“Thế nào, Peter, anh vẫn không chịu suy nghĩ lại về thương vụ này sao?” ông John Brown cất tiếng hỏi, vừa cài chiếc áo khoác dài phủ lên thân hình mập mạp, gọn gàng của mình vừa xỏ găng tay. “Anh quả quyết từ chối nhượng lại cho tôi ngôi nhà cổ tồi tàn này cùng mảnh đất bên dưới và xung quanh với mức giá đã định ư?”
“Dù là giá đó hay gấp ba lần đi nữa,” Peter Goldthwaite gầy gò, râu tóc điểm bạc và áo quần sờn rách đáp lời. “Thực tình mà nói, ông Brown ạ, ông phải tìm một địa điểm khác cho khu nhà gạch của mình và hãy để yên cho bất động sản của tôi thuộc về người chủ hiện tại. Hè tới, tôi dự định sẽ cất một dinh thự lộng lẫy ngay trên phần nền cũ của ngôi nhà này.”
“Trời ạ, Peter!” ông Brown kêu lên khi mở hé cửa nhà bếp; “cứ tự mãn với những lâu đài trên không trung của anh đi, nơi mà đất xây nhà rẻ hơn trên mặt đất rất nhiều, chưa kể đến chi phí gạch vữa. Những nền móng kiểu đó đủ vững chắc cho các công trình của anh, trong khi nền móng dưới chân chúng ta đây lại hoàn toàn phù hợp cho công trình của tôi; và nhờ thế cả hai chúng ta đều đạt đượcý nguyện. Anh nói sao nào?”
“Y như những gì tôi đã nói trước đó, ông Brown,” Peter Goldthwaite đáp. “Còn về những lâu đài trên không, loại kiến trúc của tôi có lẽ không nguy nga bằng, nhưng biết đâu lại vững chãi chẳng kém gì, ông Brown ạ, so với cái khu nhà gạch đáng kính bao gồm các cửa hàng bách hóa, tiệm may cùng phòng giao dịch ngân hàng ở tầng dưới, và văn phòng luật sư ở tầng trên mà anh đang tha thiết muốn dựng lên thay thế.”
“Còn chi phí thì sao, Peter? Hả?” ông Brown nói khi lùi lại với vẻ hơi hờn dỗi. “Chắc là khoản đó sẽ được chi trả ngay lập tức bằng cách rút một tờ séc từ Ngân Hàng Bong Bóng nhỉ?”
John Brown và Peter Goldthwaite từng được giới thương nhân biết đến chung với nhau từ hai mươi đến ba mươi năm trước dưới cái tên hãng Goldthwaite & Brown; tuy nhiên, mối quan hệ hợp tác ấy nhanh chóng tan rã bởi sự xung khắc tự nhiên giữa hai con người. Kể từ sự kiện đó, John Brown, với đúng những phẩm chất của hàng ngàn con người mang tên John Brown khác, và bằng những phương pháp làm ăn cần mẫn y như họ, đã phất lên trông thấy và trở thành một trong những John Brown giàu có nhất trên đời. Ngược lại, Peter Goldthwaite, sau vô số mưu tính lẽ ra đã phải thu gom toàn bộ tiền xu lẫn tiền giấy của cả đất nước vào trong két sắt của mình, lại trở thành một kẻ túng quẫn bậc nhất từng mang miếng vá trên khuỷu tay áo. Sự tương phản giữa ông và người cộng sự cũ có thể thấy rõ qua một điểm: Brown chẳng bao giờ trông chờ vào vận may nhưng lúc nào cũng gặp may, trong khi Peter coi may mắn là điều kiện tiên quyết cho các dự án của mình nhưng rốt cuộc luôn bỏ lỡ nó. Khi vốn liếng còn trụ được, các vụ đầu cơ của ông hoành tráng vô cùng, nhưng những năm gần đây lại chủ yếu thu hẹp vào các trò vụn vặt như mua vé số. Có lần ông đã dấn thân vào một chuyến thám hiểm đãi vàng đâu đó ở miền Nam, để rồi tài tình chuốc lấy cảnh rỗng túi triệt để hơn bao giờ hết, trong khi những kẻ khác chắc chắn đang vốc từng nắm vàng thỏi nguyên chất bỏ vào bao. Gần đây hơn, ông đã nướng sạch khoản thừa kế trị giá một hai ngàn đô la để mua chứng khoán Mexico, và qua đó trở thành chủ sở hữu của cả một xứ sở; thế nhưng, theo những gì Peter tìm hiểu được, vùng đất ấy lại nằm ở chốn mà với số tiền đó ông hoàn toàn có thể mua được cả một đế chế - chính là chốn mây mù. Trở về sau cuộc truy lùng mảnh bất động sản quý giá này, Peter gầy xọp và xờn rách đến nỗi khi ông đi ngang qua các cánh đồng ngô, lũ bù nhìn liền vẫy tay chào. “Chúng chỉ đang phấp phới trong gió thôi mà,” Peter Goldthwaite tự nhủ. Không đâu, hỡi Peter, chúng vẫy tay thật đấy, bởi lũ bù nhìn thừa nhận đó là anh em nhà chúng.
Vào thời điểm diễn ra câu chuyện này, toàn bộ thu nhập hiện hữu của ông còn chẳng đủ để đóng thuế cho ngôi nhà cổ mà chúng ta đang thấy ông cư ngụ. Đó là một trong những ngôi nhà gỗ rỉ sét, mọc đầy rêu phong và có nhiều chóp nhọn rải rác trên các con phố ở những thị trấn lâu đời của chúng ta, với phần tầng hai nhô ra cau có bên trên móng nhà, tựa như đang trừng mắt chê bai những điều mới lạ xung quanh. Mặc dù túng thiếu là thế, và dẫu cho ngôi nhà tọa lạc ngay vị trí trung tâm trên con phố chính của thị trấn có thể mang lại cho ông một khoản tiền lớn, nhưng con người khôn ngoan Peter lại có những lý do riêng để không bao giờ chịu bán nó, dù là qua đấu giá hay bán tay đôi. Quả thực dường như có một định mệnh gắn kết ông với nơi chốn mình sinh ra; bởi vì dù đã nhiều lần đứng bên bờ vực phá sản, và ngay lúc này đây vẫn đang đứng đó, ông vẫn chưa bước qua lằn ranh ấy - thứ lẽ ra đã buộc ông phải giao nộp ngôi nhà vào tay các chủ nợ. Thế là ông cứ ở lại đây cùng với vận rủi cho đến khi vận may gõ cửa.
Cứ như thế, tại căn phòng bếp này - căn phòng duy nhất có chút lửa xua đi cái lạnh của một buổi tối tháng Mười một - Peter tội nghiệp vừa được vị đối tác giàu có thuở xưa đến thăm viếng. Vào cuối buổi gặp gỡ, Peter với vẻ mặt khá hổ thẹn bèn liếc xuống bộ trang phục của mình, vốn có những phần trông cổ lỗ sĩ chẳng kém gì thời kỳ của hãng Goldthwaite & Brown. Khoác ngoài là chiếc áo choàng dáng dài pha tạp đã phai màu đến thảm hại, lại được vá bằng thứ vải mới hơn ở cả hai khuỷu tay; bên trong ông mặc một chiếc áo khoác đen đã sờn, vài chiếc khuy lụa đã được thay bằng loại khác chẳng đồng bộ; và cuối cùng, dẫu ông không thiếu những chiếc quần dài xám, thì chúng trông cũng cực kỳ tơi tả và đã ngả sang màu nâu do Peter thường xuyên hơ ống chân trước lò sưởi ít lửa. Ngoại hình của Peter cũng tương xứng với bộ cánh xập xệ ấy. Tóc hoa râm, mắt trũng sâu, má hóp và thân hình gầy đét, ông chính là bức tranh hoàn hảo về một kẻ sống bằng những mưu toan viển vông và hy vọng hão huyền cho đến khi chẳng thể sống nổi bằng thứ rác rưởi vô bổ ấy, mà cũng chẳng còn dạ dày đâu để nuốt những món ăn thực tế hơn. Nhưng dẫu vậy, con người Peter Goldthwaite này, dẫu có là một kẻ khờ khạo lẫn cẩn đi chăng nữa, thì lẽ ra đã có thể tạo nên một vóc dáng rực rỡ trên đời nếu ông chịu dùng trí tưởng tượng của mình cho lĩnh vực thơ ca bay bổng thay vì biến nó thành một con quỷ gây rối trong các hoạt động thương mại. Suy cho cùng, ông không phải là kẻ tồi, mà vô hại như một đứa trẻ, lại thật thà, chính trực và mang đầy đủ dáng dấp của một quý ông mà Tạo Hóa đã định sẵn cho ông, chừng nào mà một cuộc đời lộn xộn cùng hoàn cảnh bần hàn còn cho phép một con người thể hiện.
