Đông-tước Bellamont là một nhân vật mà nhờ vào tước vị, dòng dõi và gia sản, suýt chút nữa có thể đứng đầu giới quý tộc Anh quốc. Dù chỉ là cháu nội của một địa chủ bình thường, nhưng vị tổ tiên may mắn của ông, vào thời điểm cuối thế kỷ trước, đã chinh phục được trái tim nữ thừa kế gia tộc Montacute, các Công tước xứ Bellamont, một dòng tộc lừng lẫy từ thời nhà Plantagenet. Ngay trong ngày cưới, chú rể đã lấy họ danh giá của người vợ trẻ đẹp làm họ của mình. Bản chất ông Montacute là một người đầy nghị lực và tinh thần cầu tiến. Thành công to lớn đến sớm đã nhanh chóng phát huy những năng khiếu bẩm sinh của ông. Cùng với những lâu đài, điền trang và khu bầu cử của dòng họ Bellamont, ông quyết tâm thâu tóm cả những tước hiệu nam tước cổ kính lẫn chiếc mũ mão công tước hiện đại của họ. Thời thế rất thuận lợi cho các dự án của ông, dẫu chúng có thể đòi hỏi sự cống hiến trọn đời. Ông kết hôn giữa những thảm hoạ của cuộc chiến tranh Mỹ. Nhà vua và vị bộ trưởng của ngài đã đánh giá cao sự ủng hộ độc lập mà ông Montacute dành cho họ; khi ấy ông là đại biểu đại diện cho hạt của mình và nắm giữ năm phiếu bầu tại Hạ viện bên cạnh lá phiếu của chính ông. Ông là một trong những trụ cột chính cho chính nghĩa của họ; nhưng ông không chỉ độc lập, ông còn là một người có lương tâm và mang nhiều nỗi băn khoăn. Vụ Saratoga đã làm ông chao đảo. Sự quay lưng của các phiếu bầu thuộc phe Montacute vào thời điểm đó đáng lẽ đã chấm dứt ngay cuộc xung đột giữa nước Anh và các thuộc địa. Thêm một minh họa nữa cho những lợi ích từ thể chế nghị viện của chúng ta!
Tuy nhiên, vị nghị sĩ độc lập Montacute vẫn kiên định sát cánh cùng quốc vương; năm phiếu bầu của ông vẫn tiếp tục khích lệ vị quý tộc đeo dải băng xanh, và chủ nhân của chúng đã đường hoàng bước vào Thượng viện, tuyên thệ nhậm chức Bá tước Bellamont kiêm Tử tước Montacute. Điều này có lẽ đã quá ưm mĩ mãn cho một thế hệ; thế nhưng chiếc thìa bạc mà một bà tiên nào đó đặt vào cái nôi của Bá tước Bellamont lại mang kích cỡ khổng lồ. Cách mạng Pháp nối tiếp chiến tranh Mỹ và hệ lụy từ nó. Do đó, thật công bằng khi sự kiện này cũng đóng góp phần to lớn vào việc nâng bước một người mà cuộc nổi dậy ở thuộc địa đã đưa lên hàng bá tước. Giữa cơn hoảng loạn của phong trào Jacobin, những lời hùng biện từ phe "bạn hữu của nhân dân", khi nhà vua không còn xứ Hanover để làm nơi ẩn náu, và vị thủ tướng bị đem ra chất vấn như một nhân chứng bảo vệ chính những kẻ đang bị ông truy tố tội phản quốc, Bá tước Bellamont đã có một chuyến ghé thăm điềm tĩnh tới Phố Downing, yêu cầu khôi phục toàn bộ tước vị của các đời Bá tước và Công tước Bellamont cổ xưa cho chính bản thân mình. Ông Pitt, người vốn chẳng mặn mà gì với tính chất độc quyền từng bao trùm giới quý tộc Anh thế kỷ trước, bản thân cũng không ngại ngần chấp thuận thỉnh cầu nhẹ nhàng từ vị hậu thuẫn quyền lực của mình; nhưng nhà vua lại kém phần uyển chuyển hơn. Kỳ thực, bệ hạ về mặt nguyên tắc không phản đối việc khôi phục tước hiệu cho những gia đình đã thừa hưởng điền trang nhưng thiếu đi vinh quang của giới quý tộc cũ; và ngài công nhận quyền của các Bá tước Bellamont hiện tại trong việc cuối cùng sẽ giành lại chiếc lá dâu tây từng trang hoàng cho chiếc mũ mão của thân phụ vị nữ bá tước đương triều. Nhưng nhà vua cho rằng sự phân định tối cao này chỉ nên ban tặng cho dòng máu của gia tộc cũ, và do đó, tất yếu phải qua một thế hệ nữa thì một Công tước Bellamont mới lại có thể xuất hiện trong cuốn sổ vàng của giới quý tộc Anh.
