Một nhà thơ hát rong hiện đại
Họ ngồi quanh một chiếc bàn tròn, nơi mọi thứ dường như đều rực rỡ và lấp lánh; không có gì nặng nề hay ngột ngạt. Sidonia ghét nhất là một chiếc bàn nhỏ, đúng như người ta thường gọi, oằn mình dưới sức nặng của đồ bạc. Anh né tránh những khối vàng khối bạc khổng lồ, những nhóm tượng quái gở, những chiếc khiên đồ sộ, và một rừng những vại bình tăm tắp; anh không bao giờ dùng đến chúng trừ những dịp trọng đại, khi bữa tiệc mang hơi hướng Ai Cập và trở nên quá bề thế để có thể coi là tinh tế. Hôm nay, bữa tiệc được dọn trên bộ đồ ăn bằng sứ Sèvres mang sắc hồng Rose du Barri, đặt trên những chiếc giá vàng thanh thoát chạm trổ hoa văn Ả Rập; một chú lừa mang những giỏ muối, một nàng tiên cá dâng muối trên chiếc vỏ sò vừa vặn vớt từ đại dương, hoặc bạn tìm thấy muối trong một chiếc tổ chim; mỗi vị khách dùng một kiểu hoa văn khác nhau. Ở giữa bàn, được đặt trên một chiếc bệ, là một nhóm tượng những tiểu đồng bằng sứ Dresden. Không gì vui tươi hơn những chiếc áo choàng sáng rực và chùm lông vũ bồng bềnh của họ, không gì tinh xảo công phu hơn những chiếc áo viền ren và hoa nơ, hay tinh quái và ngổ ngáo hơn những gương mặt điệu đà xinh xắn của họ khi mỗi tiểu đồng, với cánh tay vươn ra, đang giơ ngọn đèn về phía một vị khách. Căn phòng được thắp sáng từ các bức tường xung quanh.
Các vị khách vừa mới ngồi xuống thì hai vị khách đến muộn mới bước vào.
– Chà, các anh đã không tiến hành bỏ phiếu phân định, Vavasour ạ, – Lord Henry nói.
– Tôi á? – Vavasour đáp. – Suýt nữa thì tôi đã đánh bại được Chính phủ đấy. Cậu đúng là một tay cừ thật!
– Tôi đã ghép cặp bỏ phiếu rồi.
– Với một kẻ chuồn mất. Còn anh trai cậu, thưa phu nhân Coningsby, đã cư xử như một đấng nam nhi, hy sinh bữa tối của mình và có một bài phát biểu tuyệt vời.
– Ồ! Oswald đã phát biểu sao? Thế còn anh, Harry?
– Không; anh chỉ bỏ phiếu thôi. Đã có quá nhiều bài phát biểu rồi; nếu Vavasour không lên tiếng đáp lại, tôi tin là chúng ta đã thắng.
– Nhưng này bạn hiền, hãy nghĩ đến những luận điểm của tôi chứ; hãy nghĩ xem họ đã để hở sườn thế nào!
– Đa số phiếu bao giờ cũng là câu trả lời sắc sảo nhất, – Coningsby nói.
– Tôi vừa trò chuyện với Montacute, – Lord Henry thì thầm với Coningsby, người ngồi ngay cạnh anh. – Một anh chàng tuyệt vời! Cậu không thể tưởng tượng được điều gì thú vị hơn thế đâu! Rất hoang dã, nhưng hoàn toàn có những tư tưởng đúng đắn, dĩ nhiên là có phần phóng đại. Cậu phải túm lấy anh ta sau bữa tối nay mới được.
– Nhưng người ta bảo anh ấy sắp đi Jerusalem cơ mà.
– Rồi anh ấy sẽ quay về.
– Tôi không chắc; ngay cả Napoleon cũng từng hối tiếc vì đã vượt Địa Trung Hải quay lại phương Tây. Phương Đông là một sự nghiệp.