Khi Peter đứng trên những viên gạch lồi lõm bên lò sưởi, đưa mắt nhìn quanh căn nhà bếp ủ rũ, đôi mắt ông bắt đầu bừng lên ánh lửa của sự nhiệt thành chưa từng phai nhạt lâu ngày. Ông giơ tay, siết chặt thành nắm đấm và giáng một cú mạnh mẽ lên tấm ván ốp đầy khói phía trên lò sưởi.
“Thời cơ đã đến,” ông tự lẩm bẩm; “với một kho báu trong tay thế này, thật ngốc nghếch nếu cứ tiếp tục làm kẻ nghèo khó. Sáng mai tôi sẽ bắt đầu từ gác mái, và sẽ không dừng lại cho đến khi san bằng ngôi nhà này.”
Sâu trong góc lò sưởi, giống như một mụ phù thủy trong hang tối, là một bà lão già nua đang cặm cụi vá lại một trong hai đôi bít tất mà Peter dùng để giữ cho các ngón chân khỏi bị tê cóng. Vì phần bàn chân đã rách tơi tả chẳng thể vá víu nổi, bà đứt những miếng vải từ chiếc váy lót nỉ bỏ đi để làm đế mới. Tabitha Porter là một trinh nữ già đã qua tuổi sáu mươi, và bà đã ngồi ở chính cái góc lò sưởi ấy suốt năm mươi lăm năm qua - tính từ khoảng thời gian ông nội của Peter đưa bà ra khỏi nhà tế thế. Bà chẳng có ai ngoài Peter, và Peter cũng chẳng có người bạn nào ngoài Tabitha; chừng nào Peter còn chỗ che chở cho cái đầu của mình, Tabitha ắt biết nơi để nương náu, hoặc nếu không nơi nương thân ở bất cứ đâu, bà sẽ dắt tay người chủ của mình trở về quê hương xứ sở của bà - ngôi nhà tế thế. Nếu cần thiết, bà yêu quý ông đủ để nhường cho ông miếng ăn cuối cùng và lột cả chiếc váy lót mặc trong để mặc cho ông. Nhưng Tabitha là một bà lão kỳ cục, và dẫu chưa bao giờ bị lây nhiễm sự bay bổng của Peter, bà đã quen thuộc đến mức coi mọi trò điên rồ và ngớ ngẩn của ông là chuyện hiển nhiên. Nghe ông đe dọa sẽ đập nát ngôi nhà, bà điềm tĩnh ngẩng lên từ công việc của mình.
“Tốt nhất là cứ để lại cái nhà bếp đến cuối cùng đi, thưa ông Peter,” bà nói.
“Càng hạ sơn sớm chừng nào càng tốt chừng nấy,” Peter Goldthwaite đáp. “Tôi đã chán ngấy đến tận cổ việc phải sống trong ngôi nhà cổ lạnh lẽo, tối tăm, lộng gió, đầy khói, có tiếng kẽo kẹt, rên rỉ và ảm đạm này rồi. Tôi sẽ cảm thấy trẻ lại khi chúng ta chuyển đến dinh thự gạch lộng lẫy của tôi, mong ơn trên phù hộ, chúng ta sẽ làm được điều đó vào độ thu sang năm. Tabby già ạ, bà sẽ có một căn phòng hướng về phía có nắng, được hoàn thiện và bài trí sao cho hợp ý bà nhất.”
“Tôi chỉ thích một căn phòng giống hệt nhà bếp này thôi,” Tabitha đáp. “Nó sẽ chẳng bao giờ mang lại cảm giác nhà cửa cho tôi cho đến khi xó bếp bám đầy muội đen hệt như chỗ này, mà điều đó thì phải mất cả trăm năm nữa mới có được. Ông dự định đổ bao nhiêu tiền vào ngôi nhà thế, thưa ông Peter?”
“Hỏi thế để làm gì?” Peter kiêu hãnh thốt lên. “Chẳng phải ông cố của ta, Peter Goldthwaite - người đã qua đời bảy mươi năm trước và ta mang tên ngài - đã để lại khối tài sản đủ để xây dựng tận hai mươi ngôi nhà như thế sao?”
“Biết đâu ngài ấy đã làm thế thật, thưa ông Peter,” Tabitha vừa nói vừa xâu kim.
Tabitha thừa hiểu rằng Peter đang nhắc đến một kho kim loại quý khổng lồ được đồn đại là nằm đâu đó dưới hầm, trong các bức tường, dưới sàn nhà, hoặc trong một cái tủ giấu kín nào đó hay ngóc ngách hẻo lánh nào của ngôi nhà cổ. Theo truyền thuyết, khối tài sản này được tích lũy bởi một Peter Goldthwaite đời trước, kẻ có tính cách dường như rất giống với nhân vật Peter trong câu chuyện của chúng ta. Giống như ông, vị tiền bối ấy là một kẻ chuyên vẽ ra những dự án điên rồ, tìm cách chất đống vàng theo từng giạ và từng xe tải thay vì nhặt nhạnh nó từng đồng xu một. Và cũng giống như Peter đệ nhị, các dự án của ngài hầu như luôn thất bại, và nếu không nhờ sự thành công rực rỡ của dự án cuối cùng, ngài đã lâm vào cảnh chẳng còn nổi một chiếc áo khoác và chiếc quần dài cho thân hình gầy gò rười rượi của mình. Có nhiều lời đồn đoán khác nhau về bản chất của vụ đầu cơ may mắn ấy, người thì ám chỉ vị Peter thời cổ đại đã luyện được vàng bằng thuật giả kim; kẻ thì bảo ngài đã dùng ma thuật để móc vàng từ túi người khác; và một lời đồn thứ ba - thậm chí còn khó hiểu hơn - rằng quỷ dữ đã cho phép ngài tự do ra vào kho bạc tỉnh lỵ. Tuy nhiên, người ta khẳng định rằng một trở ngại bí mật nào đó đã tước đi quyền tận hưởng sự giàu có của ngài, và rằng ngài có động cơ để che giấu nó khỏi người thừa kế, hoặc dù thế nào đi nữa, ngài đã qua đời mà không hề tiết lộ nơi cất giấu. Cha của Peter hiện tại đã có đủ niềm tin vào câu chuyện ấy để cho đào xới tung cả căn hầm lên. Bản thân Peter thì chọn cách coi truyền thuyết đó là một chân lý hiển nhiên, và giữa muôn vàn khốn khó, ông vẫn giữ lại được niềm an ủi này: nếu mọi nguồn lực khác đều cạn kiệt, ông vẫn có thể gầy dựng lại cơ đồ bằng cách đập nát ngôi nhà của mình. Tuy nhiên, trừ khi ông nuôi một mối hoài nghi ngầm nào đó về câu chuyện vàng bạc này, thật khó để giải thích vì sao ông lại để cho mái nhà tổ tiên đứng vững lâu đến thế, trong khi chưa từng có khoảnh khắc nào mà kho báu của vị tiền bối lại không có thừa chỗ chứa trong chính chiếc két sắt của ông. Nhưng giờ đây chính là thời khắc quyết định. Nếu ông chần chừ thêm chút nữa trong việc tìm kiếm, ngôi nhà sẽ rơi vào tay người khác không cùng huyết thống, và cùng với nó là khối vàng khổng lồ, vùi mình ở đó mãi cho đến khi những bức tường già nua sụp đổ mới phơi bày trước mắt những kẻ xa lạ của thế hệ mai sau.
