Tancred: Cuộc Thập Tự Chinh Mới

Lượt đọc: 146 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Tancred bước vào Sequin Court; trước bậc thềm lớn mà chàng đang bước lên có một cỗ xe mang huy hiệu của hoàng gia nước ngoài. Chàng được tiếp đón bởi một gã gác cổng béo tốt, kẻ hẳn không làm hổ danh dinh cơ của cha chàng. Gã uể oải đứng dậy với vẻ trịch thượng từ chiếc ghế có mui của mình khi thấy Tancred đứng im không tiến bước, liền hách dịch hỏi vị khách mới rằng anh muốn gì. "Tôi muốn gặp Monsieur de Sidonia." "Bây giờ không gặp được; ngài ấy đang bận." "Tôi có một bức thư gửi cho ngài ấy."

“Được rồi, đưa đây cho tôi; nó sẽ được chuyển vào trong. Cậu có thể ngồi ở đây.” Và người gác cổng mở cửa phòng chờ, nhưng Tancred từ chối bước vào. “Tôi đợi ở đây, cảm ơn ông,” Tancred nói, đồng thời đưa mắt quan sát sảnh đường bằng gỗ sồi cổ kính. Trên tường treo vài bức chân dung, từ đó dẫn lên một trong những chiếc cầu thang trang nhã hiếm thấy ở các dinh thự Luân Đôn thời hiện đại. Ở cuối sảnh, trên một phiến đá porphyr, đặt một bức tượng bán thân bằng cẩm thạch với dòng khắc: “Fundator.” Đó là vị Sidonia đầu tiên, tác phẩm của Chantrey.

“Tôi đợi ở đây, cảm ơn ông,” Tancred nói, vừa nhìn xung quanh vừa có chút ngập ngừng bổ sung thêm, “Tôi có lịch hẹn ở đây lúc hai giờ.”

Vừa lúc anh nói xong, tiếng chuông điểm giờ vang lên từ ngọn tháp của một nhà thờ cổ trong thành phố gần đó, rồi được hòa nhịp bởi tiếng chuông của một chiếc đồng hồ lớn của Đức đặt ở sảnh đường.

“Có thể thế,” gã gác cổng nói, “nhưng bây giờ tôi không thể làm phiền chủ nhân được; đại sứ Tây Ban Nha đang ở bên trong, và còn những người khác đang chờ. Khi ngài ấy đi ra, một nhân viên sẽ mang thư của cậu vào cùng với mấy bức thư khác ở đây.”

Ngay lúc ấy, trong lúc Tancred vẫn đứng ở sảnh, nhiều người khác lần lượt bước vào và băng qua căn phòng mà chẳng thèm liếc nhìn người gác cổng lấy một cái.

“Những người đó đi đâu vậy?” Tancred hỏi.

Gã gác cổng nhìn người vừa hỏi với ánh mắt pha trộn giữa sự tò mò và khinh miệt, đoạn hờ hững đáp mà chẳng thèm ngước lên nhìn mặt Tancred trong lúc vẫn đang phủi bụi lò sưởi: “Tôi nghĩ là có người ra phòng kế toán, có người sang Ngân hàng.”

“Tự hỏi không biết người gác cổng nhà chúng ta có hách dịch đến mức kinh khủng như của Monsieur de Sidonia hay không!” Tancred thầm nghĩ.

Có tiếng động xôn xao. “Đại sứ chuẩn bị ra rồi,” gã gác cổng nói; “cậu không được đứng chắn lối đi.”

Cái tai được huấn luyện tinh tường của kẻ giữ cổng này quen thuộc với mọi thứ âm thanh có thể phát ra từ các căn phòng ở Sequin Court. Dù cửa có đóng kín đến đâu, bạn cũng không thể đứng dậy khỏi ghế mà gã không hay biết; và trong trường hợp này, phán đoán của gã hoàn toàn chính xác. Cánh cửa ở cuối sảnh bật mở, và vị đại sứ Tây Ban Nha bước ra.

“Tránh sang một bên,” gã gác cổng bảo Tancred; rồi cất tiếng gọi các gia nhân bên ngoài, gã cung kính tiễn ngài đại sứ ra xe.

