Những Câu Chuyện Kể Lại Hai Lần

Lượt đọc: 490 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tranh Tiên Tri

❊ ❊ ❊

“Nhưng còn họa sĩ này!” Walter Ludlow sôi nổi kêu lên. “Ông ấy không chỉ xuất sắc trong nghệ thuật hội họa của mình, mà còn uyên bác trong mọi lĩnh vực học thức và khoa học khác. Ông ấy có thể đàm đạo bằng tiếng Do Thái với Tiến sĩ Mather và giảng về giải phẫu học cho Tiến sĩ Boylston. Nói tóm lại, ông ấy có thể đối đầu sòng phẳng với bất kỳ bậc trí thức uyên bác nào trong chúng ta. Hơn thế nữa, ông ấy còn là một quý ông lịch lãm, một công dân của thế giới — vâng, một nhà du hành toàn cầu đích thực; bởi ông ấy có thể nói giọng bản xứ của bất kỳ xứ sở hay quốc gia nào trên địa cầu, trừ những cánh rừng của chúng ta, nơi ông ấy chuẩn bị đặt chân tới. Song, đó chưa phải là điều khiến tôi ngưỡng mộ nhất ở ông ấy.”

“Thật sao!” Elinor lên tiếng, người đã lắng nghe với tất cả sự tò mò của một người phụ nữ khi nghe miêu tả về một con người như vậy. “Dù sao thì điều đó cũng đủ đáng khâm phục rồi.”

“Chắc chắn là thế,” người yêu nàng đáp, “nhưng vẫn kém xa tài năng thiên bẩm của ông ấy trong việc thích ứng với mọi kiểu người, đến mức tất cả đàn ông — và cả phụ nữ nữa, Elinor — đều sẽ tìm thấy hình ảnh phản chiếu của chính mình trong vị họa sĩ kỳ tài này. Nhưng điều kỳ diệu lớn nhất vẫn chưa được kể ra.”

“Này, nếu ông ta còn những phẩm chất kỳ diệu hơn thế nữa,” Elinor cười nói, “thì Boston quả là một chốn hiểm nguy cho vị quý ông tội nghiệp nọ. Anh đang kể cho em nghe về một họa sĩ hay một tay phù thủy vậy?”

“Thật ra,” chàng đáp, “câu hỏi đó có thể được đặt ra một cách nghiêm túc hơn em tưởng. Người ta đồn rằng ông ấy không chỉ vẽ những đường nét trên khuôn mặt, mà còn vẽ cả tâm trí và cõi lòng con người. Ông ấy bắt trọn những tâm tư, tình cảm thầm kín rồi hắt chúng lên vải bạt rực rỡ như ánh nắng, hoặc có lẽ, trong chân dung của những kẻ tâm địa hắc ám, như những tia lửa địa ngục. Đó là một ân huệ đáng sợ,” Walter nói, hạ thấp giọng khỏi tông điệu đầy nhiệt huyết ban nãy. “Em chừng sẽ phải sợ hãi khi ngồi làm mẫu cho ông ấy vẽ mất.”

“Walter, anh đang nói đùa phải không?” Elinor thốt lên.

“Vì trời đất, Elinor yêu dấu, xin đừng để ông ấy vẽ lại cái vẻ mặt mà em đang mang lúc này,” người yêu nàng nói, miệng mỉm cười nhưng có phần bối rối. “Kia! Nó đang phai dần đi đấy thôi; nhưng khi em vừa cất lời, trông em cứ như sợ chết khiếp vậy, lại thêm phần u sầu khôn tả. Em vừa nghĩ gì thế?”

“Không gì cả, không gì cả!” Elinor vội vã đáp. “Anh đang gán cho khuôn mặt em những tưởng tượng của chính anh đấy chứ. Thôi nào, ngày mai hãy đến đón em, chúng ta sẽ cùng đi thăm người nghệ sĩ kỳ tài này.”

Nhưng khi chàng thanh niên ra về, không thể phủ nhận rằng một biểu cảm kỳ lạ lại một lần nữa hiện lên trên khuôn mặt xinh đẹp và trẻ trung của người thiếu nữ. Đó là một nét mặt u sầu và lo âu, hoàn toàn không phù hợp với tâm trạng của một người con gái đang đứng trước thềm ngưỡng cửa hôn nhân. Thế nhưng, Walter Ludlow lại chính là người đã được trái tim nàng lựa chọn.

“Một nét mặt!” Elinor tự nhủ. “Thảo nào nó lại khiến anh ấy giật mình nếu nó biểu lộ những gì đôi khi chính tôi cảm nhận. Bản thân tôi thừa hiểu một nét mặt có thể đáng sợ đến nhường nào. Nhưng tất cả chỉ là ảo tưởng. Lúc đó tôi chẳng nghĩ gì đến nó; từ dạo ấy tôi cũng chẳng thấy nó lặp lại; tôi chỉ mơ mộng hão huyền mà thôi;” và nàng lại cắm cúi vào công việc thêu thùa chiếc cổ áo nhún ren mà nàng dự định sẽ mặc khi họa sĩ vẽ chân dung cho mình.

