Tôi đã đứng ở nơi mà mọi người từng đứng, đối diện với Ngọn tháp Chuông vĩ đại của Bruges, và cũng suy ngẫm như bất kỳ ai từng nghĩ (dẫu có lẽ chưa ai thốt lên thành lời), rằng công trình ấy được dựng lên bất chấp mọi chuẩn mực thông thường của kiến trúc. Nó được tạo hình với sự bất cân xứng đầy tính toán nhằm đạt được một ấn tượng duy nhất và gây choáng ngợp về chiều cao. Đó là một nhà thờ trên những chiếc cà kheo. Nhưng kiểu dị hình siêu việt này lại chính là nét đặc trưng trong toàn bộ trí tưởng tượng và sinh lực của các thành phố vùng Flandre. Flandre sở hữu những phong cảnh phẳng lặng và đỗi tầm thường nhất, nhưng lại có những công trình kiến trúc dữ dội và phóng túng nhất. Ở đây, thiên nhiên vốn dĩ hiền hòa; chính nền văn minh mới là thứ bất kham. Cánh đồng nơi đây phẳng lì như một quảng trường được lát đá; bù lại, đường phố và mái nhà lại náo nhiệt chẳng khác gì khu rừng trong cơn giông bão. Dòng nước chảy qua rừng và đồng cỏ trôi đi êm đềm và hiền hậu hệt như đang luồn lội trong những ống dẫn nước ở London. Thế nhưng chiếc máy bơm nước của giáo xứ lại được chạm trổ đủ mọi sinh vật hoang dã từ chốn thâm sơn cùng cốc. Đương nhiên, một phần điều này đúng với mọi loại hình nghệ thuật. Chúng ta thường bàn về các loài động vật hoang dã, nhưng sinh vật hoang dã nhất lại chính là con người. Trong âm nhạc có những âm thanh cổ xưa và đáng sợ hơn cả tiếng kêu của loài mãnh thú kỳ lạ nhất trong đêm. Và tương tự, cũng có những công trình kiến trúc mang hình thù kỳ dị trong sức mạnh của chúng, tưởng chừng đang chậm rãi vươn lên như những con quái vật từ vũng bùn nguyên thủy, cùng những ngọn tháp nhọn vút lên thình lình tựa một chú chim hoảng hốt bay vụt lên cao.
Sự hoang dã ẩn hiện ngay trong đá ấy chính là biểu hiện cho tinh thần đặc thù của nhân loại. Mọi loài thú đồng nội đều rất mực đoan trang; chỉ có con người mới là kẻ phá xiềng xích. Mọi loài vật đều là vật nuôi trong nhà; duy chỉ có con người mới là kẻ không bao giờ chịu thuần hóa. Mọi loài vật đều hiền lành; chỉ có chúng ta mới là kẻ hoang dã. Và chắc chắn rằng, dẫu thứ năng lượng kỳ quái này hiện hữu trong mọi loại hình nghệ thuật của nhân loại, nó cũng là đặc điểm chung của nghệ thuật Cơ Đốc giáo giữa muôn vàn nền nghệ thuật trên thế giới. Đây mới thực sự là điều người ta muốn ám chỉ khi cho rằng Cơ Đốc giáo mang tính dã man và xuất phát từ sự vô minh. Xét theo thực tế lịch sử thì hoàn toàn không phải vậy; đạo Cơ Đốc ra đời trong thời kỳ văn minh đồng đều nhất mà nhân loại từng chứng kiến.
