Những Câu Chuyện Kể Lại Hai Lần

Lượt đọc: 490 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hôn Lễ Shaker

❊ ❊ ❊

Một ngày nọ, trong căn phòng bệnh của Viện phụ Ephraim — người đã có bốn mươi năm làm trưởng lão cai quản cộng đồng Shaker tại Goshen —, có sự tề tựu của một số vị chức sắc hàng đầu trong giáo phái. Nhiều người đã lặn lội đến từ cơ sở trù phú ở Lebanon, từ Canterbury, Harvard và Alfred, cũng như từ tất cả các địa phương khác nơi giáo dân kỳ lạ này đã biến những ngọn đồi cằn cỗi của New England thành đất màu mỡ nhờ sự lao động có tổ chức của họ. Một vị trưởng lão cũng có mặt ở đó, người đã thực hiện chuyến hành hương dài cả ngàn dặm từ một ngôi làng của những tín đồ tận tụy ở Kentucky để thăm hỏi những người thân thích về mặt tinh thần của mình, tức những đứa con của Thánh mẫu Ann quá cố. Ông đã tham dự bữa tiệc giản dị mà dồi dào trên bàn ăn của họ, đã nhấm nháp thứ rượu táo Shaker nổi tiếng xa gần, và đã hòa mình vào điệu múa thiêng liêng mà người ta tin rằng mỗi bước nhảy đều kéo người say sưa rời xa trần để đưa họ tiến đến sự thanh khiết và phúc lạc trên thiên đàng. Các đạo huynh miền Bắc giờ đây đã nhã nhặn mời ông hiện diện trong một dịp mà sự tề tựu của mọi thành viên lỗi lạc trong cộng đồng của họ là vô cùng cần thiết.

Viện phụ Ephraim đáng kính ngồi trên chiếc ghế bành, đầu tóc bạc phơ và thân hình suy yếu vì tuổi tác, lại thêm phần kiệt quệ bởi một căn bệnh kéo dài mà ai cũng thấy rõ sẽ chẳng mấy chốc mà chuyển giao chiếc gậy tộc trưởng của ông cho người khác. Ngay dưới chân ông là một nam một nữ, cả hai đều khoác tấm áo choàng của giáo Shaker.

“Các huynh đệ của ta,” Viện phụ Ephraim nói với các vị trưởng lão xung quanh, gắng hết sức thốt ra vài lời yếu ớt, “đây là người con trai và con gái mà ta muốn trao phó trọng trách mà Quan Phòng sắp sửa nhút bớt khỏi đôi vai mệt mỏi của ta. Xin hãy nhìn thấu tâm can họ, ta cầu xin các vị, và cho biết liệu chuyển động thầm kín của tâm linh có dẫn dắt sự lựa chọn của ta đi đúng hướng hay không.”

Theo đó, từng vị trưởng lão đều đăm đăm nhìn hai ứng viên bằng ánh mắt dò xét hết mức. Người đàn ông — tên là Adam Colburn — có gương mặt sạm nắng vì lao động đồng áng, nhưng trông thông minh, trầm ngâm và hằn in đủ nỗi nhọc nhằn của cả một đời người, dẫu anh ta vừa bước vào tuổi trung niên. Vẻ bề ngoài của anh có gì đó nghiêm nghị và sự cứng nhắc hiện lên trên toàn bộ vóc dáng — những đặc điểm khiến người ta thường nhầm tưởng anh là một ông giáo làng; mà thực ra, nghề đó anh cũng từng làm trong mấy năm trời. Người phụ nữ, Martha Pierson, đã hơn ba mươi tuổi, gầy gò và xanh xao, đúng như hầu hết các nữ tu Shaker nào cũng thế, và không tránh khỏi cái vẻ ngoài giống như thây ma mà y phục của hội dòng rất hay mang lại.

“Đôi trẻ này hãy còn đang ở những năm tháng mùa hè của cuộc đời,” vị trưởng lão đến từ Harvard, một cụ ông tinh đời, nhận xét. “Ta thích nhìn thấy lớp sương giá mùa thu đọng trên mái tóc họ hơn. Hơn nữa, ta nghĩ họ sẽ phải đối mặt với những cám dỗ đặc biệt bởi những ham muốn xác thịt từng tồn tại giữa họ trước đây.”