“Bây giờ thư của cậu sẽ được chuyển vào cùng với mấy bức kia,” gã nói với Tancred, để mặc chàng đứng một mình trong chốc lát rồi quay lại. Gã chẳng thèm đếm xỉa gì đến chàng thanh niên, mà thả cái thân hình cồng kềnh xuống chiếc ghế có mui, tiếp tục đọc mục tin tài chính thành phố trên tờ The Times.

Bức thư có nội dung như sau:

“Sidonia thân mến: Người mang thư này cho anh là anh họ tôi, Montacute, người mà tôi đã nhắc đến với anh ngày hôm qua. Nó muốn đi Jerusalem, điều này khiến gia đình vô cùng lo lắng vì nó là con một. Tôi cho rằng nguy hiểm không như họ tưởng tượng. Dù vậy, chẳng gì bằng kinh nghiệm thực tế, và không ai am hiểu về những chuyện này hơn chính anh. Tôi đã hứa với cha mẹ nó – những con người vô cùng hiền lành mà trong số họ hàng, tôi yêu quý nhất – rằng sẽ giúp nó hết sức có thể. Do đó, nếu anh có thể giúp đỡ Montacute, thì thực sự là anh đang giúp tôi. Trông nó có vẻ có cá tính, dẫu tôi chưa thực sự hiểu rõ về nó. Tôi e rằng hôm qua mình đã quá đà với loại rượu hock, vì giờ tôi thấy hơi nhói đau. Thân mến gửi anh,

“ESKDALE.

“Sáng thứ Tư.”

Đồng hồ ở sảnh vừa điểm chuông báo mười lăm phút thì một thanh niên có vẻ ngoài thông minh, tóc vàng, đeo kính bước vào sảnh. Cậu ta mở cửa phòng chờ, đảo mắt nhìn như thể đang tìm ai đó; rồi quay sang gã gác cổng, hỏi: “Lãnh chúa Montacute ở đâu?”

Gã gác cổng đứng phắt dậy khỏi chiếc ghế có mui, đặt tờ báo xuống, nhưng Tancred đã bước lên ngay khi nghe thấy tên mình, khẽ cúi đầu và đi theo vị thanh niên đeo kính khi người này ra hiệu mời anh đi cùng.

Tancred được dẫn vào một căn phòng rộng rãi và khá dài, tường ốp gỗ sồi cổ đến tận phần trần vòm màu trắng được chạm trổ vô cùng tinh xảo. Bốn ô cửa sổ hướng ra đài phun nước và cây phong già. Một bức chân dung do Lawrence vẽ, rõ ràng là vẽ chính nhân vật từng làm mẫu cho bức tượng của Chantrey, được treo phía trên chiếc lò sưởi bằng cẩm thạch kiểu cũ nhưng rất đẹp và bề thế. Một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ, những chiếc rèm nhung đỏ thẫm, vài chiếc bàn lớn phủ đầy giấy tờ, mấy chiếc bành êm ái, và dọc theo các bức tường là những chiếc tủ sắt – đó là toàn bộ nội thất trong phòng. Ở một góc phòng có một cánh cửa kính dẫn đến một dãy phòng thông nhau được bố trí làm phòng kế toán, tấp nập các nhân viên làm việc, và khi cần thiết có thể được che lại bằng một tấm rèm nỉ hiện đang mở hé.

Một quý ông đang viết bài ở bàn liền đứng lên khi anh bước vào, đưa tay ra và chỉ vào chiếc ghế: “Tôi e rằng mình đã bắt anh phải ra khỏi nhà vào một khung giờ bất thường.”

Trong khi đó, chàng thanh niên đeo kính đã lui ra; Tancred cúi đầu chào và thì thầm những lời xã giao; còn gia chủ thì kéo ghế lùi ra khỏi bàn một chút và nói tiếp: “Lãnh chúa Eskdale bảo với tôi rằng anh đang có ý định đến Jerusalem.”

“Tôi đã ấp ủ dự định đó từ lâu rồi.”