Nhưng vua George đằng sau sự kiên định ấy lại được định sẵn phải đối mặt với muôn vàn trắc trở. Số phận đưa đẩy ông vào những năm tháng ba đào, và ngài thường phải giao thiệp với những con người cứng rắn chẳng kém gì mình. Benjamin Franklin cũng chẳng hề điềm tĩnh chống đối hơn nhân vật mà hành động phản nghịch của hắn đã cất nhắc lên hàng quý tộc Anh. Trong thời đại bạo tàn, biến động và hoảng loạn ấy, quyền lực được định hướng bởi một bộ óc minh mẫn và một tâm hồn sắt đá chắc chắn sẽ đạt được mục đích; và quả nhiên, bất chấp ý muốn của nhà vua, vị địa chủ bình thường với cái tên gần như đã bị lãng quên ấy, vào đầu thế kỷ này, đã trở thành Công tước Bellamont, Hầu tước Montacute, Bá tước Bellamont, Dacre và Villeroy, kèm theo tất cả các tước hiệu nam tước của triều Plantagenet. Sự trả thù duy nhất của nhà vua là ngài kiên quyết không bao giờ ban chiếc dải ruy băng garter cho Công tước Bellamont. Có lẽ cũng tốt thôi khi để lại chút gì đó cho con trai ông khao khát.
Công tước và Nữ công tước xứ Bellamont là cặp đôi đẹp nhất nước Anh và vô cùng gắn bó, nhưng họ chỉ có duy nhất một người con. May mắn thay, đứa con ấy lại là con trai. Sinh mạng quý giá biết bao! Hầu tước Montacute kết hôn trước khi đến tuổi thành niên. Không thể lãng phí một khoảnh khắc nào trong công cuộc tìm kiếm người thừa kế cho ngọc phả huy hoàng này. Có lẽ, giả như cha mẹ cậu không quá vội vàng, mục đích của họ đã có thể đạt được một cách chắc chắn hơn. Cuộc hôn nhân ấy chẳng lấy gì làm hạnh phúc. Tuy nhiên, vị công tước đời đầu cũng có niềm an ủi là được qua đời khi đã lên chức ông nội. Người kế vị ông chẳng có điểm gì giống ông, ngoại trừ vẻ đẹp đã trở thành nét đặc trưng của dòng họ. Anh sinh ra để hưởng thụ chứ không phải để gầy dựng. Là một kẻ ham chơi, người bạn tri kỷ của Hoàng thái tử trong thời kỳ truỵ lạc, anh đã sớm qua đời khi tuổi đời còn đang độ thanh xuân; nhưng anh cũng sống đủ lâu để bóp nát trái tim người vợ và hủy hoại tinh thần đứa con trai — cũng là một người con độc tôn giống như anh.