Vị họa sĩ mà họ vừa nhắc đến không phải là một trong những nghệ sĩ bản địa — những người ở một thời kỳ sau này đã biết pha màu từ người da đỏ và làm bút vẽ từ lông thú hoang dã. Có lẽ, nếu có thể đảo ngược cuộc đời và sắp đặt lại định mệnh của mình, ông đã chọn thuộc về cái trường phái tự học ấy với hy vọng ít nhất được mang tính nguyên bản, khi mà chẳng có các tác phẩm nghệ thuật nào để bắt chước hay quy tắc nào để tuân theo. Nhưng ông sinh ra và lớn lên ở Châu Âu. Người ta đồn rằng ông đã nghiên cứu sự vĩ đại, vẻ đẹp trong ý tưởng và từng nét cọ của bậc thầy trên tất cả các bức tranh nổi tiếng nhất tại các phòng tranh, bảo tàng và trên tường các nhà thờ cho đến khi không còn gì mà tâm trí uyên bác của ông có thể học hỏi thêm. Nghệ thuật chẳng thể bổ sung thêm gì cho những bài học của ông, nhưng Thiên nhiên thì có thể. Do đó, ông đã đến một thế giới mà chưa một đồng nghiệp nào đặt chân tới trước đó, để thỏa thuê chiêm ngưỡng những hình ảnh hữu hình vừa cao cả, nên thơ, lại chưa từng được chuyển lên vải bạt. Châu Mỹ quá nghèo nàn để có thể đưa ra những cám dỗ khác cho một nghệ sĩ tên tuổi, dù rằng khi vị họa sĩ đặt chân đến đây, rất nhiều vị tai mặt trong tầng lớp thượng lưu thuộc địa đã bày tỏ mong muốn lưu giữ dung mạo của họ cho hậu thế bằng tài nghệ của ông. Bất cứ khi nào nhận được những lời đề nghị như vậy, ông đều đăm đăm nhìn kẻ ngỏ lời bằng ánh mắt sắc bén như muốn thấu tâm can họ. Nếu trước mắt ông chỉ là một khuôn mặt phúng phính, nhẵn nhụi, dẫu cho khoác trên mình chiếc áo thêu viền vàng rực rỡ và có những đồng guinea vàng để trả thù lao, ông cũng lịch sự từ chối công việc lẫn tiền tài; thế nhưng, nếu khuôn mặt ấy ẩn chứa bất cứ điều gì khác thường trong tư duy, tình cảm hoặc trải nghiệm, hoặc nếu ông bắt gặp một kẻ ăn xin trên phố với bộ râu trắng và vầng trán hằn sâu nếp nhăn, hay đôi khi chỉ là một đứa trẻ ngẩng lên mỉm cười, ông sẽ dốc toàn bộ tài nghệ để khắc họa họ — thứ mà ông đã từ chối dành cho sự giàu sang.

Vì tài nghệ hội họa vô cùng hiếm hoi tại các thuộc địa, vị họa sĩ nghiễm nhiên trở thành tâm điểm của sự tò mò từ công chúng. Dù ít ai hay chẳng một ai đủ sức đánh giá giá trị kỹ thuật trong các tác phẩm của ông, thì vẫn có những khía cạnh mà quan điểm của đám đông tỏ ra sắc sảo chẳng kém gì sự phán đoán tinh tế của giới sành nghệ thuật. Ông quan sát hiệu ứng mà mỗi bức tranh tạo ra đối với những người thưởng lãm mộc mạc ấy, đồng thời đúc rút kinh nghiệm từ những nhận xét của họ, trong khi họ vốn dĩ chẳng đời nào dám nghĩ đến việc dạy dỗ Thiên nhiên, cũng như chẳng dám dạy dỗ một kẻ dường như đang sánh ngang với bà. Phải thừa nhận rằng, sự ngưỡng mộ của họ vẫn bị vẩn đục bởi những định kiến của thời đại và xứ sở. Một số người coi việc tạo ra những hình ảnh sống động như thật về các sinh vật là một tội ác chống lại luật pháp Moses, thậm chí là một hành vi chế giễu ngạo mạn đối với Đấng Sáng Tạo. Số khác, hoảng sợ trước thứ nghệ thuật có thể triệu hồi các bóng ma theo ý muốn và giữ lại hình hài của người chết giữa cõi người sống, lại có xu hướng coi vị họa sĩ như một tên phù thủy, hoặc có lẽ chính là gã Đàn Ông Đen khét tiếng từ thời ma quỷ ngày xưa đang âm mưu phá hoại dưới một hình thù mới. Những hoang tưởng ngớ ngẩn ấy được đám đông tin tưởng đến hơn một nửa. Ngay cả trong các tầng lớp thượng lưu, nhân vật của ông cũng được bao bọc bởi một nỗi sợ hãi mơ hồ, một phần bốc lên như nhữnghơi khói từ nỗi mê tín dị đoan của quần chúng, nhưng chủ yếu bắt nguồn từ kho tàng tri thức và tài năng phong phú mà ông tận dụng để phục vụ cho nghề nghiệp của mình.

Đang ở vào thềm cửa hôn nhân, Walter Ludlow và Elinor rất háo hức muốn có được những bức chân dung của mình như khởi đầu cho thứ mà họ chắc hẳn hy vọng sẽ là một chuỗi dài các bức ảnh gia đình. Ngày hôm sau cuộc trò chuyện kể trên, họ đến thăm phòng tranh của vị họa sĩ. Một người hầu dẫn họ vào căn phòng, nơi tuy không bóng dáng nghệ sĩ, nhưng lại có sự hiện diện của những nhân vật mà họ khó lòng kìm nén sự kính trọng khi ngắm nhìn. Dù thừa biết toàn bộ nhóm người ấy chỉ là tranh vẽ, họ vẫn cảm thấy thật bất khả thi khi tách rời ý niệm về sự sống và trí tuệ ra khỏi những hình nhân tinh xảo đến kinh ngạc ấy. Một số bức chân dung quen thuộc với họ, hoặc là những nhân vật lừng lẫy đương thời, hoặc là những người quen biết ngoài đời thực. Có Thống đốc Burnett, trông như vừa nhận được một thông điệp bất tuân từ Hạ Viện và đang chuẩn bị soạn một lời đáp trả vô cùng đanh thép. Ông Cooke treo ngay bên cạnh nhà cầm quyền mà ông đối lập, trông cương nghị và phảng phất nét khắc khổ của người theo Thanh giáo, rất xứng tầm với một thủ lĩnh phong phú quần chúng. Bà cụ dòng họ Sir William Phipps nhìn họ từ trên tường trong bộ cổ áo nhún ren và váy phồng khung giỏ, một mụ già hách dịch bị nghi ngờ có dính líu đến phù thủy. John Winslow, khi ấy còn là một thanh niên rất trẻ, mang trong mình biểu cảm của tinh thần chinh chiến — thứ nhiều năm sau đã làm nên tên tuổi của một vị tướng lừng danh. Những người bạn thân thiết của họ cũng được nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên. Ở hầu hết các bức tranh, toàn bộ tâm trí và tính cách đều được lột tả trọn vẹn trên nét mặt và cô đọng lại trong một ánh nhìn duy nhất; đến mức, nói theo kiểu nghịch lý, người thật đôi khi lại chẳng hề giống chính họ bằng những bức chân dung.

