Cách đây vài mùa hè, khi đang lưu lại Edgartown trên hòn đảo Martha’s Vineyard, tôi có quen biết với một thợ khắc bia mộ từ sâu trong nội địa Massachusetts lặn lội tới đây tìm kế sinh nhai. Chuyến mưu sinh này tỏ ra vô cùng suôn sẻ đến mức người bạn của tôi hi vọng có thể đổi phiến đá phiến hoa cương ra bạc vàng với tổng trị giá ít nhất một ngàn đô-la chỉ trong vài tháng trú ngụ tại Nantucket và Vineyard. Nếp sống u tịch cùng tinh thần mộc mạc, nguyên thủy vẫn còn lưu giữ nơi cư dân các hòn đảo ấy, đặc biệt là Martha’s Vineyard, đã đảm bảo cho những người đã khuất của họ một sự tưởng nhớ bền lâu và thiết tha hơn điều mà sự đổi mới hằng ngày cùng dòng đời nhộn nhịp ngoài kia có thể mang lại cho những bóng ma quá khứ. Thế nhưng, dẫu gia đình nào cũng mong dựng lên một đài tưởng niệm cho người thân đã khuất, luồng gió tinh khôi từ Đại Dương lại ban cho người dân xứ đảo thứ sức khỏe cùng tuổi thọ dồi dào, khiến cho một nghệ sĩ bám trụ với nghề này phải đối mặt với cảnh thiếu thốn công việc đến não nề. Tấm bia mộ của chính ông, ghi lại cái chết vì đói khát, có lẽ sẽ là tác phẩm đầu tay minh chứng cho tay nghề của ông. Do đó, bia mộ phần lớn vẫn là một mặt hàng nhập khẩu.
Trong những dạo bước qua nghĩa trang Edgartown — nơi những người chết đã nằm lại lâu đến nỗi đất đai, từng được bồi bổ bởi sự mục rữa của họ, nay đã quay lại vẻ cằn cỗi nguyên thủy — tại nghĩa trang cổ kính ấy, tôi đã chú ý đến vô số loại hình điêu khắc lăng mộ. Những tấm bia lâu đời hơn, có niên đại cách nay từ một thế kỷ trở lên, sở hữu phần viền chạm trổ công phu những đóa hoa và được điểm xuyết bởi vô số hình đầu lâu, xương chéo, lưỡi hái, đồng hồ cát cùng những biểu tượng tang tóc khác của cõi chết, thỉnh thoảng lại có thêm một thiên thần có cánh dẫn dắt tâm hồn người tang chế hướng lên cao. Những sản phẩm mang gu thẩm mỹ Gothic này chắc chắn vượt xa khả năng thuộc địa vào thời điểm đó, và có lẽ đã được chạm khắc tại London rồi vượt đại dương mang tới đây để tưởng niệm những bậc hiền tài quá khứ của hòn đảo hiu quạnh này. Những lăng mộ mới hơn chỉ đơn thuần là phiến đá phiến theo kiểu thông thường, chẳng có chút hoa văn thừa thãi nào làm nổi bật những dòng khắc trơ trọi. Nhưng có những ngôi mộ khác — và đó mới là những ngôi mộ gây ấn tượng sâu sắc nhất đối với thị hiếu và cảm xúc của tôi — được đẽo thô sơ từ những khối đá xám của hòn đảo, rõ ràng bởi đôi bàn tay không chuyên của bạn bè và thân nhân còn sống sót. Trên một vài ngôi mộ chỉ khắc độc chữ cái đầu của tên; vài ngôi khác thì mang những dòng văn xuôi hoặc thơ ca sai chính tả, khắc sâu đến mức rêu phong và những cơn mưa mùa đông qua nhiều năm cũng chẳng thể xóa nhòa. Chính những nơi đó, đó mới là những nấm mồ nơi người thân yêu đang giấc ngủ ngàn thu. Sự giả dối và tính hư vinh của những lời ca tụng trên bia mộ vốn là một đề tài châm biếm xưa cũ; nhưng khi lòng ái mộ và nỗi đau buồn tự tay khắc nên từng con chữ bằng lao nhọc đớn đau của chính mình, thì ta có thể chắc chắn rằng họ đang chép lại từ chính trang sách ghi trong tim.