Vị Công tước Bellamont hiện tại đã thừa hưởng chút trí tuệ minh mẫn từ người ông nội, cùng bản tính dịu dàng của thân mẫu. Năng lực ở mức khá và tấm lòng nhân hậu của ông đã được vun đắp. Người mẹ đã tận tình chăm sóc đứa trẻ — người mà bà xem là niềm vui và chốn dung thân duy nhất trong đời. Nhưng đến một độ tuổi nhất định trong giai đoạn thanh xuân, việc định hình tính cách đòi hỏi một nguồn năng lượng nam tính, thứ mà ông lại thiếu. Vị công tước không ưa con trai mình; dần dà ông còn đâm ra ghen tị với nó. Vị công tước đã làm cha khi tuổi đời hãy còn quá trẻ. Giữa độ xuân thì cường tráng, ông giật mình hoảng hốt trước một hình bóng gợi nhớ lại những năm tháng rực rỡ và huy hoàng thuở ban đầu, một kẻ có nguy cơ trở thành đối thủ của ông. Cậu con trai mang bản tính hiền lành, trìu mến, luôn khát khao sự dịu dàng từ người cha khắc nghiệt và suýt chút nữa là nhẫn tâm của mình. Nhưng cậu lại không sở hữu một tâm hồn nhiệt huyết đủ để lay động — và có lẽ không phải là vô ích — những tình cảm ngủ quên trong con người đã sinh ra cậu. Vị công tước trẻ tuổi vốn mang tính nhút nhát bẩm sinh, và những biến cố trong đời càng khiến sự thiếu tự tin đến đau đớn của cậu thêm trầm trọng. Dù gan dạ về mặt thể chất, sự rụt rè trong tâm lý của cậu lại vô cùng rõ rệt. Trong những lần hiếm hoi diện kiến cha, cậu hết đỏ mặt lại tái xanh, run rẩy trong im lặng trước những lời châm chọc không đáng có, và thường nhẫn nhục chịu đựng những lời buộc tội bất công mà chẳng hề cố gắng thanh minh. Một mình, đẫm nước mắt trong nỗi buồn tủi lẫn căm phẫn, cậu nguyền rủa sự thiếu quyết đoán hay năng lực kém cỏi đã một lần nữa bỏ lỡ cơ hội đáng lẽ có thể mang lại một cục diện tốt đẹp hơn cho cả mẹ lẫn mình. Hầu hết mọi người trong hoàn cảnh ấy sẽ trở nên cay đắng, nhưng Montacute quá mềm lòng để nuôi dưỡng ác ý, thế nên cậu chỉ chìm đắp trong u sầu.
Ngưỡng cửa trưởng thành chưa qua thì Montacute mất mẹ, và đây tựa như thảm kịch chấm dứt cuộc đời bất hạnh của cậu. Người cha chẳng mảy may chia sẻ nỗi đau, cũng chẳng tìm cách xoa dịu nó. Ngược lại, ông dường như còn gia tăng nỗ lực để vùi dập con trai mình. Mục đích lớn nhất của ông là ngăn cản Lãnh chúa Montacute bước chân vào xã hội, và ông tỏ ra vô cùng thành thạo trong việc thao túng cái khí chất dễ tổn thương ấy đến mức dường như có cơ hội lớn để thành công trong ý đồ nhân đạo của mình. Khi việc học hành của con trai hoàn tất, vị công tước nhất quyết không cấp cho cậu phương tiện để sinh hoạt trong thế giới thượng lưu một cách xứng đáng, thậm chí còn không cho phép cậu đi du lịch. Ngài quyết tâm bẻ gãy ý chí của con trai bằng cách giam cầm cậu ở vùng quê. Những người thừa kế đương triều của một điền trang giàu có khác chắc chắn đã sớm giải quyết xong những khó khăn này. Bằng hối phiếu hay giấy nhận nợ, bằng cách vay nặng lãi sống sượng, hay thông qua việc thanh toán tiền thừa kế sau khi phụ thân qua đời, bằng mọi phương cách mà bạn bè thân hữu hay các văn phòng tài chính có thể cung cấp, nguồn tài chính chiến tranh sẽ xuất hiện. Họ sẽ đánh cược những con ngựa của cha mình tại Newmarket, lấn át các cụ bằng những cô nhân tình, rồi chiếm lấy ghế nghị sĩ ở các khu bầu cử để bỏ phiếu chống lại đảng của cha họ. Nhưng Montacute không thuộc tuýp những người hùng trẻ tuổi từng làm rạng danh phần đầu thế kỷ này. Cậu đã dành quá nhiều thời gian sống giữa phụ nữ và các giáo sĩ đến mức chưa bao giờ tự giải thoát khỏi luật lệ cổ hủ buộc phải kính trọng đấng sinh thành. Hơn nữa, bất chấp sự rụt rè và nhút nhát, cậu cực kỳ kiêu hãnh. Cậu chưa bao giờ quên mình là một người nhà Montacute, dẫu cho cậu cũng đã quên mất — giống như phần lớn thế giới — rằng ông nội cậu từng mang một cái họ khác biệt và khiêm nhường hơn. Mọi thứ đều lu mờ trước thực tế to lớn rằng cậu chính là đại diện đương thời của dòng họ Montacute xứ Bellamont, những người mà chiến tích hào hùng và đầy mưu lược hay sự hào nhoáng trường tồn qua đời sống vương giả suốt bảy trăm năm qua đã trở thành một phần rực rỡ và sôi động trong lịch sử cũng như phong tục nước nhà. Trong mắt cậu, cái chết còn dễ chịu hơn việc để một cái tên như thế bị vấy bẩn chốn ăn chơi của bọn nài ngựa, gái lầu xanh và dân cho vay nặng lãi; và dù nỗi đau do cách đối xử của cha với mẹ hay với chính mình gây ra có lớn nhường nào, thì đôi khi nó cũng bị san bằng bởi niềm xót xa và hổ thẹn khi nghe đến cái tên Bellamont gắn liền với những mánh khóe trường đua hay những cuộc chè chén điên cuồng.