“Đúng thế,” Peter Goldthwaite lại lớn tiếng quả quyết; “ngày mai ta sẽ bắt tay vào việc.”
Càng ngẫm nghĩ kỹ về vấn đề này, Peter càng trở nên chắc chắn về thành công của mình. Tinh thần ông vốn dĩ vô cùng kiên cường đến mức ngay cả lúc này, vào mùa thu lụi tàn của cuộc đời, ông vẫn thường có thể sánh ngang với sự xuân sắc vui tươi của những người khác. Được tiếp thêm sinh lực bởi viễn cảnh đang rực sáng, ông bắt đầu nhún nhảy quanh nhà bếp tựa như một con yêu tinh, với những cử động kỳ quặc nhất của đôi chân gầy guộc cùng những điệu bộ của gương mặt hốc hác. Thậm chí, trong niềm phấn khích tột độ, ông chộp lấy cả hai tay Tabitha và kéo bà lão nhảy múa khắp căn phòng cho đến khi những chuyển động thấp khớp kỳ cục của bà khiến ông cười phá lên, tiếng cười vang vọng trở lại từ các phòng ốc và buồng ngủ hệt như thể Peter Goldthwaite đang cười ở mọi ngóc ngách vậy. Cuối cùng, ông bật nhảy lên cao, gần như khuất vào làn khói che phủ mái nhà bếp, và khi tiếp đất an toàn, ông cố gắng lấy lại vẻ nghiêm nghị thường ngày.
“Ngày mai, vào lúc mặt trời mọc,” ông lặp lại, cầm lấy chiếc đèn để đi ngủ, “ta sẽ xem liệu kho báu này có được giấu trong bức tường gác mái hay không.”
“Và thưa ông Peter, vì chúng ta đã hết củi rồi,” Tabitha vừa thở hổn hển sau màn vận động vừa nói, “ông cứ đập phá ngôi nhà đến đâu, tôi sẽ nhóm lửa bằng những mảnh gỗ ấy đến đó.”
Đêm hôm ấy, những giấc mơ của Peter Goldthwaite thật lộng lẫy. Có lúc ông đang xoay chiếc chìa khóa nặng trịch trên một cánh cửa sắt trông chẳng khác nào cửa mộ địa, nhưng khi mở ra, nó lộ ra một căn hầm chất đầy tiền vàng nhiều như lúa vàng trong vựa. Nào là những chiếc cốc chạm trổ, bình súp, khay đựng, đĩa ăn bằng vàng hoặc bạc mạ vàng, bên cạnh những sợi dây chuyền và trang sức quý giá vô tài kể, dẫu có chút hoen ố vì hơi ẩm dưới hầm; bởi vì trong số tất cả của cải đã mất đi vĩnh viễn đối với con người, dù là chôn vùi trong lòng đất hay chìm dưới đáy biển, Peter Goldthwaite đều tìm thấy ở chính nơi cất giấu này. Thoắt cái, ông đã trở về ngôi nhà cũ nghèo túng như xưa, và được đón tiếp ở cửa bởi dáng hình gầy gò rười rượi của một người mà ông suýt nhầm tưởng là chính mình, chỉ có điều trang phục của người đó mang phong cách cổ xưa hơn nhiều. Nhưng ngôi nhà, mà không hề đánh mất vẻ bề ngoài ban đầu, đã biến thành một cung điện của những kim loại quý. Sàn nhà, tường và trần nhà đều bằng bạc đánh bóng; các khung cửa, khung cửa sổ, gờ trang trí, lan can và các bậc cầu thang đều bằng vàng ròng; những chiếc ghế bằng bạc có đế vàng, những chiếc tủ cao bằng vàng đứng trên bốn chân bạc, những chiếc giường bằng bạc với chăn dệt bằng vàng và ga trải giường bằng vải bạc mỏng. Ngôi nhà rõ ràng đã được hóa phép chỉ bằng một cái chạm, bởi nó vẫn giữ lại tất cả những dấu ấn mà Peter nhớ, nhưng bằng vàng hoặc bạc thay cho gỗ, và những chữ cái viết tắt tên ông - thứ mà khi còn là một đứa trẻ ông đã khắc lên cột cửa bằng gỗ - vẫn hằn sâu trên trụ vàng. Peter Goldthwaite lẽ ra đã là một người đàn ông hạnh phúc, ngoại trừ một thứ thị giác đánh lừa khiến mỗi lần ông ngoảnh lại, ngôi nhà từ vẻ lộng lẫy chói lọi bỗng chốc tối sầm lại thành nỗi u buồn bần tiện của ngày hôm qua.
Peter thức dậy từ sớm tinh mơ, chộp lấy cái rìu, búa và cưa mà ông đã đặt sẵn bên giường, rồi vội vã lên gác mái. Nơi đây lúc này chỉ lờ mờ đón chút ánh sáng yếu ớt từ những mảnh nắng đông hiếm hoi bắt đầu ló dạng qua những ô cửa sổ tròn đục ngầu như mắt bò. Một kẻ hay chiêm nghiệm có thể tìm thấy vô số đề tài cho trí tuệ suy đoán và viển vông của mình ngay trên gác mái. Đó là chốn dung thân của những mốt thời trang đã lùi vào dĩ vãng, những món đồ vặt vãnh cũ kỹ của một thời và bất cứ thứ gì chỉ có giá trị với một thế hệ người rồi trôi dạt lên gác mái khi thế hệ ấy đi vào lòng đất - không phải để cất giữ cho an toàn, mà là để dẹp cho khuất mắt. Peter nhìn thấy những chồng sổ sách kế toán ngả vàng mốc thếch bọc da thuộc, nơi những chủ nợ đã chết và chôn cất từ lâu từng ghi tên những con nợ cũng đã khuất núi bằng thứ mực nay đã phai mờ đến mức những tấm bia mộ rêu phong của họ còn dễ đọc hơn. Ông tìm thấy những bộ quần áo cũ mọt ăn rách nát tả tơi, nếu không thì Peter đã mặc chúng lên người. Nơi đây có một thanh gươm trơ trọi rỉ sét - không phải gươm chiến trận, mà là một thanh kiếm nhỏ kiểu Pháp của quý tộc - thứ chưa từng rời khỏi vỏ cho đến khi mất đi cái vỏ ấy. Nơi đây có những chiếc gậy đủ hai mươi loại khác nhau, nhưng không có chiếc nào có chỏm vàng, và những chiếc khóa giày đủ mọi kiểu dáng chất liệu nhưng chẳng có cái nào bằng bạc hay đính đá quý. Nơi đây có một chiếc hộp lớn chứa đầy giày cao gót và mũi nhọn. Trên một chiếc kệ kia là vô số lọ thuốc nửa vời chứa đầy thứ dược phẩm cổ quái, sau khi nửa phần kia đã làm tròn nhiệm vụ với tổ tiên của Peter, đã được mang lên đây từ căn phòng hấp hối. Nơi đây - để không phải liệt kê dài dòng thêm những món đồ sẽ chẳng bao giờ được đem ra đấu giá - là mảnh vỡ của một chiếc gương soi toàn thân mà lớp bụi bặm mờ đục trên bề mặt khiến hình ảnh của những món đồ cũ kỹ ấy trông còn cổ kính hơn cả thực tế. Khi Peter, vốn không biết có chiếc gương ở đó, vô tình bắt gặp những nét mờ nhạt của chính bóng mình, ông thầm tưởng rằng vị Peter Goldthwaite ngày trước đã quay trở lại để hỗ trợ hoặc cản trở công cuộc tìm kiếm kho báu ẩn giấu của ông. Và ngay khoảnh khắc ấy, một ý nghĩ kỳ lạ lóe lên trong đầu rằng chính ông mới là con người Peter đích thực từng chôn giấu số vàng, và đáng lẽ ra phải biết nó nằm ở xó xỉnh nào. Tuy nhiên, điều này ông lại quên mất một cách kỳ lạ.
“Thế nào, thưa ông Peter!” Tabitha cất giọng gọi từ cầu thang gác mái. “Ông đã đập nát ngôi nhà đủ để nấu ấm trà chưa?”