Nhưng quả thực trong đó có chứa đựng một cái gì đó phá vỡ đi đường nét của vẻ đẹp hoàn mỹ và ước lệ, một thứ làm lu mờ đi đôi mắt vô hồn của bức tượng Apollo bằng những đốm giận dữ và quất roi thúc giục bầy ngựa trong các tác phẩm điêu khắc Elgin lao vào một trận kỵ binh xung phong. Cơ Đốc giáo mang tính hoang dã, theo nghĩa nó thuộc về thời sơ khai; phảng phất trong đó là âm hưởng của một khúc thánh ca da đen. Tôi nhớ có lần trong một cuộc tranh luận, khi tôi ca ngợi âm nhạc mang âm hưởng chiến đấu trong nghi lễ, có người đã hỏi liệu tôi có thể hình dung ra Chúa Jesus bước đi trên phố dẫn đầu một ban nhạc kèn đồng hay không. Tôi đáp rằng tôi có thể hình dung điều đó một cách vô cùng dễ dàng; bởi Chúa Jesus từng tán thành một sự ồn ào tự nhiên trong những thời khắc trọng đại. Khi lũ trẻ trên phố hò hét quá lớn, một số môn đồ ra vẻ ra điều đạo mạo đã bắt đầu quở trách chúng nhân danh sự thanh tao. Ngài đã phán rằng: “Nếu những kẻ này giữ im lặng, thì chính những hòn đá cũng sẽ cất tiếng kêu lên.” Bằng những lời ấy, Ngài đã gọi dậy toàn bộ sự giàu có của sáng tạo nghệ thuật vốn được xây dựng trên nền tảng tín điều này. Bằng những lời ấy, Ngài đã khai sinh ra nền kiến trúc Gothic. Bởi trong một thị trấn như thế này, nơi dường như mọc lên phong cách Gothic tựa như một khu rừng mọc ra những chiếc lá, ở bất cứ đâu và bằng bất kỳ cách nào, bất kỳ viên gạch hay đường gờ kỳ lạ nào cũng có thể được tạc thành một khuôn mặt đang hò hét. Mặt tiền của những công trình đồ sộ chen chúc những chiếc miệng há rộng, những thiên thần ca ngợi Chúa, hay những con quỷ đang thách thức Ngài. Ngay cả vách đá cũng bị bẻ cong và vặn xoắn, đến mức tưởng chừng như đang gào thét. Phép màu đã ứng nghiệm; chính những hòn đá cũng cất tiếng kêu vang.
Nhưng dẫu cho trí tưởng tượng cuồng nhiệt này chắc chắn là nét độc đáo của con người giữa muôn loài, và của nghệ thuật Cơ Đốc giáo giữa các loại hình nghệ thuật, thì nó vẫn nổi bật nhất trong nghệ thuật của vùng Flandre. Mọi công trình Gothic đều tràn ngập những chi tiết kỳ lạ; nhưng đây lại là một tổng thể thiết kế kỳ lạ. Mọi ngôi đền Cơ Đốc giáo đáng để nhắc đến đều có các máng xói hình quái vật; thế nhưng Tháp chuông Bruges tự bản thân nó đã là một chiếc máng xói. Nó là một loài động vật có chiếc cổ dài một cách bất thường, giống hệt một con hươu cao cổ. Ấn tượng về sự phóng đại ấy cứ áp đặt lên tâm trí người ta ở mọi góc phố của một thị trấn Flandre. Và nếu có ai hỏi rằng: “Tại sao người dân ở những vùng đất phẳng này lại theo bản năng mà dựng lên những đài kỷ niệm náo động và cao chọc trời đến vậy?”, câu trả lời duy nhất mà ta có thể đưa ra là: “Bởi vì họ là con người của những vùng đất phẳng này.” Nếu ai đó hỏi: “Tại sao người dân Bruges lại hy sinh kiến trúc và mọi thứ khác để đổi lấy cảm giác về những chiều cao chóng mặt và thiêng liêng ấy?”, chúng ta chỉ có thể đáp rằng: “Bởi vì thiên nhiên chẳng hề cổ vũ họ làm điều đó.”