Người quen của tôi — vị thợ điêu khắc ấy, ông hoàn toàn có quyền chia sẻ danh hiệu đó với Greenough, cũng giống như người thợ sơn biển hiệu dẫu sao cũng là họa sĩ chẳng kém gì Raphael — đã tìm được thị trường sẵn có cho mọi phiến đá cẩm thạch trơn của mình cùng công việc bận rộn là khắc chữ và trang trí chúng. Ông là một người đàn ông lớn tuổi, hậu duệ của dòng tộc Thanh giáo Wigglesworth lâu đời, mang trong mình sự chất phác và thuần khiết cả về tâm hồn lẫn trí tuệ mà ngẫm lại, tôi thấy thật hiếm hoi giữa chốn người Yankee chúng ta hơn bất kỳ cộng đồng nào khác. Bất chấp mái đầu bạc phơ và vầng trán nhăn nheo, ông chẳng khác nào một đứa trẻ trong mọi chuyện ngoại trừ những gì liên quan đến công việc của chính mình; có vẻ như, nếu trí tưởng tượng không đánh lừa tôi, ông nhìn nhận nhân loại không qua mối quan hệ nào khác ngoài việc họ là những kẻ đang cần bia mộ, và vốn hiểu biết văn chương của ông rõ ràng rất ít ỏi về cả văn xuôi lẫn thơ ca nếu chúng chưa từng được khắc lên đá phiến hay cẩm thạch vào lúc này hay lúc khác. Nhiệm vụ và sứ mệnh duy nhất của ông giữa những người hành hương bất tử nơi lạm mộ — bổn phận mà Đấng Quan Phòng đã phái ông lão xuống trần gian, tựa như cầm sẵn chiếc đục trên tay — là dán nhãn cho những thể xác đã khuất, kẻo tên tuổi họ bị lãng quên trong ngày Phục Sinh. Thế nhưng, trong một phạm vi hẹp ngủi, ông vẫn góp nhặt được vài nhành hoa khôn ngoan của trần thế, và hơn cả trần thế — mùa màng thu hoạch từ bao nấm mồ. Và dẫu nghề nghiệp của ông có vẻ tang tóc đến đâu, ông vẫn là một lão già vui tươi hết mức mà sức khỏe, sự chính trực cùng một tâm hồn vô tư có thể tạo nên, và thường bắt tay vào công việc với một dòng tưởng niệm đau thương nào đó bằng thứ tinh thần thôi thúc một người cất tiếng hát trong lúc lao động. Nhìn chung, tôi thấy ông Wigglesworth là một nhân vật thú vị, thường mang tính giáo dục, dẫu chưa hẳn là hấp dẫn; và một phần vì sức hút từ sự đồng điệu với ông, phần lớn hơn bởi công việc của ông luôn có sức hấp dẫn bất biến đối với “con người sinh ra từ đàn bà”, tôi thường dành vài giờ mỗi ngày tại xưởng của ông. Sự cổ quái trong lời ăn tiếng nói cùng tính chân thực không hiếm gặp ở chúng — một sự thật được cô đọng và nhấn mạnh bởi tầm nhìn hạn hẹp của ông — đã mang lại hương vị đậm đà cho câu chuyện của ông, thứ mà sự đời và sự tu dưỡng thông thường ngoài kia sẽ phá hủy ngay lập tức.
Thỉnh thoảng chúng tôi bàn luận về ưu điểm riêng của các loại đá cẩm thạch khác nhau, với vô số phiến đá đang tựa vào tường xưởng, hoặc đôi khi một hai tiếng đồng hồ trôi qua thật yên ả chẳng một lời từ cả hai phía trong lúc tôi ngắm nhìn nhát đục của ông khéo léo gọt giũa từng chữ cái tên họ của dòng họ Norton, Mayhew, Luce, Dagget cùng những gia tộc lâu đời bất tử khác của Vineyard. Thường thì với niềm kiêu hãnh của một nghệ sĩ, cụ thợ điêu khắc nhân hậu lại nhắc về những tác phẩm yêu thích do tài nghệ ông tạo nên đang rải rác khắp các nghĩa trang làng quê ở New England. Nhưng niềm vui thích chính yếu và mang tính giáo dục nhất của tôi là được chứng kiến những cuộc gặp gỡ giữa ông và các khách hàng, những người đưa ra vô số cuộc bàn thảo bất tận về hình dáng cùng kiểu cách của đài tưởng niệm mong muốn, về người tài đức đã khuất cần được tưởng niệm, nỗi thống khổ cần được giãi bày, và cuối cùng là mức giá rẻ nhất bằng đô-la và xu để có được một bản phiên âm cẩm thạch cho cảm xúc của họ. Quả thực, tâm trí tôi đã thu nhận vô số ý tưởng mới mẻ, có lẽ sẽ còn lưu lại trong đó lâu hơn cả lớp đá cẩm thạch cứng nhất của ông Wigglesworth chịu đựng những nhát đục sâu nhất.