Ông Vavasour là một nhân vật được xã hội yêu mến; một nhà thơ – một nhà thơ thực thụ – kiêm một nghệ sĩ hát rong, đồng thời là một nghị sĩ Quốc hội; đã đi đây đi đó, tính tình ngọt ngào, tốt bụng, thú vị và thông minh. Với sự đồng cảm rộng mở và tư duy chiết trung, ông Vavasour nhìn thấy điểm tốt ở mọi người và mọi sự việc, điều này quả thực rất đáng mến, và có lẽ cũng công bằng, nhưng lại phần nào làm giảm đi khả năng xoay sở trong thương trường cuộc sống vốn đòi hỏi một mức độ định kiến nhất định. Những bữa điểm tâm của ông Vavasour rất nổi tiếng. Bất kể tín ngưỡng, giai cấp, hay quốc gia của bạn là gì, người ta suýt có thể nói thêm rằng cả tính cách của bạn nữa, bạn vẫn luôn là một vị khách được chào đón tại bữa ăn buổi sáng của ông, miễn là bạn nổi tiếng. Tuy nhiên, tiêu chuẩn đó được tuân thủ vô cùng nghiêm ngặt.
Không hiếm khi những con người có tính cách xung khắc nhất lại được xếp ngồi cùng nhau. Những cá nhân chưa từng gặp mặt bao giờ lại tề tựu tại ngôi nhà hiếu khách của ông, dù họ đã nuôi dưỡng trong cô độc niềm căm ghét lẫn nhau suốt nhiều năm trời, với tất cả sự phóng đại đầy cáu kỉnh của giới văn nghệ sĩ. Vavasour thích làm chủ tiệc của một nhóm những kẻ thù không đội trời chung. Ông tự hào đóng vai trò là chất keo kết nối xã hội, để những tên tuổi đang kình địch nhau có dịp làm quen, và để rồi trước mặt ông, họ dành cho nhau những lời ca tụng che đậy sự ghê tởm khôn tả trong lòng. Tất cả những điều đó rất ổn tại căn hộ của ông ở Albany, và chỉ mang tính chất hài hước; nhưng khi ông tập trung những đoàn thú lạ ấy tại dinh cơ tổ tiên ở một quận xa xôi, thì trò vui đôi khi lại biến thành bi kịch.
Là một triết gia thực thụ, nhờ bản tính hòa nhã cùng kho tàng tri thức phong phú và đa dạng, Vavasour di chuyển giữa chốn tranh đấu, bày tỏ sự cảm thông với tất cả mọi người; và có lẽ, suy cho cùng, lòng nhân ái mà ông luôn tự hào cũng không hẳn là thiếu đi một chút hóm hỉnh – một phẩm chất hiếm có và quyến rũ mà ông sở hữu không hề ít chút nào. Vavasour thích làm quen với mọi nhân vật nổi tiếng, và muốn mục sở thị mọi thứ đáng xem. Ông cũng cho rằng bất kỳ ai nổi tiếng đều nên biết đến mình; và khung cảnh ấy, dù có lộng lẫy hay kích thích đến đâu đi nữa, vẫn chưa thể gọi là trọn vẹn nếu thiếu đi sự hiện diện của ông.
Cuộc đời ông là một vòng quay của sự tò mò đầy nhiệt huyết; một cơn lốc không bao giờ thỏa mãn của danh vọng xã hội. Chẳng có hội nghị nào của các bậc hiền triết và triết gia ở bất kỳ xó xỉnh nào của châu Âu mà ông không tham dự với tư cách là một người anh em. Ông từng có mặt tại trại binh Kalisch trong bộ quân phục dân vệ, và tham gia các lễ hội ở Barcelona trong chiếc áo khoác kiểu Andalusia. Ông có mặt ở khắp mọi nơi và trong mọi sự việc; ông từng lặn xuống đáy biển bằng chuông lặn và bay lên trời bằng khinh khí cầu. Về các mối quan hệ xã hội, ông được chào đón ở mọi xứ sở; lòng bác ái phổ quát của ông dường như có sức mạnh vô biên. Hoàng đế và quốc vương, đảng viên phái Jacobin và hội viên Carbonaro, tất cả đều trân trọng ông. Ông là quản thủ của các buổi vũ hội Ba Lan và là người bênh vực nhân tính của người Nga; ông từng dùng bữa với Louis Philippe, và thiết đãi bữa tối cho Louis Blanc.