“Vẫn chưa đâu, Tabby già ạ,” Peter đáp, “nhưng việc đó xong sớm thôi, rồi bà sẽ thấy.” Vừa dứt lời, ông giơ cao chiếc rìu và giáng xuống mạnh mẽ đến mức bụi bay mù mịt, ván sàn vỡ vụn, và trong chớp mắt bà lão đã có một tạp dề đầy những mảnh vụn đổ nát.
“Chúng ta sắp có củi sưởi mùa đông giá rẻ rồi đây,” Tabitha lẩm bẩm.
Công việc tốt đẹp cứ thế tiến hành, Peter đập phá mọi thứ trước mặt, chặt chém các mối nối và xà nhà, cạy bật đinh ghim, xé toạc và giật tung các tấm ván, tạo ra một thứ âm thanh ầm ĩ kinh hoàng từ sáng đến tối. Tuy nhiên, ông vẫn cẩn thận để nguyên lớp vỏ bên ngoài của ngôi nhà nhằm tránh để hàng xóm hoài nghi chuyện gì đang xảy ra.
Chưa bao giờ trong số những cuộc phiêu lưu tinh thần của mình, dẫu mỗi cuộc phiêu lưu từng mang lại cho ông niềm vui chừng nào nó còn kéo dài, Peter lại hạnh phúc như lúc này. Có lẽ, suy cho cùng, có điều gì đó trong tâm tưởng của Peter Goldthwaite đã mang lại cho ông sự bù đắp nội tâm cho mọi tai ương ngoại cảnh mà nó gây ra. Dẫu ông nghèo túng, ăn mặc rách rưới, thậm chí đói khát và đứng trước nguy cơ bị xóa sổ hoàn toàn bởi một vực thẳm tai họa chực chờ, thì chỉ có thân xác ông là phải chịu đựng hoàn cảnh khốn cùng ấy, trong khi tâm hồn đầy hoài bão của ông lại đang tận hưởng ánh nắng của một tương lai tươi sáng. Bản tính của ông là luôn trẻ trung, và xu hướng sống đó giữ cho ông mãi như thế. Tóc bạc chẳng là gì - không, nếp nhăn hay sự yếu đuối cũng chẳng sá gì; trông ông quả thực có vẻ già nua, và có phần gắn kết khó chịu với một dáng hình gầy gò tàn tạ, nhưng con người thực sự, con người cốt lõi của Peter lại là một thanh niên tràn ngập hoài bão đang bước vào đời. Theo mỗi ngọn lửa được nhóm lên, phần tuổi trẻ đã lụi tàn của ông lại hồi sinh từ đống tro tàn cũ kỹ. Giờ đây nó đang dâng trào sự hân hoan. Sống đến tuổi này - không phải quá già, mà vừa vặn ở độ tuổi đẹp nhất - một chàng trai độc thân nhạy cảm với những giấc mơ ấm áp dịu dàng, ông tự quyết định rằng ngay khi số vàng ẩn giấu ló dạng, ông sẽ đi tán tỉnh và chiếm trọn trái tim của thiếu nữ đẹp nhất thị trấn. Nơi trái tim nào có thể cưỡng lại ông? Hỡi Peter Goldthwaite hạnh phúc!
Mỗi buổi tối - khi Peter đã vắng bóng lâu ngày ở những tụ điểm quen thuộc như văn phòng bảo hiểm, phòng đọc báo, tiệm sách, và khi danh dự của sự hiện diện của ông hiếm khi được mời chào trong các vòng tròn riêng tư - ông và Tabitha thường ngồi quây quần bên bếp lửa nhà bếp. Nơi đây lúc nào cũng chất đầy đống rác phẩm từ công việc lao động cả ngày của ông. Làm nền cho ngọn lửa luôn là một khúc gỗ sồi đỏ cỡ lớn, dù đã được che mưa chắn gió hơn một thế kỷ vẫn còn xì xèo hơi nóng và rỉ nước ở hai đầu, hệt như cây vừa mới bị đốn hạ cách đây một hai tuần. Tiếp theo là những khúc củi lớn, chắc nịch, đen sì và nặng trịch, đã mất đi bản chất mục nát và không thể bị phá hủy trừ bằng lửa, nơi chúng rực sáng như những thanh sắt nung đỏ. Trên nền tảng vững chãi đó, Tabitha sẽ dựng lên một cấu trúc nhẹ nhàng hơn, gồm những mảnh ván cửa, gờ trang trí và những vật liệu dễ bắt lửa, bùng cháy như rơm rạ và tung ra ngọn lửa rực rỡ vút cao lên tận ống khói rộng lớn, khiến những vách muội đen của nó lộ rõ gần như tận đỉnh. Trong khi đó, bóng tối của căn nhà bếp cổ sẽ bị xua đuổi khỏi những góc giăng đầy mạng nhện và bay khỏi những thanh xà ngang tối màu trên đầu, không biết dạt đi đâu mất, trong khi Peter mỉm cười như một người tràn ngập niềm vui và Tabitha hiện lên như bức tranh về tuổi già an nhàn. Tất cả những điều này, dĩ nhiên, chỉ là biểu tượng cho vận may tươi sáng mà việc phá hủy ngôi nhà sẽ mang lại cho những người cư ngụ.
Trong khi củi thông khô đang bùng cháy và nổ lách tách như một loạt tiếng súng hoa cải kỳ ảo, Peter ngồi nhìn ngắm và lắng nghe trong trạng thái phấn khích dễ chịu; nhưng khi ngọn lửa chớp nhoáng và tiếng ồn ào nhường chỗ cho thứ ánh sáng đỏ rực, hơi ấm đậm đà cùng tiếng ngân vang trầm ấm kéo dài suốt cả buổi tối, tâm trạng ông lại trở nên cởi mở thích trò chuyện. Có đêm - lần thứ sto - ông trêu chọc Tabitha để bà kể cho nghe điều gì đó mới mẻ về ông cố của mình.
“Bà đã ngồi ở góc bếp đó suốt năm mươi lăm năm rồi, Tabby già ạ, hẳn là phải nghe rất nhiều giai thoại về ngài ấy chứ,” Peter nói. “Chẳng phải bà từng kể với tôi rằng khi mới đến ngôi nhà này, có một bà lão cũng ngồi ở chỗ bà đang ngồi và từng là quản gia cho vị Peter Goldthwaite nổi tiếng đó sao?”
“Đúng thế, thưa ông Peter,” Tabitha đáp, “và bà ấy suýt soát trăm tuổi rồi. Bà ấy thường bảo rằng bà và cụ Peter Goldthwaite đã từng trải qua rất nhiều buổi tối ấm cúng bên lò sưởi nhà bếp - cũng y như tôi và ông đang làm lúc này đây, thưa ông Peter.”
“Lão ta hẳn phải có điểm giống tôi ở nhiều mặt,” Peter hài lòng nói, “nếu không thì lão chẳng bao giờ giàu lên được như thế. Nhưng tôi nghĩ ngài ấy đáng lẽ phải đầu tư số tiền đó tốt hơn thế chứ. Chẳng có lấy một đồng lãi! Toàn là vật thế chấp tốt! Và để rồi ngôi nhà phải bị đập nát mới lấy ra được! Điều gì khiến lão ta giấu kỹ đến thế nhỉ, Tabby?”
“Bởi vì ngài ấy không thể tiêu xài được,” Tabitha đáp, “vì cứ mỗi lần ngài tiến lại gần để mở khóa chiếc rương là Lão Lùn lại lẻn ra đằng sau túm lấy cánh tay. Người ta bảo số tiền đó được trả cho Peter từ chính chiếc ví của hắn, và hắn muốn Peter phải ký nhượng ngôi nhà cùng mảnh đất này cho hắn, nhưng Peter thề là không đời nào làm thế.”
“Y hệt như tôi đã thề với John Brown, người cộng sự cũ của mình,” Peter nhận xét. “Nhưng toàn là nhảm nhí cả thôi, Tabby; tôi chẳng tin câu chuyện đó đâu.”