Một bà cụ lớn tuổi đến đặt làm đài tưởng niệm cho mối tình đầu của bà, người đã bị một con cá voi giết chết ngoài Thái Bình Dương từ ngót nghét bốn mươi năm trước. Thật kỳ lạ khi ấn tượng mãnh liệt về cảm xúc thuở ban đầu ấy lại có thể tồn tại qua những đổi thay trong cuộc đời sau này của bà, quãng thời gian mà bà đã làm vợ, làm mẹ, và theo như tôi có thể đánh giá, là một người phụ nữ sung túc và hạnh phúc. Tự chiêm nghiệm trong lòng, tôi thấy nỗi buồn suốt đời ấy — theo như bà hoàn toàn tin tưởng — lại là một trong những hoàn cảnh may mắn nhất trong cuộc đời bà. Nó đã ban cho tâm trí bà một vẻ đẹp lý tưởng; nó giữ cho bà sự thanh cao và ít vướng bận trần tục hơn so với lẽ ra bà phải có, bằng cách tách một phần sự đồng cảm của bà khỏi mặt giữa trần gian. Giữa chốn phồn hoa nhộn nhịp, áp lực của lo toan thế tục cùng tất cả chủ nghĩa vật chất nồng ấm của cuộc đời này, bà vẫn trò chuyện với một bóng hình, và trở nên tốt đẹp hơn nhờ mối giao cảm ấy. Vẫn trung thành với người chồng gắn bó tuổi xế chiều, và yêu thương ông bằng một tình cảm chân thật hơn nhiều so với những gì bà từng dành cho giấc mơ thời thiếu nữ, bà vẫn giữ một niềm tin tưởng tượng hướng về người nằm lại đáy đại dương; nhờ thế mà một nhân cách bình thường đã được nâng cao và thanh lọc. Những tiếng thở dài của bà đã trở thành hơi thở từ Thiên Đường rót vào tâm hồn. Bà cụ khát khao thiết tha rằng đài tưởng niệm dự định kia sẽ được trang trí bằng một đường viền chạm trổ các loài thực vật biển đan xen cùng vỏ ốc xoắn, những thứ có lẽ đang phấp phới trôi trên bộ xương người người yêu hoặc vương vãi xung quanh anh nơi đáy sâu thẳm của Thái Bình Dương. Nhưng vì nhát đục của ông Wigglesworth không đủ sức đảm đương nhiệm vụ đó, bà đành phải bằng lòng với một bông hồng đang cúi đầu trên chiếc cành gãy.
Sau khi bà ra đi, tôi nhận xét rằng biểu tượng đó không phải là sự lựa chọn phù hợp nhất.
“Thế nhưng,” người bạn thợ điêu khắc của tôi lên tiếng, gói gọn trong hình ảnh ấy những suy nghĩ vừa chạy qua tâm trí tôi, “bông hồng gãy cành ấy đã tỏa hương thơm ngọt ngào suốt bốn mươi năm cuộc đời của người phụ nữ tốt bụng nọ.”