Đây là một bữa tối mà các vị khách đến để thưởng thức. Dù rất thích bầu bạn cùng nhau, những cuộc gặp gỡ của họ không đến mức hiếm hoi để họ phải hy sinh những niềm vui thanh nhã của một bữa ăn tinh tế cốt chỉ để trò chuyện. Họ để mặc chuyện trò diễn ra tự nhiên, và cứ thế ăn uống không chút kiểu cách. Chẳng có gì hiếm hoi bằng một bữa tiệc toàn phụ nữ mà mọi người thực sự ăn uống, và cũng có ít điều thú vị hơn thế. Trong dịp này, một khoảng thời gian đã trôi qua mà không bị ngắt quãng nhiều, trong khi những món ăn tuyệt hảo do đầu bếp của Sidonia thủ đọan được tán thưởng; thỉnh thoảng chỉ vang lên giọng nói trong trẻo của phu nhân Coningsby khi bà "so gươm" với đối thủ quen thuộc của mình là ông Vavasour – tuy nhiên, ông thường rút lui khỏi cuộc chiến mỗi khi có một món ăn mới được dọn lên.
Cuối cùng, khi món thứ hai được dọn ra, phu nhân Coningsby liền lên tiếng: – Tôi nghĩ tất cả các anh đã ăn đủ rồi đấy: tôi có một tin tức muốn thông báo đây. Sẽ có một buổi vũ hội hóa trang tại Cung điện.
Thông báo này ngay lập tức khơi mào hàng loạt lời bàn tán và cảm thán đồng thanh cất lên. – Khi nào diễn ra thế? Chủ đề là gì? Một thời kỳ, một quốc gia, hay là sự pha trộn của mọi thời đại và mọi xứ sở?
– Một thời kỳ thì hóa ra là hóa trang tuồng cổ, – Sidonia nói. – Vòng tròn càng thu hẹp, ảo ảnh càng hoàn hảo.
– Ồ, không! – Vavasour nói, khẽ lắc đầu. – Chọn cả một thời kỳ mới là hay; đó mới là điều đẳng cấp hơn nhiều. Còn gì tuyệt vời hơn việc thể hiện tinh thần của một thời đại chứ?
– Và ông Vavasour sẽ đóng vai chính, – phu nhân Coningsby châm chọc. – Tôi biết chính xác ông ấy đang định gì rồi. Ông ấy muốn nhảy điệu polka trong vai Petrarch, và tìm kiếm một nàng Laura trong mỗi bạn nhảy của mình.
– Cô hoàn toàn chẳng có chút cảm thụ thi ca nào cả, – ông Vavasour vừa nói vừa xua tay. – Tôi đã nói với cô điều đó nhiều lần rồi.
– Trái lại, ông mới là người có rất nhiều cảm xúc thi ca, thưa phu nhân Marney; tôi vẫn luôn nói vậy, – ông Vavasour vừa cúi đầu vừa nói.
– Nhưng hãy cho chúng tôi biết tin tức của chị đi, Edith, – Coningsby giục. – Hãy tưởng tượng sự hồi hộp của chúng tôi lúc này xem, khi mà vấn đề là liệu tất cả chúng ta sẽ trông đẹp như tranh vẽ hay trông nực cười như hề.