“Chà, có lẽ nó không hoàn toàn đúng sự thật,” Tabitha nói, “vì vài người bảo rằng Peter đã thực sự sang tên ngôi nhà cho Lão Lùn, và đó là lý do vì sao nó luôn mang lại vận rủi cho những ai sống trong đó. Và ngay khi Peter vừa giao giấy tờ cho hắn, chiếc rương liền bật tung mở ra, và Peter chộp lấy một nắm vàng. Thế nhưng, ôi chao! Chẳng có gì trong tay hắn ngoài một bọc giẻ rách cả.”
“Câm cái miệng ngốc nghếch của bà lại, Tabby già kia!” Peter giận dữ quát lên. “Đó đều là những đồng guinea vàng ròng tuyệt hảo nhất từng mang hình bóng vị vua nước Anh. Tôi có cảm giác như thể mình nhớ lại được toàn bộ sự việc, và cách mà tôi, hay cụ Peter, hoặc bất kỳ ai đó, đã thọc tay vào, hoặc ngài ấy thọc tay vào, và rút nó ra rực rỡ ánh vàng. Giẻ rách với chả giẻ rành!”
Nhưng không một giai thoại bà già nào có thể làm chùn bước Peter Goldthwaite. Suốt đêm dài ông chìm trong những giấc mơ đẹp đẽ, và thức dậy vào lúc rạng đông với một nhịp đập hân hoan của trái tim mà hiếm ai may mắn cảm nhận được khi đã qua tuổi thiếu niên. Ngày này qua ngày khác, ông lao động cật lực không lãng phí một khoảnh khắc nào ngoại trừ giờ ăn, khi Tabitha gọi ông đến đĩa thịt lợn bắp cải, hoặc bất kỳ món ăn nào khác mà bà kiếm được hoặc ơn trên ban phước. Là một người thực sự sùng đạo, Peter không bao giờ quên cầu nguyện ơn lành - nếu thức ăn chẳng lấy gì làm ngon thì lại càng phải thành tâm hơn vì điều đó càng cần thiết - cũng như không quên tạ ơn, dẫu bữa tối có đạm bạc, vì chiếc bụng đói còn tốt hơn cái dạ dày đau yếu trong một bữa tiệc linh đình. Thế rồi ông vội vã quay trở lại với công việc, và trong chớp mắt lại biến mất trong làn bụi mù mịt bốc lên từ những bức tường cũ, dù vẫn đủ gây chú ý bằng những tiếng lộc cộc ầm ĩ phát ra từ giữa đống hỗn độn đó.
Thật đáng ghen tị làm sao cảm giác được làm việc một cách hữu ích! Chẳng có gì làm Peter bận lòng, hay đúng hơn là chẳng có gì ngoài những ảo ảnh trong tâm trí thoạt trông như những ký ức mơ hồ, nhưng đồng thời cũng mang dáng dấp của những điềm báo. Ông thường khựng lại với chiếc rìu giơ cao giữa không trung và tự nhủ: “Peter Goldthwaite, mày chưa từng giáng cú đánh này bao giờ sao?” hay “Peter, việc gì phải đập nát cả ngôi nhà? Nghĩ ngợi một chút đi, rồi mày sẽ nhớ ra vàng được giấu ở xó nào.” Tuy nhiên, ngày này qua tuần khác trôi qua mà chẳng có phát hiện đáng chú ý nào. Đôi khi, quả thật có một con chuột xám gầy gò ló đầu ra nhìn người đàn ông gầy gò, tự hỏi con quỷ nào đã ám ngôi nhà vốn dĩ vô cùng yên bình từ trước tới nay. Và thỉnh thoảng Peter cũng đồng cảm với nỗi sầu muộn của một cô chuột mẹ vừa đưa năm sáu đứa con nhỏ xinh xắn mềm mại ra đời đúng lúc để chứng kiến chúng bị đè bẹp bởi sự đổ nát của ngôi nhà. Nhưng cho đến nay vẫn chẳng có kho báu nào cả.
Đến lúc này, Peter, với sự quyết tâm như định mệnh và sự chăm chỉ như thời gian, đã hoàn tất các khu vực phía trên và tiến xuống tầng hai, nơi ông đang bận rộn ở một trong những căn phòng phía trước. Nơi đây từng là phòng ngủ trang trọng, và theo truyền thuyết từng được vinh dự làm nơi nghỉ ngơi của Thống đốc Dudley cùng nhiều vị khách quý khác. Đồ đạc đã không còn nữa. Chỉ còn sót lại những mảnh giấy dán tường đã phai màu và rách rưới, cùng những khoảng tường trống lớn được trang trí bằng các hình vẽ bằng than, chủ yếu là khuôn mặt người nhìn nghiêng. Vì đây là những tác phẩm minh chứng cho thiên tài thời trẻ của ông, việc xóa sổ chúng khiến lòng ông đau đớn hơn nhiều so với việc đó là những bức bích họa trên vách nhà thờ của Michael Angelo. Tuy nhiên, có một bức phác thảo - và là bức đẹp nhất - lại tác động đến ông theo một cách khác. Nó miêu tả một gã rách rưới đang chống một tay lên cái xẻng, uốn cong thân hình gầy gò qua một cái hố trên mặt đất, tay kia vươn ra để chộp lấy thứ gì đó vừa tìm thấy. Nhưng ngay phía sau hắn, với nụ cười ma quái trên nét mặt, là một bóng đen mọc sừng, có chiếc đuôi tua tủa và đôi chân móng ngựa.
“Biến đi, Satan!” Peter thét lên. “Gã này phải có vàng của hắn.” Vừa giơ cao rìu, ông giáng cho gã có sừng một cú trời giáng vào đầu không chỉ phá hủy gã ta mà còn thổi bay luôn cả kẻ tìm vàng, khiến toàn bộ khung cảnh biến mất như ma thuật. Hơn thế nữa, chiếc rìu đã đâm thủng qua lớp vữa lẫn lát lưa để lộ ra một hốc tường.
“Chúa nhân từ ơi, ông Peter! Ông đang cãi nhau với Lão Lùn đấy à?” Tabitha cất tiếng hỏi khi đang tìm chút củi để dúi vào dưới nồi cơm.
Không đáp lại bà lão, Peter đập vỡ thêm một khoảng tường nữa và mở ra một cái tủ nhỏ nằm ở một bên lò sưởi, cao ngang tầm ngực tính từ mặt đất. Bên trong chẳng chứa gì ngoài một chiếc đèn đồng phủ đầy rêu xanh và một mảnh da cừu bám bụi. Trong khi Peter kiểm tra mảnh da cừu, Tabitha chộp lấy chiếc đèn và bắt đầu dùng tạp dề chà xát nó.
“Chẳng ích gì khi cọ xát nó đâu, Tabby,” Peter nói. “Đó không phải là cây đèn của Aladdin đâu, dù tôi cho rằng nó là điềm báo của một vận may tương đương. Nhìn này, Tabby!”
Tabitha cầm mảnh da cừu lên và đưa sát vào mũi, nơi đang vắt vẻo một cặp kính gọng sắt. Nhưng vừa mới bắt đầu mày mò với nó, bà liền bật cười khùng khục, hai tay ôm lấy sườn.
“Ông đừng có hòng biến bà già này thành trò cười,” bà la lên. “Đây chính là nét chữ của ông Peter, y hệt như trong bức thư ông gửi cho tôi từ Mexico rồi.”
“Quả thực có sự giống nhau đáng kể,” Peter vừa nói vừa xem xét lại mảnh da cừu. “Nhưng chính bà cũng biết, Tabby, cái tủ này hẳn đã được trát vữa bịt kín từ trước khi bà đến ngôi nhà này hay trước khi tôi ra đời. Không; đây là chữ viết của cụ Peter Goldthwaite. Những cột ghi bảng Anh, shilling và pence này chính là những con số của ngài, biểu thị số lượng của kho báu, và dòng dưới cùng này chắc chắn là chỉ dẫn về nơi cất giấu. Nhưng mực đã phai mờ hoặc bong tróc đi mất, khiến nó hoàn toàn không thể đọc được. Thật đáng tiếc làm sao!”
“Chà, cây đèn này tốt chẳng khác gì đồ mới. Thế cũng được an ủi phần nào,” Tabitha nói.
“Một cây đèn!” Peter thầm nghĩ. “Điều đó báo hiệu ánh sáng cho cuộc tìm kiếm của tôi.”