“Thật tiếc là anh không khởi hành sớm hơn trong năm, bằng không anh đã có mặt ở đó vào dịp hành hương Lễ Phục Sinh. Đó là một cảnh tượng tuyệt trọn.”

“Thật đáng tiếc,” Tancred nói; “nhưng đối với tôi, việc đặt chân đến Jerusalem có ý nghĩa lớn lao đến mức tôi sẵn sàng mãn nguyện miễn là được đến đó vào bất cứ lúc nào và trong bất cứ hoàn cảnh nào.”

“Đến Jerusalem bây giờ không còn khó khăn gì nữa; cái khó thực sự chính là điều mà các hiệp sĩ thập tự chinh từng trải qua: phải biết mình nên làm gì khi đã đặt chân đến đó.”

“Đó là vùng đất của sự linh ứng,” Tancred nói, đôi má hơi ửng hồng; “và khi ở đó, tôi sẽ thành kính cầu nguyện để con đường của mình được chỉ lối.”

“Và anh nghĩ rằng không có lời cầu nguyện nào, dù có thành tâm đến đâu, có thể mang lại cho anh sự soi rọi đó trước khi lên đường sao?”

“Đây không phải là vùng đất của sự linh ứng,” Tancred rụt rè đáp.

“Nhưng anh có Giáo hội của mình cơ mà,” Sidonia nói.

“Mà tôi tin là do Thượng đế thiết lập, và đáng lẽ phải chịu sự chi phối trực tiếp từ Chúa Thánh Thần,” Tancred cúi gằm mặt, đôi má càng thêm đỏ ứng khi nhận ra bản thân đã bắt đầu bước chân vào lĩnh vực thần học tế nhị – thứ luôn làm anh mê mẩn nhưng từng được Lãnh chúa Eskdale nhắc nhở là nên tránh.

“Vậy ra nó đã không giúp gì cho anh trong hoàn cảnh này sao?” người đối diện hỏi.

“Tôi thấy các quan điểm của nó thì xung đột, các sắc lệnh thì mâu thuẫn, và cung cách hành xử thì bất nhất,” Tancred đáp. “Tôi đã trao đổi với một nhân vật được kính trọng là vị giáo phẩm lỗi lạc nhất của nó, và tôi rời đi với sự xác tín cho điều mà từ lâu tôi vẫn hoài nghi: rằng sự linh ứng không chỉ mang tính thiêng liêng mà còn mang tính cục bộ.”

“Cả anh và tôi đều có lý do để tin như vậy,” Sidonia nói. “Tôi tin rằng Thượng đế đã phán cùng Moses trên núi Horeb, và anh tin rằng Ngài đã bị đóng đinh, trong hình hài của Chúa Jesus, trên núi Calvary. Cả hai vị ấy, ít nhất là về mặt xác thịt, đều là con cháu của Israel: họ nói tiếng Hè-brơ với người Hè-brơ. Các tiên đều chỉ là người Hè-brơ; các tông đồ cũng chỉ là người Hè-brơ. Những giáo hội ở châu Á nay đã lụi tàn đều được sáng lập bởi một người Hè-brơ bản địa; và giáo hội ở Rome – nơi tuyên bố sẽ trường tồn mãi mãi, nơi đã cải đạo hòn đảo này theo đức tin của Moses và Chúa Christ, đánh bại người Druids, Jupiter Olympius và Woden, những kẻ từng lần lượt xâm chiếm nơi đây – cũng do một người Hè-brơ bản địa thành lập. Vì thế, tôi cho rằng, sự hoài nghi hay niềm tin của anh ít ra không phải là một điều hoang đường.”

Tancred chăm chú lắng nghe Sidonia với vẻ quan tâm sâu sắc, thái độ số sắng và giờ đây hoàn toàn tự nhiên, không chút ngượng ngùng. Tầm vóc của cuộc tranh biện đã lập tức vượt qua mọi rào cản xã giao của anh. Trí tuệ của anh hưởng ứng chủ đề lớn lao từng chiếm lĩnh những giờ phút trầm tư bấy lâu nay; và bầu không khí bất ngờ của một cuộc trò chuyện mà anh từng đinh ninh sẽ chỉ xoay quanh những bức thư tín dụng lại càng khiến anh hứng khởi hơn.