Giữa những bậc hiền triết hiện đại ấy có hai vị thánh râu dài đã gần như phai mờ vào tấm vải bạt sẫm màu. Lại có cả một bức Đức Mẹ da xanh xao nhưng chưa phai màu, có lẽ từng được sùng bái ở Rome, giờ đây đang nhìn cặp đôi với một ánh mắt dịu dàng và thánh thiện đến mức họ cũng khao khát được quỳ lạy.

“Thật là một ý nghĩ kỳ diệu,” Walter Ludlow nhận xét, “khi khuôn mặt xinh đẹp này đã giữ được nét kiều diễm trong hơn hai trăm năm! Ôi, nếu mọi vẻ đẹp đều có thể bền bỉ đến thế! Em có ghen tị với bà ấy không, Elinor?”

“Nếu trần gian là thiên đường, có lẽ em đã thế,” nàng đáp. “Nhưng nơi vạn vật đều tàn phai, thật khốn khổ làm sao khi trở thành kẻ duy nhất không thể lụi tàn!”

“Lão Thánh Phêrô già cỗi và u ám này mang một cái lườm nguýt dữ dội và xấu xí, dẫu có là thánh nhân đi chăng nữa,” Walter tiếp lời; “ông ta khiến anh thấy phiền lòng. Nhưng Đức Mẹ lại nhìn chúng ta thật hiền từ.”

“Vâng, nhưng ngẫm lại thì trông rất đỗi đau buồn, anh ạ,” Elinor nói.

Giá vẽ được đặt ngay bên dưới ba bức tranh cổ ấy, nâng đỡ một tác phẩm đang vẽ dở. Sau khi ngắm nghía một lúc, họ bắt đầu nhận ra những nét mặt quen thuộc của vị mục sư nhà họ, Mục sư Tiến sĩ Colman, đang dần hiện hình và có sự sống từ trong một làn mây.

“Cụ ông nhân hậu!” Elinor thốt lên. “Cụ đang nhìn em như thể sắp sửa cất lời khuyên răn của một người cha vậy.”

“Và nhìn anh,” Walter nói, “như thể sắp lắc đầu quở trách anh vì một tội lỗi khả nghi nào đó. Nhưng bản tôn ngoài đời cũng thế mà. Anh sẽ chẳng bao giờ cảm thấy thực sự thoải mái dưới ánh mắt của cụ cho đến khi chúng ta đứng trước mặt cụ để làm lễ kết hôn.”

Lúc đó họ nghe thấy tiếng bước chân vang lên trên sàn nhà, và khi quay đầu lại, họ nhìn thấy vị họa sĩ — người đã có mặt trong phòng được một lúc và lắng nghe vài lời nhận xét của họ. Ông là một người đàn ông trung niên với khuôn mặt xứng đáng được phác họa chính bằng cây cọ của mình. Quả thật, nhờ cách ăn mặc cầu kỳ nhưng phảng phất nét phóng khoáng, và có lẽ bởi tâm hồn ông luôn chìm đắm giữa những hình hài được tô vẽ, bản thân ông trông cũng tựa như một bức chân dung. Những vị khách cảm nhận được sự tương đồng giữa người nghệ sĩ và các tác phẩm của ông, và có cảm giác như một trong những bức tranh vừa bước ra khỏi vải bạt để chào đón họ.

Walter Ludlow, người có quen biết sơ qua với vị họa sĩ, liền giải thích mục đích chuyến viếng thăm của họ. Trong lúc chàng đang nói, một tia nắng rọi xiên qua người chàng và Elinor với hiệu ứng tuyệt đẹp đến mức họ trông giống như những bức tranh sống động về tuổi trẻ và sắc đẹp đang hân hoan trước vận may rực rỡ. Vị họa sĩ rõ ràng vô cùng ấn tượng.

“Giá vẽ của tôi đã kín lịch cho vài ngày tới, và thời gian lưu lại Boston của tôi không thể kéo dài,” ông trầm ngâm nói; đoạn, sau một cái nhìn dò xét, ông nói thêm: “Nhưng nguyện vọng của hai bạn sẽ được thỏa mãn, dẫu cho tôi có phải làm chánh án tối cao và phu nhân Oliver phải thất vọng. Tôi không thể bỏ lỡ cơ hội này chỉ để vẽ dăm thước vải dạ và lụa là.”

Vị họa sĩ bày tỏ mong muốn đưa cả chân dung của hai người vào chung một bức tranh và miêu tả họ đang tham gia vào một hành động thích hợp nào đó. Kế hoạch này hẳn đã khiến cặp đôi vô cùng thích thú, nhưng đành phải gác lại bởi một bức tranh khổ lớn như vậy sẽ không phù hợp với căn phòng mà nó được định sẵn để trang trí. Do đó, hai bức chân dung nửa người đã được thống nhất lựa chọn. Sau khi chào ra về, Walter Ludlow mỉm cười hỏi Elinor rằng liệu nàng có biết vị họa sĩ sắp giành được sức ảnh hưởng lớn thế nào đối với vận mệnh của họ hay không.

“Mấy bà già ở Boston quả quyết rằng,” chàng nói tiếp, “một khi ông ấy đã nắm bắt được khuôn mặt và vóc dáng của ai đó, ông ấy có thể vẽ người đó trong bất kỳ hành động hay hoàn cảnh nào, và bức tranh sẽ trở thành lời tiên tri. Em có tin điều đó không?”

“Không hẳn,” Elinor mỉm cười đáp. “Nhưng nếu ông ấy thực sự có phép thuật ấy, phong thái của ông ấy lại dịu dàng đến mức em chắc chắn ông ấy sẽ sử dụng nó theo chiều hướng tốt.”