“Không đâu, thưa đạo huynh,” vị trưởng lão đến từ Canterbury lên tiếng; “sương muối và sương đen đã hoàn tất công việc của nó trên người Đạo huynh Adam và Đạo tỷ Martha, hệt như chúng ta đôi khi vẫn thấy dấu vết của nó trên những cánh đồng ngô của mình ngay cả khi chúng hãy còn xanh tươi. Và cớ sao chúng ta lại phải hoài nghi sự khôn ngoan trong dụng ý của Viện phụ kính yêu, dẫu cho đôi nam nữ này trong buổi đầu tuổi trẻ đã từng yêu nhau như cách người đời yêu? Chẳng phải trong chúng ta có rất nhiều anh chị em đã sống chung với nhau trong hôn nhân, nhưng khi đã thụ giáo đức tin của chúng ta, họ lại thấy tâm hồn mình được thanh tẩy khỏi mọi thứ tình cảm trần tục chỉ còn giữ lại tình ái thiêng liêng đó sao?”

Dù mối tình thuở ban đầu của Adam và Martha có làm cho việc họ cùng nhau cai quản một ngôi làng Shaker trở nên bất cập hay không, thì quả thật vô cùng kỳ lạ khi đó lại là kết cục cuối cùng của biết bao niềm hy vọng nồng nàn và dịu dàng. Vốn là những đứa trẻ trong các gia đình láng giềng, tình cảm của họ còn có từ trước cả những ngày đến lớp; nó giống như một thứ bản năng bẩm sinh thấm đượm trong mọi tâm tư tình cảm của họ, không hẳn là một ký ức rời rạc mà gắn liền với toàn bộ chuỗi ký ức của họ. Nhưng ngay khi họ vừa đến tuổi thích hợp để kết duyên thì tai họa giáng xuống đầu cả hai thật nặng nề, buộc họ phải tha phương cầu thực bằng lao động chân tay chỉ để kiếm miếng cơm manh áo qua ngày. Ngay cả trong hoàn cảnh ấy, Martha Pierson có lẽ vẫn sẽ đồng ý gắn bó số phận mình với Adam Colburn, và nếu được đảm bảo hạnh phúc của tình yêu đôi lứa, cô sẽ kiên nhẫn chờ đợi những ân huệ kém quan trọng hơn từ vận mệnh. Thế nhưng Adam, với bản tính điềm tĩnh và thận trọng, lại không đành lòng từ bỏ những lợi thế mà một người độc thân có được để lập thân ở đời. Do đó, năm này qua năm khác, hôn sự của họ cứ thế bị trì hoãn.

Adam Colburn từng trải qua nhiều nghề nghiệp, từng đi đây đi đó và chứng kiến biết bao điều của trần thế và cuộc đời. Martha thì kiếm sống khi thì bằng nghề thợ may, khi làm người giúp việc cho vợ nông dân, khi làm cô giáo làng dạy trẻ, lúc lại làm y tá hay người thức canh bệnh nhân, qua đó tích lũy được vốn sống phong phú mà cô ít ngờ tới công dụng cuối cùng của nó. Thế nhưng chẳng có điều gì suôn sẻ đến với cả hai người; chẳng có thời điểm nào sau đó mà việc kết hôn lại là một quyết định khôn ngoan như lúc họ mới lìa xa nhau, vào thời kỳ rực rỡ nhất của tuổi xuân, để đi tìm một vận mệnh tốt đẹp hơn. Mặc dù vậy, họ vẫn sắt son giữ vững niềm tin dành cho nhau. Martha suýt chút nữa đã có thể làm vợ của một nghị sĩ đại diện cho tiểu bang quê nhà, còn Adam cũng có thể chiếm được bàn tay — hệt như anh từng vô tình chiếm lấy trái tim — của một góa phụ giàu có và xinh đẹp. Thế nhưng chẳng ai trong số họ màng đến vận may phú quý nếu không được chia sẻ nó với người kia.

Cuối cùng, sự tuyệt vọng tĩnh lặng — thứ chỉ xuất hiện ở một tâm hồn mạnh mẽ và có phần bướng bỉnh, chẳng chịu khuất phục trước bất kỳ mùa xuân hy vọng thứ hai nào — đã bao trùm lấy tâm can Adam Colburn. Anh tìm gặp Martha và đề nghị họ gia nhập Giáo phái Shaker. Những người cải đạo sang giáo phái này thường bị dòng đời xô đẩy bước qua những cánh cổng hiếu khách của nó nhiều hơn là bị sự cuồng tín lôi kéo, và họ được tiếp đón mà không hề bị tra vấn về động cơ. Vẫn một lòng thủy chung, Martha đặt bàn tay mình vào tay người yêu rồi cùng anh bước về ngôi làng Shaker. Nơi đây, năng lực tự thân của mỗi người, vốn đã được tôi luyện và củng cố qua những gian truân trong quá khứ, chẳng mấy chốc đã mang lại cho họ một địa vị quan trọng trong cộng đồng — nơi các thành viên thường có trí tuệ thấp hơn mức bình thường. Niềm tin và cảm xúc của họ phần nào đã hòa hợp với những người đồng đạo. Adam Colburn dần tạo được uy tín không chỉ trong việc quản lý các công việc trần thế của cộng đồng, mà còn là một giảng sư sắc sảo và đắc lực về giáo lý của họ. Martha cũng không hề kém cạnh trong những bổn phận vốn thuộc về phái nữ. Cuối cùng, khi những yếu đau tuổi già của Viện phụ Ephraim nhắc nhở ông phải tìm người kế vị cho chiếc ghế tộc trưởng của mình, ông đã nghĩ đến Adam và Martha, đồng thời đề xuất khôi phục lại hình thức cai quản nguyên thủy của giáo phái Shaker do Thánh mẫu Ann thiết lập thông qua thân phận của họ. Họ sẽ là cha và mẹ của ngôi làng. Nghi lễ đơn giản phong họ vào cương vị ấy giờ đây sắp sửa được cử hành.