Hiếm khi tôi tìm được nguồn tư liệu suy ngẫm thú vị như trường hợp trên. Tôi nghĩ chẳng có vị khách nào lại khiến tôi cảm thấy khó chịu hơn một ông lão đến cùng người vợ thứ tư bám chặt lấy cánh tay, để đặt làm bia mộ cho ba người vợ trước từng chung chăn gối với ông ta. Tôi chăm chú quan sát với chút băn khoăn liệu ký ức của ông ta về bất kỳ người vợ nào có đượm tình hơn hai người kia không, nhưng chẳng thể tìm thấy dấu hiệu nào như thế. Cả ba tấm bia mộ đều chung một chất liệu và hình dáng, mỗi cái đều được trang trí chạm nổi hình hai cây liễu rủ, một trong số những cái cây đồng cảm ấy ngả mình ôm lấy cây bên cạnh — vốn là cây bị gãy ngang thân và tựa vào một chiếc bình đựng tro cốt. Quả thực, đây là biểu tượng quen thuộc của ông Wigglesworth dành cho nỗi đau mất mát phu thê. Tôi cảm thấy rùng mình trước gã đa thê đầu bạc đã đánh mất hoàn toàn ý nghĩa thiêng liêng về tính cá thể trong hôn nhân, đến mức tôi tưởng chừng lão ta phải đếm trên đầu ngón tay xem có bao nhiêu người phụ nữ từng ngủ bên gác tía nay đang ngủ yên trong nấm mồ. Thậm chí còn có — nếu tôi có trách oan lão thì cũng chẳng có gì to tát — một cái nhìn liếc xéo sang người vợ đang sống bên cạnh, tựa hồ lão đang muốn ngã giá hời hơn bằng cách đặt bốn tấm bia mộ trọn gói.
Tôi cảm thấy dễ chịu hơn khi gặp một vị thuyền trưởng săn cá voi già cỗi, cục mịch, người đưa ra chỉ dẫn cho một tấm bia đá cẩm thạch bản lớn được chia làm hai ngăn, một ngăn khắc văn tưởng niệm người vợ quá cố và ngăn còn lại để trống cho đến khi cái chết tự khắc tên ông ta lên đó. Như thường thấy ở những ngư dân săn cá voi tại Martha’s Vineyard, phần lớn cuộc đời của người góa phụ bị bão tố tơi tả ấy đã trôi dạt trên những vùng biển xa xôi, khiến cho trong suốt hai mươi năm hôn nhân, ông ta hiếm hoi lắm mới có vỏn vẹn ba năm — và những khoảng thời gian ấy lại ngắt quãng rời rạc — được sống dưới mái nhà của chính mình. Nhờ thế mà người vợ thuở thanh xuân, dẫu qua đời khi cả hai đã xế bóng chiều tà, vẫn giữ nguyên những giọt sương mai ngày cưới tươi rói xung quanh ký ức của bà.
Những quan sát đã mang lại cho tôi một ý niệm, và được ông Wigglesworth xác nhận, rằng các ông chồng tỏ ra chung thủy hơn trong việc dựng đài tưởng niệm cho người vợ quá cố so với các góa phụ dành cho người chồng đã khuất của họ. Tôi không đến nỗi cay nghiệt để tưởng tượng rằng phụ nữ kém đàn ông hơn trong việc cảm thấy chắc chắn về lòng chung thủy của chính mình đến mức không dám trao đi một lời thề trên phiến đá cẩm thạch. Thực tế có lẽ là thế này: trong khi đàn ông có thể nhìn nhận những người bạn đời đã mất như những ký ức tách biệt khỏi bản thân họ, thì phụ nữ, mặt khác, lại ý thức rõ rằng một phần bản thể của họ đã cùng người ra đi đến bất cứ phương trời nào. Hồn gắn kết với hồn, bụi trần sống có sự đồng cảm với bụi trần nơi nấm mồ; và chính nhờ sức mạnh của sự đồng cảm ấy, người vợ của kẻ đã khuất lại càng e ấp, nhạy cảm hơn trong việc gợi nhắc thế giới về sự tồn tại của nó. Mối liên kết ấy vốn đã đủ mạnh mẽ; chẳng cần đến bất kỳ biểu tượng hữu hình nào. Và dẫu một chiếc bóng luôn bước đi bên cạnh nàng và hơi chạm của bàn tay lạnh giá đang đặt lên lồng ngực nàng, thì sự sống — và có lẽ cả những khát khao tự nhiên của nó — vẫn có thể sưởi ấm trong nàng, truyền cho nàng những hy vọng hạnh phúc mới. Khi ấy liệu nàng có muốn đánh dấu một nấm mồ mà hương thơm của nó vẫn còn thoang thoảng trên chiếc gối của đêm tân hôn thứ hai? Không, mà đúng hơn là san phẳng gò đất xanh ấy hòa lẫn với đất đai xung quanh, tựa như khi nàng đào bới lại trái tim đã chôn vùi của mình, nơi đó đã ngừng là một nấm mồ.