Vị họa sĩ chọn cách tiến hành cả hai bức chân dung cùng một lúc, với lý do được đưa ra bằng thứ ngôn ngữ huyền bí mà thỉnh thoảng ông hay sử dụng, rằng các khuôn mặt sẽ soi sáng cho nhau. Theo đó, lúc thì ông chấm phá cho Walter, khi lại tô điểm cho Elinor, và đường nét của người này lẫn người kia bắt đầu hiện lên sống động đến mức tưởng chừng như nghệ thuật đắc thắng của ông sắp sửa tách rời họ khỏi tấm vải bạt. Giữa thứ ánh sáng rực rỡ và vùng bóng râm sâu thẳm, họ chiêm ngưỡng những cái bóng của chính mình; nhưng dẫu bức chân dung hứa hẹn sẽ hoàn hảo đến từng chi tiết, họ vẫn chưa hoàn toàn hài lòng với biểu cảm của nó: nó có vẻ mơ hồ hơn so với hầu hết các tác phẩm khác của vị họa sĩ. Tuy nhiên, ông lại rất hài lòng với viễn cảnh thành công, và vì vô cùng quan tâm đến cặp đôi này, ông đã dành những lúc rảnh rỗi — mà họ không hề hay biết — để thực hiện một bản phác thảo bằng phấn màu cho hai người. Trong những buổi ngồi làm mẫu, ông khéo léo lôi kéo họ vào các cuộc trò chuyện để thắp lên trên khuôn mặt họ những nét đặc trưng tính cách vốn không ngừng biến đổi, nhưng mục đích của ông là kết hợp và cố định chúng lại. Cuối cùng, ông thông báo rằng vào buổi gặp mặt tới, cả hai bức chân dung sẽ hoàn thành và sẵn sàng trao tay.

“Nếu ngòi bút của tôi chịu trung thành với hình dung trong những nét cọ cuối cùng mà tôi đang ấp ủ,” ông nhận xét, “thì hai bức tranh này sẽ là tác phẩm xuất sắc nhất đời tôi. Quả thực rất hiếm khi một người nghệ sĩ có được những nguyên mẫu tuyệt vời nhường này.” Trong lúc nói, ông vẫn dán ánh mắt sắc bén lên họ, và chỉ rời đi khi họ đã bước xuống đến tận chân cầu thang.

Không có điều gì trong toàn bộ thế giới những thói hư tật xấu của loài người lại chiếm lĩnh trí tưởng tượng mạnh mẽ hơn cái sự việc đi vẽ chân dung này. Nhưng tại sao lại thế nhỉ? Chiếc gương soi, những quả cầu đánh bóng trên lò sưởi, mặt nước phẳng lặng như gương, và tất cả những bề mặt phản chiếu khác, vẫn không ngừng hiện ra trước mắt chúng ta những bức chân dung — hay đúng hơn là những bóng ma — của chính mình, để rồi chúng ta chỉ liếc qua một cái là quên bẵng đi ngay lập tức. Nhưng chúng ta quên đi chẳng qua vì chúng biến mất nhanh chóng. Chính ý niệm về sự trường tồn — về sự bất tử nơi trần thế — mới là thứ mang lại sức hút đầy huyền bí cho những bức chân dung của chính chúng ta.

Walter và Elinor không phải là không cảm nhận được điều đó, và họ đã vội vã đến phòng tranh đúng giờ hẹn để gặp gỡ những hình nhân bằng màu vẽ vốn sẽ đại diện cho họ trước hậu thế. Ánh nắng rực rỡ tràn theo sau họ vào căn phòng, nhưng rồi cũng dịu xuống đôi chút khi họ khép cửa lại. Ánh mắt họ ngay lập tức bị thu hút bởi những bức chân dung đang tựa vào bức tường ở góc xa nhất của căn phòng. Ngay cái nhìn đầu tiên qua ánh sáng mờ ảo và khoảng cách xa, khi thấy chính mình trong đúng tư thế tự nhiên cùng phong thái quen thuộc đến thế, họ đồng thanh thốt lên một tiếng kêu thích thú.

“Chúng ta đang đứng kìa,” Walter nhiệt thành kêu lên, “được bất tử hóa trong ánh nắng ngập tràn. Sẽ chẳng có cảm xúc hắc ám nào có thể tụ hội trên khuôn mặt chúng ta.”

“Không,” Elinor điềm tĩnh hơn nói; “sẽ chẳng có sự đổi thay ảm đạm nào có thể làm chúng ta buồn bã.”

Câu nói ấy được thốt lên trong lúc họ đang tiến lại gần và mới chỉ có cái nhìn chưa trọn vẹn về các bức tranh. Vị họa sĩ, sau khi chào hỏi họ, lại cắm cúi bên chiếc bàn để hoàn thiện một bản phác thảo phấn màu, để mặc cho những vị khách tự đưa ra nhận định về thành quả đã hoàn mỹ của ông. Thỉnh thoảng, ông lại liếc qua đôi lông mày rậm, quan sát góc nghiêng khuôn mặt họ trong lúc ngòi bút vẫn lơ lửng trên bản phác thảo. Lúc này, mỗi người đã đứng sững lại trước bức chân dung của người kia một lúc lâu, ngắm nhìn với vẻ chăm chú đến mê mẩn mà không thốt lên một lời nào. Cuối cùng, Walter bước tới rồi lại lùi lại, ngắm bức chân dung của Elinor dưới nhiều góc độ ánh sáng khác nhau, và rốt cuộc cũng cất lời.

“Chẳng lẽ có sự thay đổi nào sao?” chàng hỏi với giọng điệu đầy hoài nghi và trầm ngâm. “Đúng vậy; cảm giác về sự thay đổi ấy ngày càng rõ rệt hơn khi anh ngắm nó lâu hơn. Đây chắc chắn là bức tranh anh đã thấy ngày hôm qua; trang phục, đường nét, tất cả đều y nguyên, thế mà có gì đó đã đổi khác.”

“Vậy ra bức tranh trông kém giống nguyên mẫu hơn ngày hôm qua sao?” vị họa sĩ hỏi, lúc này đang bước tới với sự tò mò không kìm nén được.

“Các đường nét thì hoàn toàn là Elinor,” Walter đáp, “và ngay cái nhìn đầu tiên, biểu cảm cũng mang nét của nàng; nhưng anh cứ có cảm giác như bức chân dung vừa thay đổi sắc diện trong lúc anh đang ngắm nó vậy. Đôi mắt đang nhìn chằm chằm vào anh với một vẻ u sầu và lo âu kỳ lạ. Không, đó là nỗi buồn và sự kinh hãi. Thế này mà giống Elinor ư?”

