Những Câu Chuyện Kể Lại Hai Lần

Lượt đọc: 490 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vị Khách Đầy Hoài Bão

❊ ❊ ❊

Vào một đêm tháng Chín, một gia đình quây quần bên bếp lửa gia đình, chất cao củi khô vớt từ các dòng suối núi, những quả thông khô rụi và từng mảnh vụn của những cây cổ thụ từng vỡ tan tành khi lao xuống vực sâu. Ngọn lửa bốc lên rừng rực trong ống khói, tỏa ánh sáng rực rỡ làm bừng sáng cả căn phòng. Gương mặt của người cha và người mẹ ánh lên niềm vui trầm lắng; lũ trẻ cười đùa rộn rã. Cô con gái lớn mười bảy tuổi là hiện thân của Hạnh Phúc tuổi xuân, còn người bà tuổi tác đã cao, đang ngồi đan len ở nơi ấm áp nhất, lại là hình ảnh của Hạnh Phúc buổi chiều tà. Họ đã tìm thấy "thảo dược bình yên" ngay tại nơi hoang vu lạnh lẽo nhất của toàn vùng New England. Gia đình họ sinh sống ở khe núi Notch thuộc vùng White Hills, nơi gió thổi rét buốt quanh năm và mùa đông thì lạnh giá tàn nhẫn, trút trọn cái khắc nghiệt tươi mới của nó vào ngôi nhà nhỏ trước khi hạ xuống thung lũng Saco. Nơi họ ở vừa lạnh lẽo lại vừa nguy hiểm, bởi ngay trên đầu họ, ngọn núi đứng sừng sững chênh chót đến mức những hòn đá vẫn thường lăn rầm rập xuống sườn núi, khiến họ giật mình thảng thốt giữa đêm khuya.

Cô con gái vừa thốt ra một lời đùa vui giản dị khiến cả nhà rộ lên tiếng cười, thì một cơn gió từ khe núi Notch thổi qua, dường như khựng lại trước mái nhà tranh, đập cửa rên rỉ như tiếng khóc than sầu thảm rồi mới biến mất vào thung lũng. Tiếng gió ấy làm họ thoáng chùng xuống trong giây lát, dù âm thanh ấy chẳng có gì lạ lẫm. Nhưng niềm vui nhanh chóng trở lại khi họ nhận ra then cửa được nâng lên bởi một người lữ khách; bước chân anh trước đó bị vùi lấp trong cơn gió ảm đạm báo hiệu người đến, cơn gió rên rỉ khi anh bước vào rồi thì thào rút lui khỏi cánh cửa.

Dù sống ở nơi hẻo lánh như vậy, gia đình này vẫn giao tiếp hằng ngày với thế giới bên ngoài. Đèo Notch thơ mộng là một huyết mạch lớn, nơi dòng máu thương mại nội địa không ngừng cuộn chảy nối liền Maine một bên với dãy Green Mountains và bờ sông St. Lawrence bên kia. Những chuyến xe ngựa đường dài luôn dừng lại trước cửa ngôi nhà nhỏ. Người lữ hành cô đơn chỉ có cây gậy làm bạn cũng ghé lại đây trao đổi vài câu, để nỗi cô quạnh không nuốt chửng lấy mình trước khi vượt qua khe núi hay đến được ngôi nhà đầu tiên dưới thung lũng. Rồi những người tài xế chở hàng trên đường đến chợ Portland cũng dừng chân trọ lại qua đêm; nếu là chàng trai chưa vợ, anh có thể ngồi thêm một giờ sau giờ ngủ thông thường để trộm một nụ hôn chào tạm biệt cô gái vùng sơn cước. Đó là một trong những quán trọ sơ khai nơi du khách chỉ trả tiền ăn ở, nhưng lại nhận được sự tử tế chân thành ấm áp vô giá. Chính vì vậy, khi nghe thấy tiếng bước chân vang lên giữa khoảng cửa ngoài và cửa trong, cả gia đình—bà cụ, lũ trẻ và mọi người—đều đứng dậy, như thể sắp đón chào một người thân thiết có số phận gắn liền với họ.

Cánh cửa mở ra, một trẻ tuổi bước vào. Ban đầu, gương mặt anh mang nét u buồn, dường như vô vọng của một người đi trên con đường hoang vắng, lạnh lẽo lúc hoàng hôn buông xuống chỉ có một mình; nhưng gương mặt ấy nhanh chóng bừng sáng khi thấy sự đón tiếp nồng hậu, ấm áp. Anh cảm thấy trái tim mình mở rộng hướng về tất cả mọi người, từ bà cụ dùng tạp dề lau ghế cho anh đến đứa trẻ nhỏ dang tay chào đón. Chỉ một ánh nhìn và nụ cười đã đưa người xa lạ ấy vào một mối thiện cảm hồn nhiên, thân thiết với cô con gái lớn.