– À, anh đang muốn biết liệu mình có thể đóng vai Hồng y Mazarin, hay Công tước xứ Ripperda không hở Harry. Em biết chính xác tất cả các anh đang nghĩ gì lúc này rồi; các anh đang tự hỏi liệu mình có rút được lá thăm may mắn trong đợt xổ số sắp tới, để vớ đúng thời đại và nhân vật hợp với mình hay không. Có phải thế không, thưa Lord Montacute? Chẳng lẽ anh không muốn tập dượt trước một chút với những đồng tiền crusado của mình tại buổi vũ hội của Nữ hoàng trước khi lên đường đến Ngôi mộ Thánh đó sao?
– Tôi thích nghe cô miêu tả về nó hơn, – Tancred đáp.
– Tôi thấy Lord Henry cũng đang lưỡng lự muốn làm bạn đồng hành với anh trong vai một Hiệp sĩ Thập tự chinh đấy, – Edith nói tiếp. – Còn phu nhân Marney, bà ấy chính là người kế nhiệm của bà Fry, và tôi chắc chắn bà ấy sẽ rất muốn đến dự vũ hội với tư cách là đại diện của vị đó.
– Và xin hỏi phu nhân Coningsby dự định đóng vai gì thế? – ông Vavasour hỏi. – Chúng tôi rất muốn được bật mí về hình mẫu lý tưởng của chính cô ấy.
– Phu nhân Coningsby xin nhường phần lý tưởng lại cho các nhà thơ. Chị ấy hoàn toàn mãn nguyện khi được là chính mình, và đó cũng là ý định của chị ấy, dù chị ấy vẫn có ý định đến dự vũ hội của Nữ hoàng.
– Tôi thấy cô nắm rõ bí mật này quá nhỉ, – Lord Marney nói.
– Nếu tôi chỉ biết cách giữ bí mật, có lẽ tôi đã làm nên sự nghiệp lớn rồi, – phu nhân Coningsby đáp. – Tôi là người cất giữ biết bao điều huyền bí – từ niềm vui, nỗi buồn, những âm mưu cho đến những rắc rối; nhưng tôi lúc nào cũng kể cho Harry nghe, và anh ấy thì luôn bán đứng tôi. Nào, các anh phải đoán một chút đi chứ. Phu nhân Marney xin mời bà mở màn.
– Chà, chúng tôi từng tham dự một buổi ở Turin, – phu nhân Marney nói, – và nó mang phong cách phương Đông, kiểu Lalla Rookh. Chị sẽ hóa thân thành một vị hoàng hậu Hồi quốc chứ?
Phu nhân Coningsby lắc đầu.
– Nào, Edith, – chồng cô lên tiếng; – nếu em biết, điều mà anh còn hoài nghi——
– Ồ! Anh hoài nghi ư——
– Ngày hôm qua Valentine đã nói với tôi, – ông Vavasour nói với giọng điệu ra lệnh nửa đùa nửa thật, – rằng sẽ không có vũ hội nào hết.
– Và Lord Valentine ngày hôm qua đã nói với tôi rằng sẽ có vũ hội, và vũ hội đó sẽ ra sao; hơn thế nữa, tôi đã chốt xong trang phục của mình rồi, – phu nhân Coningsby tuyên bố.
– Một quyết định nhanh chóng như vậy chứng tỏ rằng chẳng cần phải nghiên cứu lịch sử cổ đại làm gì, – Sidonia nhận xét. – Thời kỳ của cô là cận đại.
– À! – Edith nói, nhìn Sidonia. – Anh ấy lúc nào cũng bắt thóp được tôi. Thưa ông Vavasour, ông sẽ không thể tự đội vòng nguyệt quế lên đầu đâu, bởi vì các quý ông sẽ phải đội tóc giả đấy.
– Louis Quatorze chăng? – chồng cô đoán. – Hay Peel trong vai Louvois.
– Không, Ngài Robert sẽ chẳng chịu bằng lòng với thứ gì kém hơn Le Grand Colbert ở số 75 phố Richelieu, cửa hàng bách hóa đồ mới siêu cổ: giá cố định, có kèm chút ít chiết khấu.
– Một sự miêu tả chuẩn mực về chủ nghĩa Bảo thủ, – Coningsby lẩm bẩm.