Không bạn bè, hầu như chẳng có lấy một người quen, Montacute tìm kiếm chốn dung thân nơi tình yêu. Người rót ánh hào quang thiêng liêng của sự đồng cảm nữ tính vào cuộc đời tang tóc của cậu chính là người em họ, con gái của bác ruột cậu — một vị quý tộc Anh nhưng định cư ở miền bắc Ireland, nơi ông sở hữu những điền trang rộng lớn. Đó là một gia đình vốn chẳng có lấy một điểm nào phù hợp để xua tan đi sự khép kín và u ám của một tuổi trẻ đầy chán nản và u sầu; họ theo phu-rit-an, nghiêm khắc và câu nệ trong phép tắc, với niềm vui giải trí là tham gia hội Kinh thánh hoặc các buổi hội thảo cải đạo người Do Thái. Nhưng tiểu thư Katherine rất xinh đẹp, và mọi người đều đối xử tử tế với một kẻ vốn xa lạ với sự ân cần, kẻ mà tâm hồn cô độc, mang nỗi niềm u sầu mềm mại đang khao khát tình thương.
Montacute ngỏ lời xin phép cha được kết hôn với người em họ và ngay lập tức bị từ chối. Vị công tước đặc biệt căm ghét gia đình vợ; nhưng thực tế là ông chẳng có ý định để con trai mình kết hôn bao giờ. Ông dự định tự mình duy trì dòng dõi, và vào đúng thời điểm này, giữa những cuộc ăn chơiác quỷ, ông đang toan tính một cuộc hôn nhân thứ hai để bù đắp cho sai lầm thời niên thiếu của mình. Trong hoàn cảnh đó, Montacute — cuối cùng bị kích động đến mức phải phản kháng, được truyền cảm hứng bởi thứ tình yêu mãnh liệt nhất và bị chi phối bởi một ý chí mạnh mẽ hơn cả bản thân — đang lên kế hoạch kết hôn bất chấp sự ngăn cấm của người cha (tình yêu, một ngôi nhà tranh bên hồ nước Ireland và bảy trăm bảng một năm) thì tin dữ ập đến: người cha với vóc dáng lực lưỡng và sức khỏe dồi dào tưởng chừng có tuổi thọ trường thọ như các tộc trưởng thời cổ đại ấy, đã qua đời.
Vị Công tước Bellamont mới không có chút kinh nghiệm nào về thế gian; nhưng dẫu lâu nay bị người cha áp đảo, ông lại sở hữu một nhân cách vững vàng. Mặc dù vòng tròn ý tưởng của ông nhất thiết phải bị thu hẹp, nhưng tất cả đều rạch ròi và kiên định. Trong những năm tháng tuổi trẻ u uất, ông đã thấm nhuần một số ấn tượng và đi đến những kết luận nhất định, và chúng chẳng bao giờ rời bỏ ông. Mẹ ông chính là hình mẫu hoàn hảo về nữ giới trong lòng ông, và ông đã yêu người em họ bởi nàng có nét ngoại hình giống hệt dì mình. Hơn thế nữa, ông quan niệm rằng sợi dây liên kết giữa cha và con phải là sự tin tưởng thấu triệt cùng lòng ân cần tinh tế, và ông tự quyết định rằng nếu ơn trên ban cho ông con cháu, đứa trẻ ấy sẽ luôn tìm thấy ở ông sự tận tụy tuyệt đối cả trong suy nghĩ lẫn tình cảm.
Nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh khác nhau đã khắc sâu vào lòng ông niềm xác tín rằng cái gọi là đời sống thượng lưu chỉ là sự pha trộn giữa phù phiếm và lừa lọc, giữa ngu ngốc và đồi bại; và ông tự thề sẽ không bao giờ dấn thân vào đó. Có lẽ, phần nào đó trong tiềm thức, ông bị thúc đẩy bởi bản tính khép kín cùng cảm giác bất an đầy đau đớn về sự thiếu kinh nghiệm của bản thân, bởi ông nhìn về thế giới ấy với sự e dè chẳng kém gì chán ghét. Với chính trị, theo nghĩa phàm tục của từ này, ông cũng có sự chán ghét tương đương. Ông mang ý niệm cao cả về bổn phận đối với quốc vương và tổ quốc, đồng thời cảm nhận rõ nguồn năng lượng sẵn sàng đáp lại lời gọi của thời cuộc trong lồng ngực. Thế nhưng ông kế vị tước hiệu vào một thời kỳ yên bình, khi chẳng có gì bị mang ra tranh cãi hay dấy lên hiểm họa; còn về những cuộc đấu đá phe phái, vị công tước hoàn toàn đứng ngoài lề; ông chẳng cần gì cả, thậm chí cả chiếc dải ruy băng xanh mà chẳng mấy chốc sau ông buộc phải nhận lấy. Ngoại trừ mái ấm gia đình, toàn bộ tâm trí ông dồn hết vào trách nhiệm của một đại địa chủ. Ông đã nghiền ngẫm những điều ấy từ lâu và nay đang nỗ lực thực hiện chúng. Quả thực, việc hoàn thành những nghĩa vụ đó vừa là nguồn vui vừa là bổn phận đối với ông. Ông yêu vùng quê và đời sống điền viên. Vẻ khép kín của ông dường như tan biến ngay khi đặt chân lên mảnh đất của chính mình. Ông luôn nhã nhặn, nhưng ở đó, ông trở nên ân cần và nồng hậu. Ông thích tụ tập "giới nhà hạt" quanh mình; thích gắn kết "giới nhà hạt" lại với nhau; "giới nhà hạt" dường như luôn là tâm trí hàng đầu của ông; ông tự hào về "giới nhà hạt" nơi ông trị vì tối cao, không chỉ bởi sản nghiệp đồ sộ mà còn bởi sức ảnh hưởng từ nhân cách ngọt ngào nhưng đường bệ, khiến những kẻ vốn độc lập với quyền uy của ông cũng phải lòng mà quy tụ.
Từ hoàn cảnh túng thiếu và chẳng có lấy một ham muốn thời niên thiếu nào được thỏa mãn, Công tước Bellamont đột ngột được triệu tập lên ngôi vị của một điền trang có quy mô và doanh thu chẳng kém gì các tiểu vương quốc trên lục địa; để sinh sống trong những cung điện và lâu đài, được vây quanh bởi một đội ngũ gia nhân kỷ luật, và thấy mọi mong muốn lẫn nhu cầu đều được đáp ứng trước cả khi kịp thốt lên hay dự tính. Thế nhưng ông không hề tỏ ra kiêu ngạo, và tiếp nhận gia tài thừa kế một cách thản nhiên như thể chưa từng trải qua nỗi đớn đau hay nếm mùi thiếu thốn. Người phụ nữ mà trong giờ phút thử thách ông đã chọn làm bạn đời tương lai, dẫu là một nhân vật phi thường, qua sự tương đồng kỳ diệu về cảm xúc — bởi điều đó xuất phát từ nguyên bản tính cách cũng như sự đồng điệu với chồng — đã củng cố thêm cho mọi tâm trạng của ông.