Hiện tại, Peter cảm thấy có hứng thú suy ngẫm về phát hiện này hơn là tiếp tục công việc. Sau khi Tabitha xuống lầu, ông đứng mân mê mảnh da cừu bên một trong những ô cửa sổ phía trước, nơi đã bị bụi bám mờ mịt đến mức ánh nắng chỉ có thể hắt qua một cái bóng không rõ ràng của khung cửa lên sàn nhà. Peter dùng sức đẩy tung nó ra và nhìn xuống con phố lớn của thị trấn, trong khi ánh mặt trời rọi vào ngôi nhà cũ kỹ của ông. Không khí, dẫu ôn hòa và thậm chí ấm áp, vẫn khiến Peter rùng mình như thể vừa dội một gáo nước.
Đó là ngày đầu tiên của đợt băng tan tháng Giêng. Tuyết đọng dày trên các mái nhà, nhưng đang nhanh chóng tan chảy thành hàng triệu giọt nước lấp lánh rơi xuống dưới ánh nắng cùng âm thanh rả rích như một cơn mưa mùa hạ dưới mái hiên. Dọc theo con phố, lớp tuyết bị giẫm đạp cứng và đặc như mặt đường lát đá cẩm thạch trắng, vẫn chưa ẩm ướt trong nền nhiệt độ tựa mùa xuân. Nhưng khi Peter thò đầu ra, ông thấy cư dân nơi đây, nếu không muốn nói là cả thị trấn, đã thực sự tan chảy sau hai ba tuần giá lạnh nhờ ngày ấm áp này. Điều đó khiến ông vui mừng - một niềm vui đi kèm với tiếng thở dài - khi nhìn thấy dòng người phụ nữ lướt đi trên vỉa hè trơn trượt với đôi má ửng hồng được tôn lên bởi những chiếc mũ trùm chần bông, khăn choàng boa và khăn choàng lông chồn trông như những đóa hồng giữa một loại tán lá mới. Những chiếc chuông xe trượt tuyết kêu lanh canh liên hồi qua lại, đôi khi báo hiệu sự xuất hiện của một cỗ xe trượt từ Vermont chở đầy thịt lợn hoặc cừu đông lạnh, và có lẽ cả một vài con hươu; đôi khi là của một người bán hàng ở chợ thường nhật với gà, ngỗng và gà tây, bao gồm cả một quần thể chuồng gia cầm; và đôi khi là một bác nông dân cùng vợ đến thị trấn một phần để dạo chơi, một phần để mua sắm và một phần để bán vài quả trứng cùng ít bơ. Cặp đôi này ngồi trên một chiếc xe trượt vuông cổ điển đã phục vụ họ suốt hai mươi mùa đông và phơi mình dưới nắng hai mươi mùa hè cạnh hiên nhà. Kìa một quý ông và quý bà đang lướt nhanh trên tuyết bằng một chiếc xe thanh lịch có hình dáng hơi giống vỏ sò; kìa một chiếc xe trượt tuyến chở khách với các tấm rèm vải được vén sang một bên để đón ánh nắng đang lao vút đi trên con phố, lách qua lại giữa những phương tiện cản đường; kìa một chiếc xe có hình dáng như chiếc hòm của Noah trên ván trượt đang vòng qua góc phố, đó là một chiếc xe trượt khổng lồ không mui có chỗ ngồi cho năm mươi người và được kéo bởi một tá ngựa. Chiếc xe rộng rãi này chật ních những thiếu nam thiếu nữ vui vẻ, những chàng trai cô gái rộn ràng cùng những cụ già hồ hởi, tất cả đều tràn đầy sức sống và cười toét đến tận mang tai. Họ duy trì một thứ âm thanh râm ran trò chuyện cùng những tiếng cười khúc khích trầm ấm, và đôi khi bùng lên thành một tiếng hô vang vui sướng được đám đông khán giả đáp lại bằng ba tiếng hoan hô, trong khi một lũ trẻ tinh nghịch ném thẳng những quả bóng tuyết vào giữa nhóm người vui chơi. Cỗ xe trượt lướt đi, và khi bị khuất bởi một khúc cua của con phố, tiếng cười vui rộn rã từ xa vẫn còn văng vẳng bên tai.
Chưa bao giờ Peter chứng kiến một khung cảnh sinh động đến thế được tạo nên bởi tất cả những yếu tố ấy - ánh mặt trời rực rỡ, những giọt nước lấp lánh, lớp tuyết ngời sáng, đám đông vui vẻ, sự đa dạng của các phương tiện chuyển động nhanh cùng tiếng chuông lanh canh vui tai khiến trái tim phải nhún nhảy theo giai điệu của chúng. Chẳng có gì ảm đạm lọt vào mắt ngoại trừ mảnh kiến trúc chóp nhọn cổ kính mang tên ngôi nhà của Peter Goldthwaite, nơi trông có vẻ buồn bã ở bề ngoài, bởi vì một sự tiêu điều khủng khiếp đang gặm nhấm bên trong nó. Và vóc dáng gầy gò của Peter, thấp thoáng ở phần tầng hai nhô ra, hoàn toàn xứng đôi với ngôi nhà của ông.
“Peter! Mọi chuyện thế nào rồi, bạn hiền Peter?” một giọng nói vọng qua đường khi Peter đang thụt đầu vào. “Nhìn ra đây xem nào, Peter!”
Peter nhìn ra, và thấy người cộng sự cũ của mình - ông John Brown, đang đứng ở vỉa hè đối diện, bệ vệ và thoải mái, chiếc áo khoác lông mở rộng để lộ chiếc áo khoác dài bảnh bao bên dưới. Giọng nói của ông đã thu hút sự chú ý của toàn thị trấn hướng về phía cửa sổ của Peter Goldthwaite, và về phía con bù nhìn đầy bụi bặm đang hiện diện ở đó.
“Này Peter!” ông Brown lại lớn tiếng gọi; “quái quỷ gì đang diễn ra ở trỏng thế, mà tao cứ nghe thấy tiếng động ầm ĩ mỗi khi đi ngang qua vậy? Mày đang sửa sang lại ngôi nhà cũ à, làm mới lại từ đầu phỏng? Hả?”
“E rằng quá muộn cho việc đó rồi, ông Brown,” Peter đáp. “Nếu tôi làm mới lại, nó sẽ phải mới từ trong ra ngoài, từ dưới hầm lên tới nóc.”
“Sao anh không để tôi nhận thầu công việc này nhỉ?” ông Brown nói với hàm ý sâu xa.
“Chưa đâu,” Peter đáp rồi vội vã sập cửa sổ lại; bởi vì kể từ khi dấn thân vào công cuộc tìm kiếm kho báu, ông rất ghét việc bị người khác dòm ngó.
Khi ông lùi lại, vừa hổ thẹn vì sự nghèo khó bề ngoài vừa kiêu hãnh vì khối tài sản bí mật trong tầm tay, một nụ cười kiêu kỳ hiện lên trên gương mặt Peter y hệt như hiệu ứng của những tia nắng mờ nhạt trong căn phòng tồi tàn. Ông cố gắng ra dáng một phong thái mà tổ tiên mình có lẽ từng mang khi tự hào dựng lên một ngôi nhà vững chãi làm chốn neo đậu cho nhiều thế hệ con cháu về sau. Nhưng căn phòng quá tối đối với đôi mắt bị lóa vì tuyết của ông, và cũng thật ảm đạm khi đặt lên bàn cân so sánh với khung cảnh sinh động ngoài kia mà ông vừa mới nhìn ngắm. Thoáng liếc nhìn ra phố vừa rồi đã để lại cho ông một ấn tượng mạnh mẽ về cách mà thế giới duy trì sự vui tươi và thịnh vượng thông qua những niềm vui xã hội và các giao dịch thương mại, trong khi ông lại đang sống cô lập để theo đuổi một mục tiêu có thể chỉ là ảo ảnh bằng một phương pháp mà hầu hết mọi người gọi là điên rồ. Một trong những lợi thế lớn của lối sống quần tụ là mỗi cá nhân tự điều chỉnh tâm trí mình qua những bộ óc khác và uốn nắn hành vi theo láng giềng để hiếm khi bị lạc lối trong sự lệch lạc. Peter Goldthwaite đã tự đặt mình vào ảnh hưởng đó chỉ bằng một cái nhìn ra cửa sổ. Trong chốc lát, ông hoài nghi liệu có chiếc rương vàng nào được giấu kín hay không, và trong trường hợp đó, liệu có quá khôn ngoan khi đập nát ngôi nhà chỉ để chứng minh sự phi thực tế của nó.