Thế nhưng, bất chấp những nét đượm buồn cảm xúc ấy, tôi đã vô cùng buồn cười trước một sự cố mà tôi không may mắn được tận mắt chứng kiến, nhưng được ông Wigglesworth kể lại với sự hóm hỉnh đáng kể. Một phu nhân trong thị trấn, sau khi nhận được tin dữ về người chồng tử nạn trên biển, đã đặt làm một tấm bia cẩm thạch đẹp đẽ và ngày ngày đến theo dõi tiến trình nhát đục của người bạn tôi. Một buổi chiều nọ, khi bà cụ và người thợ điêu khắc đang chìm đắm ngay giữa dòng văn tưởng niệm — thứ mà linh hồn người đã khuất hẳn đã rất được an ủi khi đọc được — thì ai lại bước vào xưởng chứ, nếu không phải là chính người quá cố, nguyên vẹn cả thể xác lẫn linh hồn! Anh ta đã được vớt lên từ biển, và hiện tại chẳng hề có nhu cầu gì về bia mộ hay lời tưởng niệm.
“Và rồi,” tôi hỏi, “người vợ đã chịu đựng cú sốc bất ngờ vui sướng ấy như thế nào?”
“Chà,” ông cụ đáp, làm sâu thêm nụ cười nhăn nhở trên chiếc đầu lâu mà nhát đục của ông vừa lúc ấy đang chạm tới, “thú thật tôi cảm thấy thương cho tội nghiệp người đàn bà ấy; đó là một trong những khối cẩm thạch đẹp nhất của tôi — thế mà lại bị phí hoại cho một kẻ hãy còn sống!”
Một người phụ nữ duyên dáng đi cùng cô con gái xinh xắn như nụ hồng đến chọn bia mộ cho người con gái sinh đôi, vừa qua đời một tháng trước. Tôi ấn tượng với bản chất khác biệt trong cảm xúc của họ dành cho người đã khuất. Người mẹ điềm tĩnh và cam chịu một cách đau xót, nhận thức rõ ràng về sự mất mát của mình, tựa như một món báu vật mà bà không phải lúc nào cũng sở hữu, và do đó từng ý thức rằng nó có thể bị tước đoạt khỏi tay mình; nhưng đứa con gái rõ ràng chẳng có chút nhận thức thực sự nào về những gì Thần Chết đã làm. Tâm trí con bé biết điều đó, nhưng trái tim thì không. Tôi có cảm giác rằng, qua dấu ấn và áp lực mà người chị đã khuất để lại trong tâm hồn người sống sót, cảm xúc của con bé gần như tương tự như thể nó vẫn đang đứng cạnh bên, tay trong tay cùng người đã khuất nhìn ngắm những phiến đá cẩm thạch, rồi thỉnh thoảng nó lại ngoảnh nhìn xung quanh với nụ cười rạng rỡ, để rồi khi nụ cười đồng điệu kia đã phai tàn vĩnh viễn, nụ cười ấy nhanh chóng trở nên lu mờ bối rối. Biết đâu nhận thức của con bé lại đúng đắn hơn sự phản chiếu của nó; biết đâu người chị đã khuất lại là một người bạn gắn bó hơn cả khi sinh thời.
Hai mẹ con trò chuyện hồi lâu với ông Wigglesworth về một bài văn tưởng niệm phù hợp, và cuối cùng chọn một câu thơ thông thường với những vần điệu khập khiễng vốn đã được khắc lên vô số tấm bia mộ. Nhưng khi chúng ta chế giễu sự sáo rỗng của những vần thơ lăng mộ, chúng ta quên mất rằng Nỗi Buồn đọc được trong đó những tầng sâu xa hơn nhiều so với khả năng của chúng ta, và tìm thấy một ý nghĩa thâm thúy, riêng biệt trong thứ vốn dường như quá mơ hồ và vô hồn nếu không được bà giải mã. Bà làm mới lại lời văn tưởng niệm, dẫu cho chính xác cùng những con chữ ấy có thể đã phục vụ cho hàng ngàn nấm mồ.
“Thế nhưng,” sau đó tôi nói với ông Wigglesworth, “họ hoàn toàn có thể đưa ra một lựa chọn tốt hơn thế này. Trong lúc hai người đang bàn thảo chủ đề ấy, tôi đã ấn tượng bởi ít nhất một tá biểu cảm giản dị và tự nhiên phát ra từ đôi môi của cả người mẹ lẫn đứa con gái. Một trong số đó hẳn đã tạo nên một dòng khắc vừa độc đáo vừa thích hợp biết bao.”
