Thông điệp của thiên thần
GIỮA sa mạc Ai Cập và sa mạc Ả Rập, do hai vịnh của biển Erythraean tạo nên, là một bán đảo gồm những dãy núi đá granite. Cảnh tượng tựa như một đại dương dung nham, khi những con sóng dâng cao ngất trời của nó, bỗng chốc nhận được lệnh phải đứng sừng sững bất động. Những ngọn núi nối tiếp nhau, với đỉnh và chóp nhọn, bao bọc lấy hàng loạt thung lũng nhìn chung vô cùng hoang vắng, hiểm trở, dẫu vậy vẫn có những nơi không thiếu vẻ đẹp đồng nội nên thơ. Ở đó, người ta có thể tìm thấy những dòng suối trong vắt như bạc, đôi khi là những rặng cọ cùng những khu vườn chà là, trong khi các sườn cao xung quanh mở ra những khung cảnh hùng vĩ, bao quát hai dãy núi đối diện thuộc châu Á và châu Á - Phi, cùng lòng biển xanh thẳm của hai vùng hải vực. Trên một trong những độ cao ấy, cách mặt biển hơn năm nghìn bộ, có một tu viện; lại gần ba nghìn bộ nữa phía trên tu viện này, là một đỉnh núi cao chọc trời, và đó chính là núi Sinai.
Trên đỉnh núi Sinai có hai tàn tích, một nhà thờ Thiên Chúa giáo và một đền thờ Hồi giáo. Tại nơi đây, khung cảnh hùng vĩ nhất của ánh hào quang Ả Rập, cả người Israel lẫn người Ishmael đều cùng chung tay dựng lên những bàn thờ dâng kính vị Chúa vĩ đại của Abraham.
Vì sao chúng lại thành phế tích? Phải chăng vì những công trình của con người không thể tồn tại giữa những ngôi đền uy nghiêm của tự nhiên và mặc khải; phải chăng cột trụ và mái vòm sẽ vụn vỡ thành hư vô trước mắt ngọn Horeb linh thiêng và trên mảnh đất của ngọn Sinai vĩnh cửu?
Leo lên ngọn núi, ở khoảng nửa đường từ tu viện cho đến đỉnh cao nhất của chóp núi sừng sững, là một thung lũng nhỏ được bao quanh bởi những vách đá. Ở chính giữa thung lũng có một cây bách và một mạch nước ngầm. Đây chính là nơi chốn theo truyền thuyết diễn ra sự kiện vĩ đại nhất của thời gian.
Đêm đã buông xuống; một lữ khách đơn độc, đã quỳ gối cầu nguyện lâu trên mảnh đất linh thiêng, chậm rãi ngước ánh mắt đầy xúc động lên vòm trời đầy sao của xứ Ả Rập, rồi chắp tay trong nỗi thống khổ của lòng thành kính, cất lời khẩn cầu:
— “Lạy Chúa tể của Israel, Đấng Tạo hóa của Vũ trụ, Đức Giê-hô-va khôn tả! Là một đứa con của thế giới Thiên Chúa giáo, con đến bên những bàn thờ cổ xưa xứ Ả Rập của Ngài để trút bầu tâm sự của một châu Âu đang oằn mình trong đau khổ. Tại sao Ngài lại lặng câm? Tại sao những thông điệp về ý chí canh tân của Ngài không còn giáng xuống trần gian nữa? Đức tin phai nhạt và bổn phận lụi tàn. Một nỗi u sầu sâu sắc đã bao trùm tâm hồn nhân loại. Người tu hành hoài nghi, quân vương chẳng thể trị vì, muôn dân rên siết lam lũ, và trong cơn cuồng loạn đã kêu cầu những vị thần vô danh. Nếu ngọn núi hiển linh này không thể một lần nữa chiêm ngưỡng Ngài; nếu một lần nữa, trên những đồng bằng Syria thánh thiện của Ngài, Thần linh không thể dạy dỗ và xoa dịu con người; nếu các nhà tiên tri không thể trỗi dậy để loan báo niềm tin; thì ít nhất, trong số tất cả các sứ giả tinh tú canh giữ ngai vàng của Ngài, xin hãy để một vị hiện diện, để cứu vớt các tạo vật của Ngài khỏi nỗi tuyệt vọng tột cùng!”

Một lớp sương mù phủ mờ những vì sao xứ Ả Rập; những ngọn núi xung quanh vốn dựng đứng sắc lạnh và đen thẫm trong bầu trời tím trong trẻo, nay hòa lẫn thành những khối mờ ảo và thoáng qua, những cành lớn của cây bách dường như lay động, và người lữ khách đang quỳ gối ngã quỵ xuống đất trong trạng thái bất tỉnh và xuất thần.
Và một hình hài hiện ra trước mắt chàng; một dáng hình thoạt trông có vẻ con người, nhưng lại vĩ đại như những ngọn đồi xung quanh. Thế nhưng, sự cân đối của thị kiến ấy kỳ diệu đến mức người chiêm ngưỡng cảm nhận được sự nhỏ bé của bản thân mình hơn là sự to lớn khổng lồ của hiện thân kia. Đó là vóc dáng của một người, dẫu không còn trẻ, nhưng vẫn chưa vấy dấu vết thời gian; một gương mặt tựa đêm phương Đông, tối tăm nhưng rực rỡ, huyền bí nhưng quang đãng. Trí tuệ, hơn là nỗi u sầu, cất lên từ ánh mắt đầy ưu tư mà đắm đuịch, trong khi trên vương trán cao ngất tỏa sáng một ngôi sao rọi thứ ánh sáng trang nghiêm lên sự tĩnh lặng của những đường nét uy nghi.