“Hãy so sánh khuôn mặt bằng xương bằng thịt với khuôn mặt trong tranh đi,” vị họa sĩ nói.

Walter liếc ngang sang người yêu, rồi giật mình sững sờ. Đứng bất động và chìm đắm, như bị thôi miên khi đang ngắm bức chân dung của Walter, khuôn mặt Elinor đã mang đúng cái biểu cảm mà chàng vừa phàn nàn. Dù nàng có tập luyện suốt nhiều giờ trước gương đi chăng nữa, nàng cũng không thể bắt chước thành công nét mặt ấy đến thế. Nếu bản thân bức tranh là một chiếc gương, nó cũng chẳng thể phản chiếu diện mạo hiện tại của nàng với độ chân thực mạnh mẽ và đầy u ám nhường ấy. Nàng tỏ ra hoàn toàn vô cảm trước cuộc đối thoại giữa người họa sĩ và người yêu.

“Elinor,” Walter kinh ngạc thốt lên, “sự biến đổi nào đã phủ lên em thế này?”

Nàng không hề nghe thấy chàng cũng chẳng ngớt ánh nhìn trân trân cho đến khi chàng nắm lấy tay nàng, qua đó thu hút sự chú ý của nàng; bấy giờ, với một cơn rùng mình bất chợt, nàng rời mắt khỏi bức tranh để nhìn khuôn mặt người yêu bằng xương bằng thịt.

“Anh có thấy sự thay đổi nào trong bức chân dung của chính mình không?” nàng hỏi.

“Trong tranh của anh ư? Không có gì,” Walter đáp, vừa quan sát vừa nói. “Nhưng để anh xem nào. Đúng thế; có một sự thay đổi nhỏ — một sự cải thiện thì đúng hơn, ở bức tranh, dù bản thân độ giống thì không thay đổi. Nó có biểu cảm sinh động hơn ngày hôm qua, tựa như một ý nghĩ tươi sáng nào đó đang lóe lên trong mắt và chực chờ thốt ra từ khóe môi. Giờ thì khi đã bắt trọn được nét mặt ấy, anh thấy nó trở nên vô cùng rõ nét.”

Trong lúc chàng đang đăm chiêu quan sát, Elinor quay sang phía họa sĩ. Nàng nhìn ông với nỗi đau buồn và sự kính sợ, đồng thời cảm nhận được rằng ông đang đáp lại nàng bằng sự đồng cảm và xót thương, dường như nàng chỉ có thể lờ mờ đoán được nguyên do.

“Ánh mắt ấy!” nàng thì thầm và rùng mình. “Sao nó lại xuất hiện ở đó?”

“Thưa phu nhân,” vị họa sĩ buồn bã nói, nắm lấy tay nàng và kéo ra một góc, “trong cả hai bức tranh này, tôi đã vẽ lại những gì mình nhìn thấy. Người nghệ sĩ — người nghệ sĩ chân chính — phải nhìn thấu bên dưới lớp vỏ bề ngoài. Đó là thiên bẩm của ông ta — niềm tự hào lớn lao nhất, nhưng thường cũng là nỗi buồn — để nhìn thấu tận tâm can, và bằng một thứ quyền năng không thể cắt nghĩa ngay cả với chính mình, khiến nó bừng sáng hoặc tối sầm lại trên tấm vải bạt qua những cái nhìn biểu lộ tư tưởng và tình cảm của bao năm tháng. Ước gì tôi có thể tự nhủ rằng mình đã lầm trong trường hợp này!”

Họ lúc này đã tiến lại gần chiếc bàn, nơi bày la liệt những bức phác họa đầu người bằng phấn, những bàn tay sống động chẳng kém gì khuôn mặt bình thường, những tháp chuông nhà thờ phủ đầy thường xuân, những ngôi nhà tranh vách đất, những cổ thụ bị sét đánh, trang phục cổ và phương Đông, cùng đủ mọi ý tưởng kỳ quái đậm chất nghệ sĩ trong những phút giây rảnh rỗi. Vừa lật giở chúng ra xem với vẻ thờ ơ ngoài mặt, ông vừa để lộ một bản phác họa phấn màu vẽ hai nhân vật.

“Nếu tôi đã thất bại,” ông nói tiếp — “nếu trái tim các vị không nhìn thấy chính mình phản chiếu trong bức chân dung của mình, nếu các vị không có lý do thầm kín nào để tin tưởng vào nét bút của tôi dành cho người kia — thì vẫn chưa quá muộn để thay đổi chúng. Tôi cũng có thể thay đổi hành động của hai nhân vật này. Nhưng liệu nó có xoay chuyển được sự cố?” Ông hướng sự chú ý của nàng vào bản phác họa.

Một cơn hoảng hốt chạy dọc sống lưng Elinor; một tiếng thét nghẹn ở cổ họng nhưng nàng đã kìm nén lại bằng sự tự chủ vốn đã trở thành thói quen của tất cả những ai chôn giấu nỗi sợ hãi và đớn đau trong sâu thẳm tâm can. Quay người khỏi chiếc bàn, nàng nhận ra Walter đã tiến lại đủ gần để nhìn thấy bản phác họa, dù nàng không thể xác định được liệu nó có lọt vào mắt chàng hay không.

“Chúng ta sẽ không thay đổi tranh nữa,” nàng vội vã nói. “Nếu bức của tôi có u sầu, tôi sẽ càng phải tươi tắn hơn để làm dịu lại sự tương phản ấy.”

“Cứ thế đi,” vị họa sĩ cúi đầu đáp. “Mong rằng những nỗi buồn của hai vị chỉ là những thứ ảo ảnh đến mức chỉ có những bức tranh mới phải đau buồn thay cho các vị! Còn những niềm vui, mong rằng chúng thật sâu sắc và chân thực, để rồi tự khắc họa lên khuôn mặt đáng yêu này cho đến khi nó hoàn toàn bác bỏ nghệ thuật của tôi!”