“Không, không!” người thợ điêu khắc vừa lắc đầu vừa đáp; “có rất nhiều sự an ủi được thâu lượm từ những đoạn thơ vụn vặt cổ xưa này, thế nên tôi vẫn luôn gợi ý chúng hơn là bất kỳ thứ thơ thẩn kiểu cách mới mẻ nào. Và bằng cách nào đó chúng dường như co giãn để vừa vặn với một nỗi buồn lớn và thu mình lại để khớp với một nỗi buồn nhỏ.”
Không hiếm khi những hình ảnh nực cười lại được khơi gợi từ những gì diễn ra giữa ông Wigglesworth và khách hàng của ông. Một nữ gia chủ sắc sảo quản lý một quán trọ trong thị trấn rất muốn có được hai hoặc ba tấm bia mộ cho những người thân đã khuất trong gia đình, và trả tiền cho những món hàng trang nghiêm ấy bằng cách nhận người thợ điêu khắc đến trọ ăn. Ngay lúc đó, một tưởng tượng xuất hiện trong tâm trí tôi: ngài Wigglesworth tốt bụng ngồi vào bàn ăn trên một tấm bia mộ phẳng rộng, vừa đục đẽo một trong những tiểu thiên thần cẩm thạch mũm mĩm của chính mình, vừa gặm một cặp xương chéo và uống nước từ một chiếc đầu lâu rỗng hoặc có lẽ là một chiếc bình đựng nước mắt hay hũ đựng tro cốt, trong khi những đứa con đã khuất của nữ chủ nhà đang phục vụ ông trong bữa tiệc rợn người ấy. Khi tôi kể bức tranh vô nghĩa này cho ông lão nghe, ông cười lớn sảng khoái và tuyên bố khiếu hài hước của tôi thật đúng điệu.
“Tôi đã sống bên một chiếc bàn như thế suốt đời mình,” ông bảo, “và ăn chẳng ít đá phiến lẫn cẩm thạch đâu.”
“Thật là một món ăn khó nuốt,” tôi mỉm cười đáp lại, “nhưng có vẻ như ông cũng thấy chúng rất dễ tiêu hóa đấy chứ.”
Một người đàn ông trạc ngũ tuần với vẻ mặt khắc khổ, khó chịu đặt làm một tấm bia cho ngôi mộ của kẻ thù cay đắng, người từng cùng ông ta gây chiến suốt nửa cuộc đời, đưa cả hai đến chỗ khốn cùng và lụn bại chung. Bí mật của hiện tượng này nằm ở chỗ lòng căm thù đã trở thành nguồn nuôi dưỡng và niềm vui thích cho tâm hồn khốn khổ ấy; nó thay thế cho mọi tình cảm thân thiện; nó thực sự là một mối dây liên kết sự đồng cảm giữa chính ông ta và kẻ chia sẻ mối thù ấy; và khi đối tượng ấy chết đi, kẻ thù không thể nguôi ngoai lại chính là người tang chế duy nhất cho người đã khuất. Ông ta bày tỏ ý định được chôn cất cạnh kề bên kẻ thù của mình.
“Tôi nghi ngờ liệu tro cốt của họ có hòa quyện vào nhau hay không,” cụ thợ điêu khắc nhận xét với tôi; bởi vì trong các quan niệm của ông thường phảng phất chút trần tục.
“Ồ có chứ,” tôi đáp, người đã ngẫm nghĩ hồi lâu về sự cố ấy; “và khi họ sống lại, những kẻ thù cay đắng này có thể nhận ra họ là những người bạn thân thiết. Tưởng như thứ họ nhầm tưởng là căm ghét hóa ra chỉ là tình yêu đeo mặt nạ.”
Một quý ông có sở thích khảo cổ đã sắm sửa một đài tưởng niệm cho một người da đỏ ở Chabbiquidick — một trong số ít những người còn mang dòng máu thuần khiết ở vùng đó, và được cho là tù trưởng thế tập hậu duệ của vị thủ lĩnh từng chào đón Thống đốc Mayhew đến Vineyard. Ông Wigglesworth đã dốc hết tài nghệ điêu khắc một cây cung gãy cùng bó tên v rải rác để tưởng nhớ những thợ săn và chiến binh có dòng giống đã kết thúc tại nơi đây, nhưng ông đồng thời cũng chạm trổ một tiểu thiên thần, ngụ ý rằng người da đỏ tội nghiệp ấy cũng chia sẻ niềm hy vọng bất tử của người Cơ Đốc giáo.