Bí mật nhanh chóng được hé lộ: ai nấy đều đưa ra phỏng đoán và bình luận của riêng mình: các quý ông đội tóc giả, còn các quý bà thì đánh phấn trắng, dán mốt ruồi và mặc váy xòe rộng. Vavasour ngẫm nghĩ có phần ủ rũ về tinh thần phi-thi-ca của thời đại; còn Coningsby liền ca tụng ông là tác giả của vở Leonidas.
– Và chắc là anh sẽ xuất hiện trong vai một trong những “cậu nhóc” chống lại Ngài Robert vĩ đại chứ? – ông Vavasour hỏi, với vẻ mặt tỏ ý sùng kính giả tạo dành cho nhân vật lẫy lừng đó.
– Cuối cùng thì những “cậu nhóc” ấy cũng đánh bại được ông ta thôi, – Coningsby đáp; rồi với sự chính xác nhanh nhạy cùng vốn từ vựng phong phú vốn là đặc trưng của mình, anh phác họa nên một bức tranh tái hiện lại thời kỳ đó ngay trước mắt mọi người; thế là họ bắt đầu mổ xẻ nó, lựa chọn các tình tiết và phân chia vai trò.
Có hai điều tối quan trọng cho một bữa tối hoàn hảo chính là những người phục vụ đi lại không một tiếng động và sự chuẩn xác trong việc dọn các món ăn của từng thực đơn sao cho tất cả có thể được bày lên bàn cùng một khoảnh khắc. Sự thiếu sót ở những điểm này sẽ tạo ra bầu không khí nhốn nháo và chậm trễ, phá hỏng biết bao cuộc trò chuyện thú vị cũng như làm mất đi hương vị của những món ăn ngon. Hai đặc điểm tuyệt vời ấy chưa từng vắng mặt trong các bữa tiệc của Sidonia. Chẳng có dinh thự nào ít sự phô trương hơn thế. Khung cảnh trên bàn ăn thay đổi như thể chỉ sau một cái phất gạt đũa thần, lặng lẽ tựa giấc mơ. Và đúng lúc này, khi món tráng miệng đã được bày biện, trái cây cùng những người bạn đồng hành xinh đẹp của chúng là các giỏ hoa tươi được đặt trong những chiếc giỏ bằng thạch cao tuyết hoa gác trên chân đế bằng bạc chạm lộng.
Nửa giờ tiếp theo trôi qua trong tiếng cười nói vui vẻ, tao nhã và rộn rã: một câu chuyện hay, một câu châm ngôn mới ra lò, dăm câu chế giễu tựa ánh chớp mùa hè, chói lọi nhưng chẳng hề đốt cháy ai.
– Và giờ thì, – Edith nói khi các quý bà đứng dậy để trở lại phòng trưng bày sách, – và giờ thì chúng tôi xin bỏ mặc các anh lại với vấn đề Maynooth.
– Nhân tiện đây, ở Hạ viện của các anh, người ta bàn sao về chuyện đó vậy, Lord Marney? – Henry Sydney hỏi, vừa rót đầy ly rượu.
– Nó sẽ thông qua thôi, – Lord Marney đáp. – Quả là một liều thuốc nặng đô đối với một số kẻ, nhưng họ đã quen nuốt những liều thuốc độc dược rồi.
– Người ta bảo các giám mục vẫn chưa đưa ra quyết định cuối cùng.
– Thật nực cười khi các giám mục mà lại chưa đưa ra nổi quyết định, – Tancred thốt lên: – đó phải là những kẻ duy nhất không bao giờ được phép nghi ngờ chứ.
– Trừ khi họ được phong chức giám mục, – Lord Marney châm biếm.
– Lý do tôi thích dự án Maynooth này, – Tancred nói, – dù ngoài ra nó chẳng mấy thu hút tôi, là vì tất cả bọn chủ tiệm đều chống lại nó.
– Đừng có nói điều đó cho ngài bộ trưởng nghe, – Coningsby cản, – nếu không ông ấy sẽ dẹp luôn dự luật đấy.