Katherine, Nữ công tước xứ Bellamont, rất xinh đẹp: vóc dáng nhỏ nhắn và thanh mảnh, làn da rạng rỡ cùng nụ cười dẫu hiếm hoi nhưng lại mang nét lôi cuốn và rực rỡ bậc nhất. Mái tóc nâu óng ả và đôi mắt xanh thẳm của nàng trông hệt như một nữ thần rừng; vầng trán nàng biểu thị cho trí tuệ bậc cao, còn đôi môi nói lên sự quyết đoán không khoan nhượng. Nàng là người phụ nữ có những quan điểm bất di bất dịch và những định kiến vững chắc, gọn gàng. Được nuôi dưỡng trong một môi trường khắc khổ, nơi mọi vấn đề đều đã nhận được phán quyết tối hậu, được hưởng lợi thế từ việc thấu triệt chính xác điều gì là chân lý trong giáo lý, điều gì là công minh trong hành xử và điều gì là chuẩn mực trong phép tắc, nàng sớm hình thành thói quen quyết đoán đầy thuận lợi, trong khi một trí tuệ ham học hỏi dùng nguồn năng lượng đáng kể của mình để thấu thị mọi tác giả ủng hộ những quan điểm mà nàng đã sớm định đoạt là đúng đắn.
Nữ công tước rất uyên thâm về thần học thế kỷ XVII. Trong các cuộc tranh luận giữa hai giáo hội, nàng có thể làm khó cả St. Omers lẫn Maynooth. Người ta có thể tìm thấy tác phẩm của Chillingworth trong phòng riêng của nàng. Không phải là việc đọc sách của phu nhân chỉ giới hạn trong thần học; trái lại, nó vô cùng phong phú và rộng mở. Theo phu-rit-an trong tôn giáo, nàng là một người câu nệ trong đạo đức; nhưng trong cả hai, nàng đều thành tâm. Nàng luôn chân thành trong mọi việc. Bản tính nàng bộc trực và giản dị; dẫu có phần cứng nhắc, ít nhất nàng vẫn muốn sống công minh; và dù rất ý thức về địa vị cao quý của bản thân, nàng vẫn thấu triệt các bổn phận của nó đến mức hầu như chẳng có nỗ lực nào nàng chịu trốn tránh, hay sự nhún nhường nào nàng ngần ngại, miễn là nàng tin mình đang làm tròn bổn phận với Chúa hoặc với tha nhân.
Do đó, có thể thấy rằng Công tước Bellamont không hề gặp phải bất kỳ trở ngại nào từ phía người vợ — người vốn ảnh hưởng lớn đến cách hành xử của ông — đối với những kế hoạch mà ông đã vạch sẵn cho cuộc đời mình sau khi kết hôn. Nữ công tước né tránh với một nỗi kinh hoàng kiêu kỳ thế giới thượng lưu vốn sẵn lòng chào đón nàng. Do đó, trong phần lớn thời gian trong năm, gia đình Bellamont cư ngụ tại tòa lâu đài tráng lệ của họ ở một hạt xa xôi, bận rộn với mọi công việc và niềm vui điền dã. Trong khi vị công tước, ở cương vị đứng đầu hội đồng thẩm phán, quản lý điền trang và tham gia các môn thể thao yêu thích, tìm thấy vô vàn việc để làm, thì người vợ của ông lại thúc đẩy các hoạt động từ thiện trong hạt, thành lập trường học, ban ơn cho các nhà thờ, tiếp đón láng giềng, đọc sách và tự khuây khỏa bằng việc kiến tạo những khu vườn tuyệt mỹ mà nàng vô cùng đam mê.
Sau lễ Phục sinh, khi Quốc hội yêu cầu sự hiện diện của họ, sân trong của một trong số ít những cung điện ở London lại mở cửa, và thế giới hay tin Công tước và Nữ công tước xứ Bellamont đã đến Nhà Bellamont từ Lâu đài Montacute. Trong thời gian lưu trú tại thủ đô — khoảng thời gian mà họ luôn cố gắng thu ngắn nhất có thể và chưa bao giờ vượt quá ba tháng — họ tổ chức một loạt các bữa tiệc lớn, chủ yếu có sự tham dự của họ hàng quý tộc và những gia đình trong hạt may mắn cũng có dinh thự tại London. Đều đặn mỗi năm, cũng có một yến tiệc lớn được Công tước và Nữ công tước xứ Bellamont khoản đãi một số thành viên trong hoàng gia, và đều đặn mỗi năm, Công tước và Nữ công tước xứ Bellamont lại có vinh dự dự tiệc tối tại cung điện. Ngoại trừ các buổi dạ vũ hoặc hòa nhạc dưới mái nhà hoàng gia, công tước và nữ công tước không bao giờ xuất hiện ở bất cứ đâu vào buổi tối. Những quý bà lớn tuổi quả thực vẫn luôn gửi thiệp mời đến họ, như phu nhân St. Julians và các nữ hầu tước xứ Deloraine, dù chúng luôn bị từ chối. Nhưng nhà Bellamont vẫn duy trì một thứ quan hệ xã giao truyền thống với một vài gia đình danh giá lớn, thông qua quan hệ họ hàng — vốn rất chằng chịt trong giới quý tộc — hoặc bằng cách thỉnh thoảng tiếp đón những nhân vật quyền quý đi du lịch tại tòa lâu đài hiếu khách của họ.