“Thế thì,” Tancred hào hứng nói, “xét theo cục diện hiện tại – khi tôi sinh ra trong một thời đại và một đất nước bị xé đôi giữa sự vô thần ở một bên và sự hỗn loạn của các tín điều ở bên kia, chẳng có ai đủ khả năng dẫn dắt, nhưng bản thân lại cảm thấy mình buộc phải tin bởi tôi cho rằng nghĩa vụ không thể tồn tại nếu thiếu đức tin – liệu có quá hoang đường như người ta tưởng, hay nói cách khác, liệu có phi lý không khi tôi muốn làm điều mà sáu thế kỷ trước từng được thực hiện bởi vị tổ tiên mang chính tên tôi, rằng tôi sẽ vượt biển, và——?” Chàng ngập ngừng.

“Và viếng thăm Mồ Thánh,” Sidonia tiếp lời.

“Và viếng thăm Mồ Thánh,” Tancred trang nghiêm đáp; “vì thú thực, đó chính là tâm nguyện tối thượng của tôi.”

“Chà, các cuộc Thập tự chinh đã mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho châu Á và châu Âu,” Sidonia nói, “và làm sống lại sức hút tâm linh mà châu Á vẫn luôn có đối với phương Bắc. Hiện tại nó có vẻ suy giảm, nhưng đó chỉ là sự chùng xuống trước khi một bước phát triển mới hình thành.”

“Phải thế thôi,” Tancred nói; “vì ai có thể tin rằng một vùng đất từng được ban phước bởi Sự hiện diện Thần thánh lại có thể trở nên giống như bao vùng đất khác? Một phẩm chất thiên phú nào đó, khác biệt với mọi xứ sở trên đời, chắc chắn sẽ mãi lưu luyến nơi đây. Tôi muốn hỏi những ngọn núi từng được các thiên thần đặt chân đến rằng vì sao chúng không còn đón những vị khách thiên đàng ghé thăm nữa. Tôi muốn khẩn cầu Vị An Ủi từng được hứa ban cho nhân loại, ngay trên mảnh đất thiêng nơi lời hứa chữa lành từng được cất lên. Tôi đang cần một Đấng An Ủi. Tôi đã cầu cứu thế lực thiêng liêng ấy ở nước Anh nhưng vô ích. Ngài đã không ghé thăm tôi; tôi chẳng quen biết một ai ở đây mà Ngài đã ngự trị. Do đó, tôi bị thôi thúc phải tin rằng việc ngự trị của thế lực ấy mang tính cục bộ là một phần trong kế hoạch của Thượng đế; rằng ta phải tiếp cận nó với lòng thành kính, không thể hời hợt và vội vã, mà phải trải qua những gian truân và một khoảng thời gian cách trở – những điều mà chỉ một cuộc hành hương đến vùng đất thánh mới có thể bảo đảm.”

Sidonia chăm chú lắng nghe Tancred. Lãnh chúa Montacute ngồi quay mặt về phía các cửa sổ, ánh sáng chiếu trọn lên những biến chuyển trên nét mặt anh, và Sidonia quan sát từng biểu cảm ấy trong khi đôi mắt sắc bén, tinh tường của ông đồng thời phác họa và thấu suốt cấu trúc cùng sự phát triển tư duy nơi vị khách trẻ tuổi. Ông nhận ra ở thanh niên này không phải là một kẻ mộng mơ viển vông, hão huyền, mà là một tâm hồn sở hữu cả lý trí lẫn trí tưởng tượng ở cấp độ cao nhất và phát triển đồng đều. Ông nhận thấy chàng có bản tính tha thiết, nồng nhiệt và một sự táo bạo kỳ lạ. Ông nhìn thấu rằng dẫu lúc này Tancred ngây thơ về thế giới ngoài kia chẳng khác nào một tiểu tu sĩ, chàng lại tiềm ẩn mọi phẩm chất cần thiết để có thể kiểm soát xã hội trong tương lai. Khi Tancred dứt lời, khoảng lặng kéo dài vài giây, trong đó Sidonia có vẻ chìm đắm trong suy tư; đoạn ông ngẩng lên và nói: “Lãnh chúa Montacute, tôi thấy rằng điều anh đang khao khát chính là thấu thấu đáo điều bí ẩn lớn lao của phương Đông.”