“Con trai Adam và con gái Martha,” Viện phụ Ephraim nói, đăm đăm hướng đôi mắt già nua đầy dò xét về phía họ, “nếu các con có thể tận tâm gánh vác trọng trách này, hãy lên tiếng, để các huynh đệ không còn hoài nghi về sự xứng đáng của các con.”

“Thưa Viện phụ,” Adam đáp, cất lời với sự điềm tĩnh vốn có của mình, “con đã đến ngôi làng của ngài như một kẻ vỡ mộng, chán ngấy thế gian, kiệt quệ vì những muộn phiền dằng dặc, chỉ tìm kiếm sự an toàn trước nghịch cảnh, bởi con chẳng còn hy vọng gì vào may rủi. Ngay cả những ham muốn thành đạt ở đời cũng gần như chết lặng trong con. Con đến đây hệt như một kẻ bước vào ngôi mộ, sẵn sàng ngả mình trong bóng tối và sự lạnh lẽo cốt để đổi lấy sự bình yên và tĩnh lặng. Trong lồng ngực con chỉ còn lại một tình cảm duy nhất chốn trần gian, và nó đã trở nên điềm đạm hơn kể từ thời niên thiếu; thế nên con vô cùng mãn nguyện khi đưa Martha đến đây làm tỷ muội của mình trong chốn cư ngụ mới. Chúng ta là huynh tỷ của nhau, và con cũng không muốn khác đi. Cả trong ngôi làng yên bình này, con đã tìm thấy tất cả những gì con hằng hy vọng — tất cả những gì con khao khát. Con sẽ dốc hết sức mình vì lợi ích tinh thần lẫn vật chất của cộng đồng chúng ta. Lương tâm con không mảy may hoài nghi về chuyện này. Con đã sẵn sàng đón nhận trọng trách.”

“Con nói hay lắm, con trai Adam,” vị viện phụ phán. “Thượng đế sẽ ban phước cho con trong cương vị mà ta sắp sửa từ bỏ.”

“Nhưng còn nữ tu của chúng ta thì sao?” vị trưởng lão đến từ Harvard lên tiếng. “Chẳng lẽ cô ấy không có lời nào để bày tỏ tâm tư của mình hay sao?”

Martha giật mình và mọng môi như thể muốn đưa ra một câu trả lời chính thức cho lời thúc giục này. Thế nhưng, nếu cô thực sự thử làm điều đó, thì có lẽ những ký ức xưa cũ, những tình cảm bị dồn nén bấy lâu từ thời thơ ấu, tuổi trẻ và thời con gái đã tuôn trào từ đáy tim thành những lời lẽ mà việc thốt ra nơi đây sẽ là một tội ác phạm thượng.

“Adam đã thay lời muốn nói,” cô vội vã thốt lên; “tâm tư của anh ấy cũng chính là tâm tư của tôi.”