Sau lễ cưới của Walter và Elinor, những bức chân dung trở thành hai vật trang trí lộng lẫy nhất trong ngôi nhà của họ. Chúng được treo sóng đôi bên nhau, ngăn cách bởi một khoảng tường hẹp, trông như thể đang không ngừng liếc nhìn nhau nhưng đồng thời vẫn luôn đáp lại ánh mắt của những người thưởng lãm. Những vị khách từng đi đây đi đó tự nhận là am hiểu về các chủ đề này đã xếp chúng vào hàng những tác phẩm chân dung hiện đại xuất sắc nhất, trong khi những người quan sát bình thường lại đem so sánh chúng với nguyên mẫu ngoài đời đến từng chi tiết và cất lời ca ngợi không ngớt độ giống đến kỳ lạ của bức họa. Nhưng chính đối với tầng lớp thứ ba — không phải những nhà sành nghệ thuật đi đây đi đó cũng chẳng phải những kẻ quan sát thông thường, mà là những con người có sự nhạy cảm bẩm sinh — những bức tranh mới tạo ra sức tác động mạnh mẽ nhất. Những người như vậy có thể chỉ liếc qua với vẻ thờ ơ lúc ban đầu, nhưng rồi sẽ bị cuốn hút và quay lại ngày này qua ngày khác để nghiên cứu những khuôn mặt được tô vẽ ấy giống như lật giở từng trang của một cuốn sách huyền bí. Chân dung của Walter Ludlow thu hút sự chú ý sớm nhất của họ. Trong lúc vắng bóng chàng và cô dâu, họ đôi khi tranh cãi về biểu cảm mà vị họa sĩ dự định gửi gắm vào các đường nét, tất cả đều đồng tình rằng có một vẻ gì đó vô cùng khẩn thiết, dù chẳng ai cắt nghĩa giống ai. Có ít sự bất đồng hơn đối với bức tranh của Elinor. Họ quả thực có khác biệt trong nỗ lực đánh giá bản chất và chiều sâu của nỗi u ám ngự trị trên khuôn mặt nàng, nhưng đều thống nhất rằng đó là sự u sầu và hoàn toàn xa lạ với bản tính tự nhiên của người bạn trẻ tuổi của họ. Một kẻ mang tính cách lãng mạn nào đó sau khi soi xét kỹ lưỡng đã tuyên bố rằng cả hai bức tranh này thực chất là các phần của một chủ ý duy nhất, và rằng sức nặng của nỗi buồn trên nét mặt Elinor có mối liên hệ mật thiết với cảm xúc mãnh liệt hơn — hay theo cách gọi của anh ta, niềm đam mê cuồng dại — ở bức chân dung của Walter. Dù không am hiểu hội họa, anh ta thậm chí còn bắt đầu phác họa một bức tranh trong đó hành động của hai nhân vật sẽ khớp với biểu cảm tương hỗ của họ.

Trong số những người bạn, người ta thì thầm rằng ngày qua ngày, khuôn mặt Elinor lại càng mang thêm một tầng u sầu đậm nét hơn — thứ đang đe dọa biến nàng thành một bản sao quá ư chính xác cho bức tranh ảm đạm của mình. Ngược lại, Walter, thay vì có được vẻ rạng rỡ sinh động mà vị họa sĩ đã trao cho chàng trên vải bạt, lại trở nên trầm ngâm và cúi gằm, chẳng còn chút bộc lộ cảm xúc nào ra bên ngoài, mặc cho chúng có đang âm ỉ cháy bên trong. Theo thời gian, Elinor đã treo một tấm rèm bằng lụa tím lộng lẫy được thêu hoa và viền những chiếc tua rua bằng vàng nặng trĩu che kín trước các bức tranh, với cái cớ rằng bụi bặm sẽ làm xỉn màu hoặc ánh sáng sẽ làm lu mờ chúng. Thế là đủ. Những vị khách đến chơi đều hiểu rằng những nếp rèm lụa dày cộp ấy sẽ không bao giờ được kéo lên và những bức chân dung cũng không bao giờ được nhắc đến trước mặt nàng nữa.

Thời gian trôi đi, và vị họa sĩ lại quay trở lại. Ông đã đi xa về phương bắc đến mức được chiêm ngưỡng dòng thác bạc của vùng Crystal Hills, và phóng tầm mắt nhìn toàn cảnh mây ngàn rừng thẳm từ đỉnh ngọn núi cao nhất New England. Nhưng ông không làm vấy bẩn khung cảnh ấy bằng sự nhại lại của nghệ thuật. Ông cũng từng nằm thả mình trên chiếc xuồng ở lòng hồ George, để tâm hồn mình trở thành tấm gương phản chiếu vẻ đẹp và sự hùng vĩ của nó cho đến khi chẳng còn bức tranh nào trong viện Vatican có thể sống động bằng ký ức của ông. Ông từng cùng những thợ săn da đỏ đến thác Niagara, và ở đó, một lần nữa, ông lại ném cây cọ tuyệt vọng của mình xuống vực sâu, linh cảm thấy rằng ông có thể vẽ tiếng gầm thét ấy dễ hơn bất cứ thứ gì khác hợp thành ngọn thác kỳ vĩ đó. Thực ra, rất hiếm khi ông có xung lực muốn sao chép phong cảnh tự nhiên ngoại trừ việc dùng nó làm khung nền cho việc khắc họa hình dáng và khuôn mặt con người — những thứ tràn đầy tư tưởng, niềm đam mê hay nỗi thống khổ. Chuyến phiêu lưu đã làm phong phú thêm kho tàng những chủ đề như thế của ông. Sự uy nghiêm cứng cỏi của các tù trưởng da đỏ, vẻ đẹp huyền ảo của những thiếu nữ da đỏ, đời sống gia đình trong những chiếc lều wigwam, cuộc hành quân lén lút, trận chiến dưới những tán thông u ám, pháo đài biên giới với toán lính đồn trú, sự nghịch lý của lão du kích người Pháp lớn lên chốn lầu son cờ quạt nhưng lại bạc mái đầu giữa chốn hoang mạc xù xì — đó chính là những khung cảnh và chân dung mà ông đã phác họa. Sức nóng của những khoảnh khắc hiểm nguy, những tia chớp cảm xúc cuồng dại, các cuộc đấu tranh của quyền lực khốc liệt, tình yêu, lòng thù hận, nỗi buồn, cơn cuồng nộ — nói một cách ngắn gọn, toàn bộ trái tim mệt mỏi của trái đất cổ xưa — đã hiện hình trước mắt ông dưới một diện mạo hoàn toàn mới. Chiếc cặp đựng tài liệu của ông chật kín những minh họa sinh động về cuốn sách ký ức mà thiên tài sẽ chuyển hóa thành thực thể của chính mình và thấm đượm sự bất tử. Ông cảm nhận được rằng thứ trí tuệ uy trong nghệ thuật mà ông nhọc công tìm kiếm bấy lâu nay cuối cùng đã tìm thấy.