– À, đó chính là lý do, – Vavasour nói, – mà dù ban đầu tôi có thiện cảm với khoản trợ cấp này, tôi vẫn thấy lưỡng lự khi bỏ phiếu. Tôi dành sự tôn trọng cao nhất cho giới chủ tiệm; tôi thậm chí còn thông cảm với cả những định kiến của họ. Họ là giai cấp tiêu biểu của thời đại; họ đại diện cho trật tự, sự đoan trang và lòng chăm chỉ của thời đại ấy.
– Và anh chính là đại diện cho họ, – Coningsby trêu. – Vavasour chính là tinh hoa của trật tự, sự đoan trang và lòng chăm chỉ.
– Cậu cứ đùa đi, – Vavasour nói, vừa lắc đầu với một chút vẻ hài hước trang nghiêm; – nhưng ý kiến công chúng vẫn phải và đáng được tôn trọng, dù đúng hay sai.
– Thế nào là ý kiến công chúng theo anh? – Tancred hỏi.
– Là ý kiến của phe đa số biết suy ngẫm, – Vavasour đáp.
– Những kẻ không thèm đọc thơ của anh ấy, – Coningsby bồi thêm.
– Này cậu thanh niên, cậu thanh niên! – Vavasour kêu lên, người có thể chịu đựng được những lời trêu chọc từ một kẻ từng học chung đại học với mình, nhưng lại chẳng mấy vui vẻ khi Coningsby chọn đúng dịp này để đòi quyền phát biểu, nhất là khi lại có mặt một nhân vật mới như Lord Montacute – người mà Vavasour rất muốn tạo ấn tượng. Phải thừa nhận rằng, theo người ta thường nói, đó không phải là một hành động rất đúng mực của người chồng bên cạnh Edith, nhưng sự thành đạt đã dung dưỡng trong con người Coningsby một nét ngang tàng bẩm sinh mà phải cần đến sự trang nghiêm tột độ của nghị viện mới kìm hãm nổi. Thậm chí ngay tại đó, trên những hàng ghế nghị trường, với gương mặt nghiêm nghị, anh ta vẫn thường văng ra những câu pha trò châm chọc khiến các đồng nghiệp ngồi cạnh cười rũ rượi – những kẻ, giữa những đêm dài dằng dặc tẻ nhạt của các số liệu giả tạo, thường tìm đến sự cứu rỗi trong những lời châm biếm vui tươi, những lời bóng gió nhẹ nhàng và những câu trích dẫn đắt giá của anh.
– Tôi không hiểu làm thế nào lại có thể có ý kiến mà không cần suy nghĩ, – Tancred nói; – và tôi không tin công chúng bao giờ lại biết suy nghĩ cả. Sao họ có thể chứ? Họ làm gì có thời gian. Chắc chắn là chúng ta đang sống dưới đế chế của những tư tưởng chung, vốn có sức mạnh cực kỳ to lớn. Nhưng công chúng đâu có phátinvent ra những tư tưởng ấy. Họ tiếp nhận chúng chỉ vì sự tiện lợi. Chẳng ai có niềm tin vào chính mình; ngược lại, ai nấy đều có cái nhìn tầm thường về sức mạnh của bản thân và chẳng hề dựa dẫm vào phán đoán của chính mình. Con người ta tuân theo một xung lực chung, họ cúi đầu trước một tha lực tất yếu, dù là để kháng cự hay hành động. Tính cá thể đã chết; con người đang thiếu đi năng lượng nội tâm và cá nhân; và đó chính là điều mà người ta cảm nhận và ám chỉ khi đi than vãn rằng chẳng còn chút đức tin nào nữa.
– Vậy ý anh là, – Henry Sydney lên tiếng, – sự tiến bộ của tự do công cộng song hành cùng sự suy tàn của sự vĩ đại cá nhân ư?
– Có vẻ là như vậy.