“Anh đã chạm đến tận cùng tâm can tôi rồi,” Tancred nhiệt thành thốt lên.

Đúng lúc ấy, cánh cửa kính mở ra, chàng thanh niên từng dẫn Tancred vào phòng bước vào. Cậu ta mang đến cho Sidonia một bức thư. Lãnh chúa Montacute cảm thấy bối rối; sự rụt rè lại quay trở về; anh tiếc nuối vì sự ngắt quãng đáng tiếc này và thấy mình thật vướng víu. Anh đứng dậy, ngỏ ý chào tạm biệt, nhưng Sidonia dẫu không rời mắt khỏi bức thư vẫn nhìn thấy anh, giơ tay ra hiệu dừng lại và nói: “Tôi đã thống nhất với Lãnh chúa Eskdale là anh sẽ không rời đi nếu có việc gì đòi hỏi sự chú ý chớp nhoáng của tôi. Vậy xin hãy ngồi xuống, trừ khi anh có việc bận.” Và Tancred lại ngồi xuống.

“Hãy viết,” Sidonia tiếp tục bảo người thư ký, “rằng các bức thư của tôi đến muộn hơn mười hai tiếng so với các công điện, và Thành phố vẫn hoàn toàn bình yên. Hãy gửi bản trích đoạn từ bức thư ở Berlin đến Bộ Tài chính vào cùng thời điểm đó. Bản tin mới nhất thì sao?”

“Quỹ hợp nhất sụt giá lúc hai giờ rưỡi; mọi quỹ ngoại kiổu đều giảm; cổ phiếu giao dịch rất sôi động.”

Họ lại chỉ còn lại với nhau. “Anh dự định đi khi nào?” “Tôi hy vọng là trong một tuần nữa.” “Đi một mình sao?”

“Tôi e là mình sẽ mang theo nhiều tùy tùng.” “Thật tiếc quá. Chà, khi đến Jerusalem, tự nhiên anh sẽ đến tu viện Terra Santa. Ở đó anh sẽ làm quen với vị tu viện trưởng người Tây Ban Nha, Alonzo Lara. Ông ấy gọi tôi bằng anh em họ; ông ấy là một Nuevo của thế kỷ mười bốn. Rất chính thống; nhưng tình yêu dành cho quê hương cũ và ngôn ngữ cũ vẫn trỗi dậy trong ông, điều đó là tất yếu dẫu dòng máu của ông không còn thuần khiết mà đã bị pha tạp bởi nhiều cuộc hôn nhân lai giống với người Goth – điều chưa bao giờ xảy ra với gia tộc chúng ta. Chúng ta là người Sephardim thuần chủng. Lara am hiểu tường tận Palestine cùng mọi thứ liên quan đến nơi đó. Ông ấy đã ở đó một phần tư thế kỷ, và suýt chút nữa đã có thể làm Tổng giám mục Seville. Anh thấy đấy, ông ấy uyên bác cả kim lẫn cổ; điều này rất quan trọng; chúng thường giải thích cho nhau. Các giám mục của anh ở đây chẳng biết gì về những chuyện này. Sao họ biết được chứ? Vài thế kỷ trước họ còn là những kẻ ăn lông ở lỗ xăm mình. Đó là lợi thế mà Rome có được so với các anh, thứ mà các anh không bao giờ hiểu nổi. Giáo hội đó được sáng lập bởi một người Hè-brơ, và luồng từ tính vẫn còn lưu lại. Nhưng anh sẽ đi đến tận nguồn cội. Thần học đòi hỏi sự học việc ít nhất là vài ngàn năm; chưa kể đến khí hậu và chủng tộc. Anh không thể tiến xa với thần học bằng cách đối xử với nó như hóa học hay cơ khí đâu. Hãy tin tôi, ẩn chứa bên trong nó là một điều gì đó sâu sắc hơn nhiều. Tôi sẽ viết cho anh một lá thư gửi Lara; hãy kết thân với ông ấy, đó chính là người anh đang tìm kiếm. Anh sẽ cần thêm những người khác nữa; họ sẽ tự tìm đến; nhưng Lara mới là người nắm giữ chiếc chìa khóa đầu tiên.”