“Sao cơ,” tôi nhận xét, đưa ra cái nhìn ngược đời về đứa trẻ có cánh cùng cung tên, “trông nó giống mộ của Thần Tình Ái hơn là mộ của một tù trưởng da đỏ đấy chứ.”
“Anh nói nhảm nhí,” người thợ điêu khắc nói, mang theo niềm kiêu hãnh bị tổn thương của nghệ thuật. Rồi ông nói thêm với bản tính hiền lành quen thuộc, “Làm sao Thần Tình Ái có thể chết được khi vẫn còn những thiếu nữ xinh đẹp thế này ở Vineyard?”
“Rất đúng,” tôi đáp; và suốt quãng thời gian còn lại trong ngày, tôi nghĩ về những chuyện khác ngoài bia mộ.
Trong lần gặp gỡ tiếp theo, tôi thấy ông đang đục một cuốn sách mở trên tấm bia đá cẩm thạch, và kết luận rằng nó nhằm biểu thị uyên bác của vị mục sư dòng chữ đen thuộc trường phái Cotton Mather. Tuy nhiên, hóa ra nó lại là biểu tượng cho kiến thức kinh thánh của một bà cụ chưa từng đọc gì ngoài Kinh Thánh của mình, và lăng mộ là một sự tri ân dành cho lòng đạo đức cùng những việc làm tốt đẹp của bà từ giáo hội chính thống nơi bà từng là thành viên. Tương phản kỳ lạ với đài tưởng niệm của người phụ nữ Cơ Đốc này là lăng mộ của một kẻ vô thần, theo chỉ dẫn của chính hắn, mang một tuyên bố về niềm tin của hắn rằng tâm hồn bên trong sẽ bị dập tắt như một ngọn lửa, và sự hư vô mà hắn sinh ra sẽ tiếp nhận hắn lần nữa.
Ông Wigglesworth đã tham khảo ý kiến tôi về sự thích hợp của việc cho phép tro cốt của một người chết thốt lên tín điều khủng khiếp này.
“Nếu tôi nghĩ rằng,” ông nói, “có một phàm nhân duy nhất đọc dòng chữ khắc mà không thấy rùng mình, chiếc đục của tôi sẽ không bao giờ cắt một chữ nào lên đó. Nhưng khi nấm mồ thốt ra những lời dối trá ấy, tâm hồn con người sẽ nhận ra sự thật bằng chính sự kinh hãi của mình.”
“Sự thật sẽ là thế,” tôi nói, bị ấn tượng bởi ý tưởng đó. “Kẻ vô thần tội nghiệp có thể cố gắng rao giảng những lời lộng ngôn từ ngôi mộ của mình, nhưng đó sẽ chỉ là một phương pháp khác để khắc sâu vào tâm hồn ý thức về sự bất tử.”
Có một ông lão tên là Norton, nổi tiếng khắp hòn đảo vì sự giàu có lớn lao, thứ mà ông tích lũy được qua việc vận dụng các năng lực sắc sảo, mạnh mẽ kết hợp với bản tính vô cùng bủn xỉn. Lão hà tiện khốn khổ này, ý thức được rằng mình chẳng có lấy một người bạn nào để nhớ đến khi nằm xuống mộ, đã tự mình thực hiện những biện pháp cần thiết cho sự tưởng nhớ sau khi qua đời bằng cách đặt một phiến đá cẩm thạch trắng khổng lồ với dòng văn tưởng niệm dài khắc nổi, toàn bộ phải thật tráng lệ hết mức mà tay nghề ông Wigglesworth có thể làm được. Có điều gì đó rất đặc trưng trong mưu chước này nhằm vơ vét cho đáng đồng tiền bát gạo ngay từ chính tấm bia mộ của mình, thứ thực ra đã mang lại cho lão nhiều niềm vui hơn trong vài tháng sống sót sau đó so với những gì nó có thể mang lại trong suốt một thế kỷ, giờ đây khi nó đã được đặt lên trên bộ xương của lão.