Nhưng điều này chỉ diễn ra trong khoảnh khắc. Peter Kẻ Hủy Diệt lại tiếp tục nhiệm vụ mà Định Mệnh đã giao phó, và không chùng bước cho đến khi nó hoàn thành. Trong quá trình tìm kiếm, ông bắt gặp nhiều thứ thường thấy trong đống hoang tàn của một ngôi nhà cổ, và cả những thứ không thường thấy. Thứ trông có vẻ hợp lý nhất là một chiếc chìa khóa gỉ được nhét vào kẽ tường, có gắn một tấm thẻ gỗ ghi chữ viết tắt “P.G.” ở cán. Một phát hiện kỳ lạ khác là một chai rượu vang được xây bít kín trong một cái lò nướng cũ. Truyền thuyết trong gia đình kể rằng ông nội của Peter, một sĩ quan khoái hoạt trong cuộc chiến tranh cũ với Pháp, đã cất giữ nhiều tá chất lỏng quý giá dành cho những kẻ say xỉn chưa ra đời lúc bấy giờ. Peter chẳng cần thứ nước bổ dưỡng nào để duy trì hy vọng, vì thế ông giữ lại chai rượu để ăn mừng thành công. Ông nhặt được rất nhiều đồng xu lẻ rơi qua khe sàn nhà, vài đồng tiền Tây Ban Nha, và một nửa đồng sáu xu vỡ chắc chắn từng là tín vật tình yêu. Cạnh đó còn có một huy chương đăng quang bằng bạc của George III. Nhưng chiếc két sắt của cụ Peter Goldthwaite cứ chạy trốn từ góc tối này sang góc tối khác, hoặc cứ thế né tránh móng vuốt của Peter đệ nhị cho đến khi, nếu muốn tìm kiếm xa hơn nữa, ông buộc phải đào sâu vào lòng đất.
Chúng ta sẽ không bước theo từng bước tiến đắc thắng của ông. Chỉ cần biết rằng Peter làm việc hệt như một cỗ máy hơi nước và hoàn thành ngay trong mùa đông ấy công việc mà tất cả những người từng cư ngụ trước đây, với sự trợ giúp của thời gian và thời tiết, chỉ làm được một nửa trong suốt một thế kỷ. Ngoại trừ căn bếp, mọi phòng ốc buồng ngủ giờ đây đã bị khoét rỗng. Ngôi nhà chẳng khác nào một lớp vỏ trơ trọi, hiện thân của một ngôi nhà, phi thực tế hệt như những cảnh trí được sơn vẽ trong nhà hát. Nó giống như phần vỏ cứng của một khối phô mai lớn mà một con chuột đã cư ngụ và gặm nhấm cho đến khi nó chẳng còn là phô mai nữa. Và Peter chính là con chuột ấy.
Những gì Peter đập xuống, Tabitha đều mang đi đốt sạch, bởi bà suy luận một cách khôn ngoan rằng không có nhà thì chẳng cần củi để sưởi ấm, và do đó việc tiết kiệm lúc này là vô nghĩa. Cứ thế, toàn bộ ngôi nhà có thể coi như đã tan thành mây khói và bay lên tầng mây qua chiếc ống khói đen ngòm của nhà bếp. Đó là một sự tương đồng tuyệt vời với kỳ tích của kẻ tự nhảy xuống họng mình.
Vào đêm giao mùa giữa ngày cuối cùng của mùa đông và ngày đầu tiên của mùa xuân, mọi ngóc ngách đều đã bị lục tung ngoại trừ phạm vi nhà bếp. Buổi tối định mệnh này vô cùng khắc nghiệt. Một trận bão tuyết đã kéo đến từ vài giờ trước, và vẫn đang bị quật quẩy, tung hứng trong không khí bởi một cơn cuồng phong thực sự tấn công vào ngôi nhà hệt như thể chính chúa tể bầu trời đang giáng đòn quyết định vào công sức của Peter. Khung sườn đã quá mục nũi và các cột chống bên trong đã bị dỡ bỏ, sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu trong một đợt quần thảo dữ dội hơn của gió bão, những bức tường mục nát cùng toàn bộ các mái chóp nhọn đổ sụp xuống đầu người chủ nhà. Tuy nhiên, ông chẳng màng gì đến hiểm nguy, mà hoang dại và bồn chồn chẳng kém gì màn đêm, hay ngọn lửa chập chờn vụt lên theo mỗi tiếng gầm thét của cơn gió bão táp.
“Rượu vang, Tabitha,” ông hét lên - “chai rượu ngon tuyệt hảo của ông nội tôi! Chúng ta sẽ uống nó ngay bây giờ.”
Tabitha đứng dậy từ chiếc ghế dài bám đầy muội khói ở góc lò sưởi và đặt chai rượu trước mặt Peter, ngay sát bên chiếc đèn đồng cổ cũng là chiến lợi phẩm từ những cuộc tìm kiếm của ông. Peter nâng nó lên trước mắt, và nhìn qua lớp chất lỏng, ông thấy căn bếp được chiếu sáng bởi một thứ ánh sáng vàng rực rỡ cũng bao trùm lấy Tabitha, dát vàng lên mái tóc bạc của bà và biến bộ trang phục bần tiện thành những chiếc áo choàng lộng lẫy hoàng gia. Nó gợi cho ông nhớ về giấc mơ vàng son của mình.
“Thưa ông Peter,” Tabitha lên tiếng, “phải chăng chai rượu này phải được uống trước khi tìm thấy tiền?”
“Tìm thấy tiền rồi!” Peter thốt lên với một vẻ hung hăng kỳ lạ. “Cái rương ở ngay trong tầm với của tôi; tôi sẽ không ngủ cho đến khi vặn được chiếc chìa khóa này trong ổ khóa rỉ sét. Nhưng trước hết chúng ta hãy uống đã.”
Vì trong nhà chẳng có cái mở nút chai nào, ông bèn giáng cổ chai bằng chiếc chìa khóa rỉ của cụ Peter Goldthwaite, và chặt đứt nút bần được niêm phong chỉ bằng một nhát duy nhất. Sau đó ông rót đầy hai chiếc tách trà nhỏ bằng sứ mà Tabitha đã lấy từ trong tủ ra. Chai rượu lâu năm này trong và rực rỡ đến mức nó tỏa sáng bên trong tách và làm cho nhành hoa đỏ thẫm ở đáy mỗi chiếc tách hiện lên rõ mồn một hơn so với khi không có rượu. Hương thơm nồng nàn và tinh tế của nó lan tỏa khắp căn bếp.
“Uống đi, Tabitha!” Peter kêu lên. “Cầu phúc cho lão già trung thực đã cất giữ thứ rượu ngon này cho bà và tôi! Và đây là vì ký ức của Peter Goldthwaite!”
“Và chúng ta có lý do chính đáng để tưởng nhớ ngài ấy,” Tabitha vừa nói vừa uống.
Đã bao nhiêu năm trời, qua bao thăng trầm số phận và đủ loại tai ương, chai rượu đó mới tích tụ lại niềm vui sủi bọt để cuối cùng được cạn sạch bởi hai kẻ tri kỷ! Một phần hạnh phúc của thời đại trước đã được gìn giữ cho họ, và giờ đây được giải phóng giữa muôn vàn ảo ảnh hoan ca để vui đùa giữa cơn bão táp và sự tiêu điều của hiện tại. Cho đến khi họ uống cạn chai rượu, chúng ta phải hướng mắt sang nơi khác.