Khi ngước nhìn Tháp chuông, tôi mỉm cười nhớ đến một số bạn bè của mình ở London, những người hoàn toàn chắc chắn về việc trẻ con rồi sẽ ra sao nếu bạn dành cho chúng cái gọi là “môi trường sống đúng đắn”. Môi trường quả là một thứ phiền phức, bởi đôi khi nó tác động theo chiều hướng tích cực, đôi khi theo chiều hướng tiêu cực, và thường nằm ở khoảng giữa hai thái cực ấy. Một môi trường đẹp có thể khiến một đứa trẻ yêu cái đẹp; nhưng cũng có thể khiến nó cảm thấy chán ghét cái đẹp; và rất có thể là cả hai tác động ấy sẽ trộn lẫn và triệt tiêu lẫn nhau. Nghĩa là, rất có thể môi trường ấy sẽ chẳng tạo ra bất kỳ sự khác biệt nào. Theo lối viết lịch sử mang phong cách khoa học (từng thịnh hành gần đây và nay vẫn là một quy ước), chúng ta luôn liệt kê một danh sách các quốc gia nợ các đặc tính của mình là nhờ vào điều kiện địa lý tự nhiên.
Người Tây Ban Nha (người ta nói thế) vốn nóng tính bởi đất nước họ nóng bức; người Scandinavia ưa phiêu lưu mạo hiểm vì xứ sở họ lạnh giá; người Anh giỏi hàng hải vì họ sống trên đảo; người Thụy Sĩ yêu tự do vì họ là dân miền núi. Mọi thứ nghe qua đều rất hay ho. Chỉ tiếc là tôi hoàn toàn chắc chắn rằng mình cũng có thể bịa ra một danh sách dài dằng dặc với những lập luận hoàn toàn trái ngược, đánh thẳng vào sức ảnh hưởng của môi trường địa lý. Cụ thể như người Tây Ban Nha đã khám phá ra nhiều châu lục hơn người Scandinavia chính vì khí hậu oi bức đã khiến họ lười vận động. Hay như người Hà Lan đã chiến đấu cho tự do quả cảm không kém gì người Thụy Sĩ chính vì xứ sở của họ chẳng có ngọn núi nào. Hoặc như người Hy Lạp và La Mã cổ đại cùng nhiều dân tộc Địa Trung Hải từng đặc biệt căm ghét biển khơi chính vì họ sở hữu vùng biển đẹp nhất, dễ bề dung dưỡng và thuần phục nhất. Tôi có thể kéo dài danh sách ấy mãi mãi. Nhưng dù nó có dài đến đâu đi nữa, thì vẫn có hai ví dụ nổi bật và không thể chối cãi hiện lên rõ mồn một. Thứ nhất là người Thụy Sĩ, những người sống dưới những vách đá dựng đứng đến đến đến ngộp thở và những ngọn tháp tuyết vĩnh cửu, lại hoàn toàn không sản sinh ra chút nghệ thuật hay văn chương nào, và cho đến nay họ vẫn là dân tộc trần tục, thực tế và thạo việc kinh doanh nhất ở châu Âu. Thứ hai là người dân Bỉ, những người sống trên một đất nước phẳng lì như tấm thảm, lại mang trong mình một nguồn năng lượng nội tại, khao khát vươn cao những ngọn tháp của họ cho đến khi chạm tới các vì sao.
Do đó, vì hoàn toàn mơ hồ chuyện một con người sẽ xuôi theo hay chống lại môi trường sống của mình, tôi chẳng thể tự an ủi rằng những cuộc tranh luận hiện đại về môi trường lại có giá trị thực tiễn lớn lao đến thế. Nhưng có lẽ tôi sẽ không bàn thêm về những học thuyết hiện đại này nữa, mà tiếp tục ngắm nhìn Tháp chuông Bruges. Tôi sẽ dành sự chú ý lớn hơn cho chúng nếu như tôi không khá chắc chắn rằng những học thuyết ấy sẽ biến mất từ lâu trước cả khi ngọn tháp chuông này sụp đổ.