– Nhưng đa số sẽ luôn ưu tiên tự do công cộng hơn sự vĩ đại cá nhân, – Lord Marney nói.
– Nhưng nếu không có sự vĩ đại cá nhân, anh chẳng bao giờ có được tự do công cộng cả, – Coningsby phản bác.
– Rốt cuộc thì, văn minh mới là thứ mà các anh đang chống lại, – Vavasour nói.
– Tôi chẳng hiểu anh đang nói gì khi nhắc đến văn minh cả, – Tancred đáp.
– Là sự phát triển tiến bộ của các năng lực con người, – Vavasour định nghĩa.
– Đúng vậy, nhưng thế nào là sự phát triển tiến bộ? – Sidonia chất vấn; – và các năng lực của con người là gì? Nếu sự phát triển mang tính tiến bộ, anh giải thích thế nào về tình trạng của nước Ý? Sẽ có người bảo với anh đó là do sự mê tín, do các phép ân xá và Đức Mẹ Loretto; thế nhưng ba thế kỷ trước, khi tất cả những ảnh hưởng đó còn hùng mạnh hơn nhiều, nước Ý lại chính là linh hồn của châu Âu. Người ít định kiến hơn, chẳng hạn như một tín đồ phái Pusey như bạn của chúng ta là Vavasour, sẽ quả quyết với chúng ta rằng tình trạng của nước Ý chẳng dính líu gì đến tinh thần tôn giáo của nó cả, mà hoàn toàn là chuyện thương mại; một cuộc cách mạng thương mại đã làm đảo lộn định mệnh của vùng đất ấy. Tôi không thể quên rằng thế giới từng bị chinh phục bởi những người Ý chẳng có chút thương mại nào. Sự phát triển của Tây Á có tiến bộ chăng? Đó là một vùng đất của mồ mả và đổ nát. Trung Quốc có tiến bộ không – xã hội lâu đời nhất và đông dân nhất hiện nay? Bản thân châu Âu có tiến bộ không? Tây Ban Nha liệu có vĩ đại bằng một phần mười trước đây không? Đức có vĩ đại như thời họ phát minh ra máy in; hay như thời dưới triều đại của Charles Đệ ngũ không? Bản thân nước France cũng đang than vãn về sự thụt lùi của mình so với quá khứ. Nhưng nước England thì vẫn hưng thịnh. Liệu có phải cái gọi là văn minh đã làm cho nước England hưng thịnh không? Liệu có phải sự phát triển toàn diện các năng lực của con người đã biến một hòn đảo gần như vô danh đối với người cổ đại thành kẻ phán xử thế giới này không? Rõ ràng là không. Chính cư dân của họ đã làm được điều đó; đó là vấn đề về chủng tộc. Một chủng tộc Saxon, được che chở bởi vị thế hải đảo, đã khắc ghi tính cách chăm chỉ và ngăn nắp của mình lên cả thế kỷ này. Và khi một chủng tộc ưu việt, với một tư tưởng ưu việt để hành động và thiết lập trật tự, tiến bước, thì trạng thái của nó sẽ là tiến bộ, và có lẽ chúng ta sẽ nối gót theo gương của những xứ sở hoang tàn kia. Tất cả đều là chủng tộc; chẳng có chân lý nào khác nữa.
– Bởi vì nó bao hàm tất cả những chân lý khác chứ gì? – Lord Henry hỏi.
– Anh nói đúng lắm.