Nhưng dẫu giữa thiên nhiên khắc nghiệt hay kiều diễm, trong những hiểm nguy của chốn rừng sâu hay sự tĩnh lặng ngợp ngời của nó, vẫn luôn tồn tại hai chiếc bóng — những người bạn đồng hành trên mọi nẻo đường của ông. Giống như tất cả những con người bị cuốn vào một mục đích duy nhất, ông bị tách biệt khỏi đám đông nhân loại. Ông không có mục tiêu, không niềm vui, không sự đồng cảm nào ngoại trừ những thứ rốt cuộc gắn liền với nghệ thuật của mình. Dù phong thái dịu dàng và có ý định lẫn hành động ngay thẳng, ông lại thiếu đi những tình cảm ấm áp; trái tim ông băng giá: chẳng sinh linh nào có thể được kéo lại đủ gần để sưởi ấm cho ông. Tuy nhiên, đối với hai con người kia, ông lại cảm nhận được một cách mãnh liệt nhất thứ quan tâm từng gắn kết ông với các chủ đề trên bức vẽ của mình. Ông đã soi thấu tâm can họ bằng cái nhìn sắc bén nhất và khắc họa kết quả lên nét mặt họ bằng tất cả tài nghệ cao cường nhất, sao cho suýt soát chạm tới tiêu chuẩn mà chưa thiên tài nào vươn tới được — chính là quan niệm khắt khe của bản thân ông. Ông đã bắt lấy từ chốn u ám của tương lai — ít nhất, ông tưởng tượng là thế — một bí mật đáng sợ, và đã hé lộ nó một cách mơ hồ trên những bức chân dung. Quá nhiều phần của bản thân ông — của trí tưởng tượng và mọi năng lực khác — đã đổ dồn vào việc nghiên cứu Walter và Elinor đến mức ông suýt coi họ như những tạo vật của chính mình, giống như hàng ngàn con người mà ông từng thổi hồn vào vương quốc Tranh vẽ. Do đó, họ cứ dập dờn bay lượn qua chốn chạng vạng của rừng rậm, lởn vởn trên làn sương mù của những ngọn thác, nhìn ra từ tấm gương mặt hồ, chứ chẳng hề tan biến dưới ánh nắng ban trưa. Họ ám ảnh trí tưởng tượng hội họa của ông, không phải dưới dạng những trò hề nhạo báng sự sống hay những bóng ma xanh xao của cõi chết, mà trong hình hài của những bức chân dung, mỗi bức mang một biểu cảm bất biến mà phép thuật của ông đã triệu hồi từ những vực thẳm của tâm hồn. Ông không thể vượt Đại Tây Dương trở về nếu chưa được một lần nữa chiêm ngưỡng nguyên mẫu của những bức tranh hư ảo ấy.

“Hỡi Nghệ thuật huy hoàng!” Vị họa sĩ nhiệt thành thầm nghĩ trong lúc sải bước trên con đường phố. “Ngươi chính là hình ảnh phản chiếu của Đấng Sáng Tạo. Vô số hình thù lang thang trong hư vô bỗng vụt bừng sinh sự sống theo tiếng gọi của ngươi. Người chết được sống lại; ngươi triệu hồi họ về với khung cảnh xưa và ban cho cái bóng xám xịt của họ ánh hào quang của một cuộc đời tốt đẹp hơn, vừa trần thế lại vừa bất tử. Ngươi giật lại những khoảnh khắc phù du của lịch sử. Với ngươi chẳng có quá khứ, bởi chỉ cần một chạm tay của ngươi, mọi thứ vĩ đại đều trở thành hiện tại vĩnh cửu, và những nhân vật lừng lẫy vẫn sống qua bao thế kỷ trong chính hành động hữu hình đã làm nên con người họ. Hỡi Nghệ thuật quyền năng! khi ngươi đưa quá khứ chỉ chực hé lộ bước đến đứng trong dải sáng hẹp ngủ yên mà chúng ta gọi là ‘hiện tại’, liệu ngươi có thể triệu hồi tương lai đang che mình trong màn sương mù đến gặp nó ở đó chăng? Chẳng lẽ ta chưa đạt được điều đó sao? Chẳng lẽ ta không phải là nhà tiên tri của ngươi sao?”

Cứ thế, với niềm nhiệt huyết kiêu hãnh nhưng đượm buồn, ông suýt cất thành tiếng khi rảo bước qua con phố nhộn nhịp giữa những con người chẳng mảy may hay biết về những giấc mộng của ông, cũng chẳng thể thấu hiểu hay quan tâm đến chúng. Con người ta không nên nuôi dưỡng một hoài bão đơn độc. Trừ khi xung quanh anh ta có những người mà qua gương mẫu của họ, anh ta có thể tự tiết chế bản thân, nếu không những suy nghĩ, khát vọng và hy vọng của anh ta sẽ trở nên ngông cuồng và bản thân anh ta sẽ mang dáng dấp — hay có lẽ là thực tế — của một kẻ điên. Đọc thấu tâm can kẻ khác với sự sắc sảo gần như siêu nhiên, vị họa sĩ lại chẳng thể nhận ra sự rối loạn trong chính tâm trí mình.