“Tôi rất tiếc vì phải làm phiền anh về những chuyện thế này,” Tancred ngập ngừng nói, “nhưng có lẽ tôi sẽ chẳng có vinh hạnh được gặp lại anh nữa, và Lãnh chúa Eskdale có dặn tôi trao đổi với anh về vài bức thư tín dụng.”

“Ồ! Chúng ta sẽ còn gặp nhau trước khi anh lên đường chứ. Nhưng những gì anh vừa nói gợi cho tôi nhớ ra một chuyện. Về tiền nong, ở Syria chỉ có duy nhất một chủ ngân hàng; ông ta có mặt ở khắp mọi nơi, từ Aleppo, Damascus, Beirut cho đến Jerusalem. Đó chính là Besso. Trước khi người Ai Cập bị trục xuất, ông ta thực sự cai trị Syria, và đến nay ông ta vẫn vô cùng thế lực, dẫu bọn họ ở Constantinople đã tìm mọi cách dìm dập ông ấy. Tôi đã thỉnh cầu Metternich về trường hợp của ông ấy, và hơn thế nữa, ông ta là người của tôi.

Tôi sẽ viết một bức thư giới thiệu anh với ông ấy, nhưng không chỉ để lo chuyện tiền nong đâu. Tôi muốn anh được quen biết ông ấy. Ông ấy sống trong sự xa hoa láng giót ở Damascus, và sống giản dị ở Jerusalem – nơi có rất ít việc để làm nhưng lại là chốn ông yêu thích để định cư vì ông là một người Hè-brơ. Tôi muốn anh kết giao với ông ấy. Tôi chắc chắn anh sẽ đồng ý với tôi rằng, không chút phóng đại, ông ấy là hình mẫu hoàn mỹ nhất về một con người mà anh từng có dịp biết đến. Tên ông ấy là Adam, và quả thật trông ông chẳng khác nào đang sống trong vườn Địa Đàng trước thời điểm sa ngã. Nhưng tâm hồn ông cũng cao cả và tuyệt mỹ không kém gì vóc dáng ấy. Anh có thể nương tựa vào con người này hệt như vào một chiến mã trung kiên. Phòng khách divan của ông ấy vô cùng quyến rũ; ở đó anh sẽ luôn gặp được những con người thông tuệ nhất. Anh phải học hút thuốc đi thôi. Chẳng có việc gì mà Besso không làm được; cứ bắt ông ấy làm mọi thứ anh muốn; đừng ngại ngùng gì cả; ông ấy sẽ lấy làm vinh hạnh đấy. Hơn nữa, ông ấy là một trong những người từng hôn lên con dấu của tôi. Hai bức thư này sẽ mở cửa Syria cho anh, và cả bất kỳ vùng đất nào khác nếu anh muốn đi xa hơn. Đừng bận tâm lo lắng về bất kỳ sự chuẩn bị nào khác nữa.”

“Và tôi phải cảm ơn anh thế nào đây?” Tancred đứng dậy nói; “và làm sao tôi bày tỏ hết lòng biết ơn của mình với anh đây?”

“Ngày mai anh dự định làm gì?” Sidonia hỏi. “Tôi chẳng đi đâu bao giờ; nhưng tôi có vài người bạn rất quý mến nên thỉnh thoảng vẫn hay ghé thăm tôi. Ngày mai có hai, ba người sẽ dùng bữa tối với tôi, có lẽ anh sẽ thích gặp họ đấy. Anh tham gia chứ?”

“Tôi sẽ rất vinh hạnh và vui mừng.”

“Thế thì tốt. Không phải ở đây đâu; ở Carlton Gardens cơ; vào lúc hoàng hôn.” Và Sidonia tiếp tục viết dở bức thư dang dở từ lúc Tancred bước vào.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Earl Of Beaconsfield Benjamin Disraeli

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.