– Còn về định nghĩa văn minh của Vavasour, – Coningsby tiếp lời, – văn minh ở thời cổ đại còn phát triển hơn thời hiện đại; thế thì nguyên tắc tiến bộ sẽ trôi về đâu? Hãy nhìn vào những thế kỷ vĩ đại của Đế chế La Mã xem! Các anh có hai trăm triệu con người được cai trị bởi một hệ thống pháp jurisprudencia triết lý đến mức chúng ta buộc phải áp dụng luật lệ của họ, và sống trong cảnh hòa bình vĩnh cửu. Các phương tiện thông tin liên lạc mà chúng ta hiện đang tự hào hóa ra lại vô cùng to lớn và rộng khắp ở thời đại đó. Đường Great Western và London and Birmingham là gì so với những con đường Appian và Flaminian kia chứ? Sau hai nghìn năm rưỡi, một phần của những con đường ấy vẫn đang được sử dụng. Một người sống dưới thời Antonines có thể du lịch từ Paris đến Antioch dễ dàng và an toàn chẳng khác nào chúng ta đi từ London đến York. Còn về thương mại tự do, chưa từng có một nền thương mại nào thực sự được giải phóng xiềng xích ngoại trừ những ngày mà toàn bộ bờ biển Địa Trung Hải thuộc về một thế lực duy nhất. Người ta cứ lải nhải hoài về các thành phố, và sự phát triển của chúng được viện dẫn như nét đặc trưng của thời đại cũng như bảo đảm lớn nhất cho sự cải thiện của công chúng. Chà, Đế chế La Mã chính là đế chế của những thành phố vĩ đại. Con người khi ấy mang bản chất đô thị sâu sắc.
– Quả là một đế chế tuyệt vời! – Sidonia thốt lên. – Nơi quy tụ tất cả những chủng tộc ưu tú nhất trong những vùng khí hậu ưu tú nhất.
– Nhưng tất cả những điều đó dung hòa ra sao với lý thuyết ưa thích của anh và Coningsby về sức mạnh của nhân cách cá nhân? – Vavasour hỏi Sidonia; – mà nhân tiện, tôi cho rằng điều đó hoàn toàn vô tích sự, – ông nói thêm với giọng điệu có phần ra vẻ ta đây.
– Nhân cách cá nhân chẳng qua là sự nhân cách hóa của chủng tộc, – Sidonia đáp, – là sự hoàn mỹ và là mẫu mực ưu tú nhất của chủng tộc ấy. Thay vì mâu thuẫn, niềm tin vào ảnh hưởng của cá nhân lại là hệ quả tất yếu của tiền đề ban đầu đó.
– Tôi coi niềm tin vào ảnh hưởng của nhân cách cá nhân là một thứ mê tín dã man, – Vavasour tuyên bố.
– Vavasour tin rằng sẽ chẳng có các anh hùng nếu tồn tại một lực lượng cảnh sát, – Coningsby châm chọc; – nhưng tôi tin rằng văn minh chỉ mang lại tai họa cho các thi sĩ, và đó là lý do tại sao thời nay chúng ta chẳng còn nhà thơ nào nữa.
– Thế anh giải thích thế nào về thất bại của Ba Lan năm 1831? – Lord Marney hỏi. – Họ có một đội quân xuất sắc, họ được quần chúng hậu thuẫn, nhưng họ vẫn thất bại. Họ có tất cả mọi thứ, trừ một con người.
– Tại sao phe Whig lại sụp đổ năm 1834? – Coningsby đáp lời, – nếu không phải vì họ thiếu một con người?
– Đâu là lời giải thích thực sự cho tình trạng của Mexico? – Sidonia đặt câu hỏi. – Nơi đó không có một con người.
– Thế là đủ rõ cho sự tiến bộ kể từ thời Charles Đệ ngũ, – Henry Sydney nhận xét. – Người Tây Ban Nha khi ấy đã chinh phục Mexico, và giờ thì họ không sao cai trị nổi nó.
– Thế là đủ rõ cho vấn đề chủng tộc, – Vavasour nói. – Chủng tộc vẫn thế; tại sao kết quả lại không giống nhau?
– Bởi vì nó đã cạn kiệt rồi, – Sidonia giải thích. – Tại sao người Ethiopia không xây dựng một Thebes khác, hay đục đẽo những ngôi đền khổng lồ ở vùng thác nước? Sự suy tàn của một chủng tộc là một tất yếu không thể tránh khỏi, trừ khi họ sống trong các hoang mạc và chẳng bao giờ pha trộn dòng máu của mình.