“Và đây hẳn là ngôi nhà,” ông tự lẩm bẩm, ngước nhìn mặt tiền trước khi gõ cửa. “Trợ giúp cho trí óc tôi với, hỡi Trời Phật! Bức tranh đó! Ta ngỡ nó sẽ chẳng bao giờ phai mờ. Dù ta nhìn vào những ô cửa sổ hay cánh cửa ra vào, nó vẫn nằm ở đó, được đóng khung bên trong, được vẽ một cách mạnh mẽ và rực rỡ trong những sắc màu phong phú nhất — khuôn mặt của những bức chân dung, hình dáng và hành động trong bản phác họa!”

Ông gõ cửa.

“Những bức chân dung — chúng có ở trong nhà không?” ông hỏi người hầu; đoạn, sực nhớ lại, “Chủ nhân và phu nhân của anh — họ có nhà không?”

“Thưa có, thưa ông,” người hầu đáp, rồi nói thêm khi nhận ra cái vẻ phong thái kỳ lạ mà vị họa sĩ không bao giờ có thể rũ bỏ được, “và cả những bức chân dung nữa ạ.”

Vị khách được mời vào một phòng khách thông với một căn phòng bên trong có cùng kích thước qua một cánh cửa ở chính giữa. Vì căn phòng phía trước trống không, ông bước thẳng đến lối vào của căn phòng thứ hai, nơi đôi mắt ông được chào đón bởi cả những nhân vật bằng xương bằng thịt lẫn những đại diện bằng tranh vẽ của họ — những đối tượng đã lâu trở thành tâm điểm của một mối quan tâm kỳ lạ nhường ấy. Ông vô thức khựng lại ngay ngưỡng cửa.

Họ không hề nhận ra sự tiếp cận của ông. Walter và Elinor đang đứng trước những bức chân dung, nơi người thanh niên vừa hắt mạnh những nếp rèm lụa dày và rực rỡ sang một bên, một tay giữ chiếc tua rua bằng vàng trong khi tay kia nắm chặt bàn tay người vợ sắp cưới. Những bức tranh bị che giấu suốt nhiều tháng trời nay lại bừng sáng với vẻ rực rỡ nguyên vẹn, dường như đang thả một thứ ánh sáng u ám trải dài khắp căn phòng hơn là được soi rọi bởi một nguồn sáng vay mượn nào đó. Bức chân dung của Elinor quả thực mang tính tiên tri. Sự u sầu, rồi tiếp đó là nỗi buồn nhẹ nhàng, lần lượt ngự trị trên khuôn mặt nàng, theo thời gian ngày càng chìm sâu thành một nỗi đớn đau tĩnh lặng. Một chút hoảng sợ giờ đây hẳn sẽ biến nó thành đúng biểu cảm của bức chân dung. Khuôn mặt Walter thì ủ dột và tối tăm, hoặc chỉ bừng sáng bởi những tia chớp chập chờn để rồi sau khoảnh khắc bừng sáng ấy lại rơi vào màn đêm sâu thẳm hơn. Chàng nhìn từ Elinor sang bức chân dung của nàng, rồi lại nhìn đến bức của chính mình, để rồi cuối cùng đứng chôn chân trong sự chiêm ngưởng đắm chìm.

Vị họa sĩ dường như nghe thấy tiếng bước chân của Định Mệnh đang tiến đến ngay sau lưng trên con đường tiến về phía các nạn nhân của nó. Một ý nghĩ kỳ lạ xẹt qua tâm trí ông. Chẳng lẽ chính bản thân ông mới là thực thể mà Định Mệnh đã dung thân vào, và ông chính là tác nhân chủ chốt của thảm họa sắp sửa giáng xuống mà ông từng tiên tri từ trước?

Thế nhưng, Walter vẫn đứng im lặng trước bức tranh, tâm sự với nó như với chính trái tim mình và phó mặc bản thân cho bùa phép của luồng ảnh hưởng hắc ám mà vị họa sĩ đã gieo rắc lên những đường nét ấy. Dần dần, đôi mắt chàng bừng sáng, trong khi Elinor quan sát sự cuồng dại ngày càng gia tăng trên khuôn mặt chàng, nét mặt nàng cũng bắt đầu mang theo một vẻ kinh hãi; và khi cuối cùng, chàng quay phắt sang nàng, sự tương đồng của cả hai với những bức chân dung đã hoàn toàn trọn vẹn.

“Định Mệnh đã giáng xuống đầu chúng ta rồi!” Walter gầm lên. “Chết đi!”

Rút dao ra, chàng đỡ lấy người vợ đang khuỵu xuống sàn, và nhằm thẳng ngực nàng mà lao tới. Trong hành động ấy cùng với ánh nhìn và tư thế của mỗi người, vị họa sĩ nhìn thấy y hệt các nhân vật trong bản phác họa của mình. Bức tranh, với toàn bộ sắc thái màu sắc khủng khiếp ấy, đã hoàn thành.

“Dừng tay, đồ điên!” ông nghiêm giọng thét lên.

Ông đã bước ra từ cánh cửa và chen vào giữa những con người bất hạnh ấy với cùng một cảm giác quyền năng có thể điều tiết định mệnh của họ giống như khi ông thay đổi một khung cảnh trên tấm vải bạt. Ông đứng sững như một tay phù thủy đang kiểm soát những bóng ma do chính mình triệu hồi.

“Cái gì!” Walter Ludlow lẩm bẩm khi trượt khỏi sự kích động dữ dội để rơi vào nỗi u sầu ảm đạm. “Định Mệnh lại tự cản trở sắc lệnh của chính mình sao?”

“Hỡi người đàn bà tội nghiệp,” vị họa sĩ nói, “tôi đã chẳng cảnh báo cô rồi sao?”

“Ông có,” Elinor bình thản đáp, khi sự kinh hãi nhường chỗ cho nỗi buồn tĩnh lặng mà nó vừa làm xáo trộn. “Nhưng tôi yêu anh ấy.”

Chẳng lẽ không có một bài học luân lý sâu sắc ẩn chứa trong câu chuyện này sao? Nếu kết quả của một hay toàn bộ hành động của chúng ta được phác họa và bày sẵn ra trước mắt, một số người sẽ gọi đó là định mệnh rồi lao đi phăm phăm, số khác sẽ bị cuốn đi bởi những khát vọng đam mê của họ, và chẳng một ai chịu dừng bước quay đầu trước những bức tranh tiên tri cả.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.