Thế nhưng khi thốt lên mấy lời ngắn ngủi ấy, Martha trở nên xanh xao đến mức trông cô giống như được chuẩn bị để nằm vào quan tài hơn là đứng trước mặt Viện phụ Ephraim và các vị trưởng lão; cô còn run rẩy, như thể hoàn cảnh và định mệnh của mình có gì đó vô cùng kinh hoàng hoặc đáng sợ. Quả thật, người ta cần đến một thần kinh thép vượt quá sức chịu đựng của nữ giới mới có thể đối diện nổi với ánh mắt đăm đăm của những người đàn ông có uy tín và nổi danh khắp cả giáo phái như thế này. Họ đã chiến thắng được lòng trắc ẩn tự nhiên đối với những yếu đuối và tình cảm phàm tục. Có vị, khi gia nhập giáo phái, đã dẫn theo cả vợ lẫn con, nhưng kể từ giờ phút ấy chưa từng thốt một lời âu yếm với người vợ hay bồng bế đứa con yêu quý nhất lên đầu gối. Có vị khác, khi gia đình từ chối đi theo mình, đã có đủ năng lực — nhờ ơn sủng kiên định thánh thiện — để mặc kệ họ cho lòng nhân từ của thế gian định đoạt. Vị trưởng lão trẻ nhất, một người độ ngũ tuần, được nuôi dưỡng từ thưa bé trong một ngôi làng Shaker, và người ta đồn rằng ông chưa từng nắm lấy bàn tay của một người phụ nữ nào, cũng chẳng có chút khái niệm nào về một mối liên kết nào gần gũi hơn ngoài tình cảm huynh đệ lạnh lùng của giáo phái. Cụ Viện phụ Ephraim là nhân vật đáng sợ hơn cả. Thời trẻ, ông từng là một kẻ trác táng phóng đãng, nhưng đã được chính Thánh mẫu Ann cảm hóa, và từng chìm đắm trong sự cuồng tín điên cuồng của những tín đồ Shaker đời đầu. Truyền thuyết râm ran bên lò sưởi trong làng kể rằng Thánh mẫu Ann đã phải dùng một thanh sắt nung đỏ để thui đốt trái tim bằng da bằng thịt của ông thì nó mới có thể được thanh tẩy khỏi những dục vọng trần tục.

Dẫu sự thật có thế nào đi nữa, tội nghiệp Martha vẫn mang một trái tim đàn bà, một trái tim vô cùng mềm yếu, và nó cứ thắt lại trong lồng ngực khi cô nhìn quanh những cụ già kỳ lạ ấy, rồi từ họ chuyển sang nét mặt điềm tĩnh của Adam Colburn. Thế nhưng, nhận ra các vị trưởng lão đang nhìn mình bằng ánh mắt hoài nghi, cô hớp lấy không khí rồi lại cất lời.

“Với chút sức lực còn lại sau bao giông bão cuộc đời,” cô nói, “tôi đã sẵn sàng gánh vác trọng trách này, và sẽ làm hết khả năng của mình.”

“Các con của ta, hãy cầm tay nhau đi,” Viện phụ Ephraim lên tiếng.

Họ làm theo. Các vị trưởng lão đứng vây quanh, còn vị viện phụ gắng gượng nhổm người dậy thẳng lưng hơn một chút, nhưng vẫn ngồi trên chiếc ghế bành lớn của mình.

“Ta bảo các con cầm tay nhau,” ông nói, “không phải bằng tình cảm trần thế, bởi các con đã vĩnh viễn rũ bỏ xiềng xích của nó rồi, mà là với tư cách huynh tỷ trong tình yêu thiêng liêng và là những người giúp đỡ lẫn nhau trong nhiệm vụ đã được định sẵn. Hãy truyền dạy cho người khác đức tin mà các con đã tiếp nhận. Hãy rộng mở những cánh cổng — ta trao cho các con chìa khóa đây — hãy mở toang chúng cho bất cứ ai chịu từ bỏ điều ác ở đời và đến đây để sống một cuộc đời thanh khiết, bình yên. Hãy tiếp đón những kẻ lỡ vận đã thấu triệt sự phù phiếm của trần gian; hãy tiếp đón những đứa trẻ thơ, để chúng không bao giờ phải học cái bài học khốn khổ ấy. Và nguyện xin ơn trên phù hộ cho công sức của các con; để thời khắc ấy mau chóng đến gần, khi sứ mệnh của Thánh mẫu Ann hoàn thành trọn vẹn, khi con người không còn sinh ra rồi chết đi nữa, và khi kẻ sống sót cuối cùng của giống loài phàm trần — một ông già mệt mỏi giống như ta — sẽ nhìn mặt trời lặn xuống mà không bao giờ mọc lên lần nữa trên một thế giới đầy tội lỗi và đau thương.”

Cụ viện phụ ngả người ra sau vì kiệt sức, và các vị trưởng lão xung quanh có đầy đủ lý do để cho rằng thời khắc những người đứng đầu mới của ngôi làng phải bước vào bổn phận tộc trưởng đã điểm. Mải chăm sóc Viện phụ Ephraim, ánh mắt họ đều rời khỏi Martha Pierson — người ngày càng trở nên xanh xao, đến cả Adam Colburn cũng chẳng mảy may chú ý. Thật vậy, anh đã rụt tay mình ra khỏi tay cô và khoanh tay lại với cảm giác mãn nguyện của một kẻ đạt được hoài bão. Thế nhưng bên cạnh anh, Martha cứ nhợt nhạt dần, cho đến khi, tựa như một thây ma trong bộ liệm, cô ngã quỵ xuống dưới chân người tình thuở trẻ; bởi vì, sau bao thử thách kiên cường chịu đựng, trái tim cô đã không thể gánh chịu thêm sức nặng của nỗi thống khổ cô dội này được nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.