Tuy nhiên, đối với đại đa số những kẻ thuộc cái gọi là “thế giới”, cái thế giới sinh hoạt tại Phố St. James và Phố Pall Mall, ngó ra từ cửa sổ câu lạc bộ và quan sát nhân loại như Lucretius từ ngọn tháp triết học của ông ta; thế giới của các George và các Jemmy; của ông Cassilis và ông Melton; của nhà Milford và Fitz-Heron, nhà Berner và Egerton, ông Ormsby và ông Alfred Montchesney, Công tước và Nữ công tước xứ Bellamont hoàn toàn là những kẻ xa lạ.
Tất cả những gì thế giới biết là có một vị đại quý tộc mang tước hiệu Công tước Bellamont; rằng có một dinh thự lớn ở London có sân trong mang tên ông; rằng ông sở hữu một lâu đài ở miền quê là niềm tự hào của nước Anh; và rằng vị đại công tước này có một người vợ là nữ công tước; nhưng họ chẳng bao giờ chạm mặt hai người ở bất cứ đâu, và vợ họ, chị em họ cùng những quý bà mà họ ngưỡng mộ hay ngưỡng mộ họ cũng chẳng thể gặp họ tại các buổi vũ hội hay tiệc điểm tâm, dù là khiêu vũ ban sáng hay tiệc trưa ban chiều. Do đó, hiển nhiên là nhà Bellamont có thể là những nhân vật rất lớn, nhưng họ không nằm trong “giới thượng lưu”.
Ắt hẳn phải có một quy luật hữu cơ nào đó, hay thứ định mệnh sử dụng cấu trúc để thực hiện sứ mệnh của mình, nhưng một lần nữa, sự tồn lại của gia tộc Montacute vĩ đại lại dường như phụ thuộc vào sinh mạng của một cá nhân duy nhất. Vị công tước, giống như cha và ông nội mình, chỉ được ban ơn một người con duy nhất, nhưng đứa trẻ đó lại tiếp tục là một cậu con trai. Ngay từ khoảnh khắc cậu chào đời, sự tồn tại của cha mẹ dường như đồng nhất với hạnh phúc của cậu. Công tước và vợ tự nguyện đặt mình ở vị trí thứ yếu so với vị trí mà đứa con cưng của họ ngự trị. Từ giờ phút cậu cất khóc chào đời cho đến thời điểm câu chuyện này mở ra — khi cậu sắp sửa bước vào tuổi trưởng thành — chưa từng có sự quan tâm chăm sóc nào dành cho một sinh linh nhân loại lại được đổ dồn liên tục và tận tụy vào cuộc đời của vị tiểu thiếu gia Montacute như thế. Trong giai đoạn đầu của nền giáo dục, cậu hầu như không rời khỏi nhà. Quả thực, đã có lần cậu được đưa đến Eton, vây quanh bởi những người gia nhân trung thành và đi kèm một gia sư riêng có sự cảnh giác chẳng thua kém gì cảnh sát trưởng; nhưng ngặt nỗi bệnh tinh hồng nhiệt lại bùng phát ngay trong học kỳ đầu tiên của cậu, và Lãnh chúa Montacute lập tức được bốc đi khỏi nơi nguy hiểm ấy, để rồi không bao giờ đặt chân trở lại đó nữa. Năm mười tám tuổi, cậu vào Christ-church. Người mẹ — kẻ đã tự tay nuôi dưỡng cậu — viết thư cho cậu mỗi ngày; nhưng điều đó vẫn chưa đủ, và vị công tước đã thuê một dinh thự ở vùng phụ cận trường đại học để họ có thể thỉnh thoảng gặp mặt con trai trong suốt học kỳ.