Sự việc này gợi cho tôi nhớ đến một thiếu nữ — một sinh thể gầy gò, xanh xao, mong manh không giống chút nào với những thiếu nữ má hồng khỏe mạnh ở Vineyard, giữa chốn rực rỡ của họ mà cô đang lụi tàn dần. Ngày này qua ngày khác, thiếu nữ tội nghiệp cứ đến xưởng của người thợ điêu khắc và bước qua từng khối cẩm thạch, cho đến khi cuối cùng cô dùng bút chì viết tên mình lên một phiến đá mảnh dẻ mà tôi nghĩ là mang sắc trắng tinh khôi hơn tất cả những phiến khác. Tôi không còn gặp lại cô nữa, nhưng chẳng bao lâu sau lại thấy ông Wigglesworth đang khắc tên thời con gái của cô lên tấm đá mà cô đã chọn.
“Cô ấy chết rồi, tội nghiệp cô bé!” ông nói, ngắt quãng giai điệu đang huýt sáo, “và con bé đã chọn một chất liệu tốt cho tấm bia của mình. Nào, trong số các phiến đá này, anh muốn nhìn thấy tên mình trên tấm nào nhất?”
“Chà, nói thật với ông nhé, thưa ngài Wigglesworth thân mến,” tôi đáp sau một thoáng dừng lại, vì sự đường đột của câu hỏi đã khiến tôi hơi giật mình — “để thành thật với ông, tôi chẳng quan tâm mấy hay chẳng màng chút nào đến tấm đá cho ngôi mộ của chính mình, và có phần nghiêng về sự hoài nghi đối với sự thích hợp của việc dựng đài tưởng niệm trên lớp bụi từng là con người. Sức nặng của những khối cẩm thạch nặng nề này, dẫu xác chết hay linh hồn được giải phóng chẳng thể cảm nhận được, vẫn đè nặng một cách ảm đạm lên tâm hồn người sống sót và khiến họ liên kết ý tưởng về cái chết với sự giam cầm như ngục tối của nấm mồ, thay vì với sự tự do của bầu trời. Mỗi tấm bia mộ mà ông từng làm là biểu tượng hữu hình của một hệ thống sai lầm. Suy nghĩ của chúng ta nên bay bổng hướng lên cùng loài bướm, thay vì vương vấn với lớp vỏ xác đã giam cầm nó. Theo chân lý và lý trí, cả những kẻ mà chúng ta gọi là người sống, và thậm chí càng ít hơn nữa là những người đã khuất, chẳng có chút liên quan nào đến nấm mồ.”
“Tôi chưa từng nghe điều gì dị giáo đến thế,” ông Wigglesworth nói, bối rối và khó chịu trước những tâm tư đi ngược lại mọi quan niệm và cảm xúc của ông, đồng thời hàm ý sự lãng phí tột độ, thậm chí còn tệ hơn thế, của toàn bộ công sức cả đời ông. “Anh muốn quên đi những người bạn đã khuất ngay khoảnh khắc họ nằm dưới lớp cỏ sao?”
“Họ không nằm dưới lớp cỏ,” tôi đáp lời; “thế thì tại sao tôi phải đánh dấu nơi chẳng có báu vật nào được chôn giấu? Quên họ ư? Không; nhưng để nhớ về họ cho đúng đắn, tôi sẽ quên đi những gì họ đã rũ bỏ. Và để có được nhận thức chân thực hơn về cái chết, tôi sẽ quên đi nấm mồ.”
Thế nhưng cụ thợ điêu khắc nhân hậu ấy vẫn lầm bầm, và vấp váp, tựa hồ qua những tấm bia mộ giữa chốn mà ông đã bước đi suốt cuộc đời mình. Dẫu ông đúng hay sai, tôi đã trở nên khôn ngoan hơn từ sự đồng hành của ông và từ những quan sát của tôi về bản chất cùng tính cách được thể hiện qua những người đến với nỗi buồn cũ hay mới của họ, để ghi chép chúng lên những phiến đá cẩm thạch của ông. Và thế nhưng với món quà khôn ngoan thu nhận được, tôi đồng thời cũng nhận lấy sự bối rối; bởi vì trong tâm trí tôi tồn tại một mối hoài nghi kỳ lạ rằng liệu bóng tối u ám của cuộc đời này, những nỗi buồn và tiếc nuối — gạt bỏ các ảnh hưởng tôn giáo sang một bên — có chứa đựng niềm an ủi thực sự nhiều ngang ngửa với thứ mà chúng ta gọi là niềm vui của cuộc đời hay không.