Tình cờ thay, vào đêm giông bão này, ông John Brown cảm thấy không được thoải mái trong chiếc ghế bành đệm lò xo bên lò sưởi than anthracite đang rực hồng sưởi ấm căn phòng khách lịch sự của mình. Bản chất ông là một người tốt bụng, luôn tử tế và trắc ẩn bất cứ khi nào sự bất hạnh của người khác vô tình chạm đến trái tim ông qua lớp áo gi lê đệm lót của sự thịnh vượng. Chiều nay ông đã nghĩ rất nhiều về người cộng sự cũ Peter Goldthwaite, những trò quái đản kỳ lạ cùng vận rủi đeo bám liên miên, sự nghèo khó trong ngôi nhà của Peter ở chuyến viếng thăm gần nhất, và vẻ mặt điên dại hốc hác của Peter khi ông trò chuyện với anh ta bên cửa sổ.
“Tội nghiệp gã!” ông John Brown thầm nghĩ. “Peter Goldthwaite khùng điên tội nghiệp! Vì tình nghĩa xưa nghĩa cũ, lẽ ra ta phải lo cho anh ta có chỗ ở thoải mái trong mùa đông khắc nghiệt này chứ.” Những cảm xúc đó lớn dần lên đến mức, bất chấp thời tiết khắc nghiệt, ông quyết định đến thăm Peter Goldthwaite ngay lập tức.
Sức mạnh của sự thôi thúc ấy thực sự kỳ lạ. Mỗi tiếng thét gào của gió bão tựa như một tiếng gọi, hoặc chí ít nếu ông Brown quen nghe những âm vang từ chính trí tưởng tượng của mình trong gió. Vô cùng ngạc nhiên trước lòng nhân từ bộc phát đó, ông trùm chiếc áo choàng qua người, quấn khăn quàng cổ và khăn tay kín mít, và thế là đầy đủ giáp trụ, thách thức giông bão. Nhưng sức mạnh của gió trời có phần lấn lướt trong trận chiến này. Ông Brown vừa vượt qua góc khuất cạnh nhà Peter Goldthwaite thì cơn cuồng phong bỗng nhấc bổng ông lên, quật úp mặt xuống một đống tuyết và tiếp tục vùi lấp thân hình đẫy đà của ông dưới những tầng tuyết mới. Có rất ít hy vọng ông có thể ngoi lên trước đợt băng tan tiếp theo. Cùng lúc đó, chiếc mũ của ông bị giật bay đi và cuốn vút lên tận cõi xa xôi nào đó chẳng màng tin tức quay về.
Dù vậy, ông Brown vẫn xoay sở đào bới một lối đi xuyên qua đống tuyết, với cái đầu trần chống chọi lại bão tố, lầm lũi tiến về phía cửa nhà Peter. Ngôi nhà điên cuồng rung lắc, kẽo kẹt rên rỉ dữ dội đến mức cú gõ cửa mạnh nhất cũng chẳng thể lọt vào tai những kẻ bên trong. Vì thế ông cứ thế bước thẳng vào không chút khách sáo, rồi dò dẫm tìm đường ra nhà bếp. Sự xâm nhập của ông thậm chí chẳng bị ai chú ý. Peter và Tabitha đang quay lưng về phía cửa, còng lưng bên một chiếc rương lớn mà có lẽ họ vừa kéo ra khỏi một cái hốc hoặc tủ giấu kín bên trái lò sưởi. Dưới ánh đèn trên tay bà lão, ông Brown thấy chiếc rương được nẹp và gia cố bằng sắt, tăng cường bằng các tấm sắt và nạm đinh sắt, quả là một vật chứa hoàn hảo để của cải của thế kỷ này tích lũy cho nhu cầu của thế kỷ khác.
Peter Goldthwaite đang đút chìa khóa vào ổ.
“Ồ, Tabitha,” ông thốt lên với niềm say mê run rẩy, “làm sao tôi có thể chịu đựng được luồng hào quang này đây? Vàng! - vàng sáng chói! Ta có thể nhớ lại cái liếc mắt cuối cùng vào nó ngay khi chiếc nắp nפп sắt sập xuống. Và kể từ đó, suốt bảy mươi năm, nó vẫn bừng cháy trong bí mật và tích tụ vẻ huy hoàng cho khoảnh khắc vinh quang này. Nó sẽ lóe lên trước mắt chúng ta tựa như mặt trời ban trưa.”
“Thế thì hãy che mắt lại đi, thưa ông Peter!” Tabitha nói với vẻ ít kiên nhẫn hơn thường lệ. “Nhưng vì ơn Chúa, xin ông hãy vặn chìa khóa đi!”
Và bằng một nỗ lực mạnh mẽ từ cả hai tay, Peter đã thúc được chiếc chìa khóa rỉ xuyên qua những cơ chế phức tạp của ổ khóa gỉ sét. Trong khi đó, ông Brown đã tiến lại gần và thọc cái đầu đầy háo hức của mình vào giữa hai người kia ngay khoảnh khắc Peter hất tung nắp rương lên. Chẳng có ánh chớp đột ngột nào thắp sáng căn nhà bếp.
“Cái gì thế này?” Tabitha kêu lên, chỉnh lại kính và giơ đèn soi vào chiếc rương đang mở tung. “Kho báu giẻ rách cũ kỹ của cụ Peter Goldthwaite!”
“Đại loại thế, Tabby,” ông Brown nói, vốc lên một nắm kho báu.
Ồ, cái bóng ma của khối tài sản chết chóc và chôn vùi ấy mà Peter Goldthwaite đã triệu hồi để tự dọa mình đến mất hồn mất vía! Nơi đây là hình ảnh của một số tiền vô kể, đủ để mua đứt cả thị trấn và xây dựng lại mọi con đường, nhưng dẫu lớn lao đến thế, chẳng một kẻ sane nào thèm đổi lấy một đồng sáu xu cứng cáp. Thế thì, nói một cách tỉnh táo thực tế, những kho báu ảo tưởng của chiếc rương là gì? Chà, hóa ra đây là những tờ tiền tín phiếu tỉnh lỵ cũ, công trái kho bạc, tiền của ngân hàng đất đai, và tất cả những loại bong bóng tương tự, từ đợt phát hành đầu tiên - hơn một thế kỷ rưỡi trước - kéo dài gần đến thời kỳ Cách mạng. Những tờ tiền mệnh giá một ngàn bảng nằm lẫn lộn với những đồng xu da cừu, và chẳng có giá trị gì hơn thế.
“Và đây, hóa ra là kho báu của cụ Peter Goldthwaite!” John Brown lên tiếng. “Cái tên trùng với anh, Peter, cũng y hệt như anh vậy; và khi tiền tệ tỉnh lỵ mất giá năm mươi đến bảy mươi lăm phần trăm, ngài ấy đã gom mua nó với hy vọng nó sẽ tăng giá trở lại. Tôi từng nghe ông nội tôi kể rằng cụ Peter đã thế chấp chính ngôi nhà và mảnh đất này cho cha mình để huy động tiền mặt cho dự án ngớ ngẩn của ngài. Nhưng tiền tệ cứ thế trượt giá cho đến chẳng ai thèm nhận nó ngay cả khi đem không, và thế là cụ Peter Goldthwaite, giống như Peter đệ nhị, ôm hàng ngàn trong két sắt mà chẳng có nổi chiếc áo khoác che lưng. Ngài đã phát điên vì nó. Nhưng đừng bận tâm, Peter; đó chính xác là loại vốn liếng hoàn hảo để xây những lâu đài trên không.”
“Ngôi nhà sắp sụp xuống đầu chúng ta rồi,” Tabitha kêu lên khi cơn gió giật lắc nó ngày càng dữ dội.
“Cứ để nó sụp,” Peter vừa nói vừa khoanh tay, ngồi phịch xuống chiếc rương.
“Không, không, người bạn già Peter của tôi!” John Brown nói. “Tôi có chỗ ở cho anh và Tabby, và một căn hầm an toàn cho chiếc rương kho báu này. Ngày mai chúng ta sẽ cố gắng đi đến thỏa thuận về việc mua bán ngôi nhà cũ này; bất động sản đang có giá, và tôi có thể trả cho anh một mức giá khá hời.”
“Và tôi,” Peter Goldthwaite với tinh thần đang hồi sinh nhận xét, “có một kế hoạch để đầu tư số tiền mặt này mang lại lợi ích tuyệt vời.”