi rằng cậu sẽ thấy vô cùng thú vị và tuyệt vời. Thật là một người mẹ hạnh phúc, bên cạnh đứa con trai độc nhất mà bà hết mực cưng chiều và vô cùng tự hào, sắp sửa bước vào đời sống chính trị—nơi cậu chắc chắn sẽ tạo dựng tên tuổi—và sắp kết hôn với một người phụ nữ chắc chắn sẽ mang lại hạnh phúc cho cậu! Với trái tim rộn ràng nhảy múa, nữ công tước đẩy cánh cửa thư phòng, nơi bà được thông báo sẽ tìm thấy Lãnh chúa Montacute. Bà đang đội chiếc mũ bonnet, sẵn sàng cho buổi dạo chơi đầy tâm sự, và với khuôn mặt ửng hồng vì vui sướng, trông bà thậm chí còn vô cùng xinh đẹp. ‘A!’ bà thốt lên, ‘Mẹ vẫn đang tìm con mãi, Tancred!’