— “Hỡi con của thế giới Thiên Chúa giáo,” vị đại hình cất lời, khi ngài dường như đang chậm rãi vung chiếc vương trượng hình cành cọ, — “Ta là thiên thần của xứ Ả Rập, linh hồn bảo hộ của vùng đất đang cai trị thế giới; bởi quyền lực không nằm ở gươm giáo hay khiên thuẫn, vì những thứ ấy rồi sẽ qua đi, mà nằm ở tư tưởng, những điều mang tính thần thánh. Tư tưởng của mọi xứ sở đều xuất nguồn từ một cội nguồn cao cả hơn con người, nhưng trí tuệ của Ả Rập lại đến từ Đấng Tối Cao. Chính vì thế mà từ chốn này phát xuất ra những nguyên tắc chi phối vận mệnh loài người.
Thế giới Thiên Chúa giáo mà ngươi vừa rời bỏ, và trước những thuộc tính đang lụi tàn của nó mà ngươi đang tiếc thương, từng là một khu rừng hoang dã trong khi những rặng tuyết tùng xứ Lebanon, suốt vô số thời đại, đã dựng nên cung điện của các vị vua hùng mạnh. Thế nhưng trong khu rừng ấy lại ẩn chứa vô hạn những dòng giống sẽ lan tỏa khắp toàn cầu, thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống cổ xưa của nó. Đã định sẵn rằng, khi họ bứt phá khỏi những khu rừng hoang dã ấy, các nguyên tắc Ả Rập sẽ đón gặp họ nơi ngưỡng cửa của thế giới cũ để dẫn dắt và khai hóa họ. Mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn sàng. Các vị hoàng đế La Mã đã chinh phục thế giới để đặt Luật lệ của núi Sinai lên ngai vàng của Điện Capitol, và một người Ả Rập xứ Galilee đã tiến lên, khắc ghi lên vương miện của những kẻ chinh 1 phục thô bạo xứ Rome biểu tượng thu phục của sự phát triển tối hậu thuộc các nguyên tắc Ả Rập.
Và một lần nữa, châu Âu đang quằn quại trong cơn chuyển dạ vĩ đại. Quần chúng lại đang trăn trở; nhưng giờ đây họ không còn ở trong rừng sâu; họ đang ở trong các đô thị và trên những đồng bằng màu mỡ. Kể từ khi ánh mặt trời đầu tiên của thế kỷ này mọc lên, thuộc địa trí tuệ của xứ Ả Rập, từng được gọi là thế giới Thiên Chúa giáo, đã rơi vào tình trạng nổi loạn một phần và trong u mê. Bất mãn, họ quy chụp những khổ đau của mình cho chính những nguyên tắc đã ban cho họ mọi hạnh phúc, và khi xa rời những nguyên tắc ấy, họ càng trở nên khốn khổ tương ứng. Họ đã khao khát những vị thần khác ngoài vị Chúa của núi Sinai và đồi Calvary, để rồi chỉ gặt hái lấy sự điêu tàn. Giờ đây họ tuyệt vọng. Nhưng chỉ những nguyên tắc vĩnh cửu từng chế ngự sức mạnh của người dã man mới có thể đương đầu nổi với nền văn minh bệnh hoạn. Sự bình đẳng của con người chỉ có thể thành tựu thông qua vương quyền của Thiên Chúa. Niềm khát khao tình huynh đệ không bao giờ có thể được thỏa mãn nếu không nằm dưới sự cai trị của một người cha chung. Mối quan hệ giữa Đức Giê-hô-va và các tạo vật của Ngài không thể quá xa cách cũng chẳng thể quá gần gũi. Trong khoảng cách ngày càng nới rộng giữa Thiên Chúa và con người đã sinh sôi tất cả những sự phát triển biến cuộc đời thành tang tóc. Vậy nên, hãy ngừng tìm kiếm trong một triết lý viển vông lời giải cho bài toán xã hội đang làm các ngươi bối rối. Hãy loan báo học thuyết cao cả và an ủi về sự bình đẳng thần quyền. Đừng sợ hãi, đừng nhụt chí, đừng dao động. Hãy tuân theo sự thôi thúc của chính tâm hồn ngươi, và tìm thấy một công cụ sẵn sàng ở bất kỳ con người nào.”
Một tiếng động như sấm rền đã đánh thức Tancred khỏi cơn xuất thần. Chàng nhìn xung quanh và ngước lên trên. Kia là những ngọn núi dựng đứng sắc lạnh và đen thẫm trong bầu trời tím trong trẻo; kìa là những vì sao Ả Rập vẫn đang tỏa sáng với ánh hào quang không phai mờ; nhưng tiếng nói của vị thiên thần vẫn văng vẳng bên tai chàng. Chàng bước xuống núi: dưới chân núi, gần khu tu viện, là đám lính gác đang say ngủ, vài con tuấn mã, và những chú lạc đà đang nằm phủ phục.