“Ôi! Ngọn lửa này thật tuyệt vời,” anh reo lên, “nhất là khi có một quây quần ấm áp thế này quanh nó. Tôi tê dại cả người rồi, cái khe núi Notch này chẳng khác nào cái ống của một chiếc ống thổi lớn; nó trút những luồng gió dữ dội thẳng vào mặt tôi suốt từ Bartlett tới đây.”

“Vậy là chú đang trên đường tới Vermont sao?” người chủ nhà hỏi trong khi giúp người trẻ tuổi tháo chiếc ba lô nhẹ khỏi vai.

“Vâng, tôi đến Burlington, và còn đi xa hơn nữa,” anh trả lời. “Đáng lẽ tối nay tôi đã ở nhà Ethan Crawford rồi, nhưng người đi bộ thì cứ la cà trên con đường thế này. Mà chẳng sao; vì khi nhìn thấy ngọn lửa ấm áp và những khuôn mặt rạng rỡ của gia đình, tôi cảm thấy như mọi người nhóm lửa là để đợi tôi đến vậy. Thế nên tôi xin phép được ngồi xuống cùng gia đình và tự nhiên như ở nhà.”

Người khách lạ cởi mở vừa kéo ghế lại gần bếp lửa thì bên ngoài vang lên tiếng động như bước chân nặng nề, lao rầm rập xuống sườn núi dốc đứng với những bước dài và nhanh, rồi phóng một cú nhảy qua ngôi nhà nhỏ, đập mạnh vào vách đá đối diện. Cả gia đình nín thở vì họ đã quá quen với âm thanh này, còn vị khách cũng nín thở theo bản năng.

“Ông lão núi già lại ném đá vào chúng ta vì sợ chúng ta quên ông ấy đấy mà,” người chủ nhà trấn tĩnh lại và nói. “Thỉnh thoảng ông ấy lại gật đầu dọa bạt xuống, nhưng chúng tôi là hàng xóm lâu năm rồi, nhìn chung sống với nhau khá hòa thuận. Hơn nữa, chúng tôi có một nơi trú ẩn an toàn ngay bên cạnh nếu ông ấy định xuống thật.”

Giờ đây, hãy hình dung người khách lạ đã dùng xong bữa tối với thịt gấu, và bằng sự lịch thiệp tự nhiên, anh đã tạo được cảm tình với cả gia đình; họ trò chuyện cởi mở với nhau như thể anh chính là một thành viên của gia đình vùng núi này. Anh là người có tâm hồn kiêu hãnh nhưng dịu dàng; đối với kẻ giàu sang quyền quý thì kiêu kỳ, khép kín, nhưng lại luôn sẵn lòng cúi đầu bước qua cánh cửa nhà tranh nghèo để làm một người anh, người em bên bếp lửa nhà nông. Trong gia đình ở khe núi Notch, anh tìm thấy sự ấm áp và tình cảm chân thành, trí tuệ sâu sắc vốn có của người New England, cùng chất thơ tự nhiên mà họ đã vô tình tích tụ từ những đỉnh núi, vực sâu ngay trên ngưỡng cửa căn nhà lãng mạn mà nguy hiểm này. Anh đã đi xa và đi một mình; thực ra cả cuộc đời anh là một con đường cô độc, bởi với sự cẩn trọng cao độ trong tính cách, anh luôn giữ khoảng cách với những người lẽ ra có thể trở thành tri kỷ. Gia đình này cũng vậy, dù rất đỗi tử tế và hiếu khách, họ vẫn có sự gắn kết riêng tư và tách biệt với thế giới rộng lớn—thứ ranh giới thiêng liêng mà bất kỳ mái ấm nào cũng giữ lại, không để người lạ xâm phạm. Nhưng tối nay, một sự đồng cảm như định mệnh đã thôi thúc người thanh niên tao nhã, học thức này trút hết tâm sự trước những người dân miền núi đơn sơ, và buộc họ phải đáp lại anh bằng sự tin cậy tự do tương tự. Và điều đó thật đúng đắn. Chẳng phải sự gắn kết của một số phận chung còn chặt chẽ hơn cả tình ruột thịt sao?

Bí mật trong nhân cách của người thanh niên là một hoài bão lớn lao nhưng trừu tượng. Anh có thể chịu đựng một cuộc sống bình thường vô danh, nhưng không thể chấp nhận bị lãng quên khi đã nằm dưới nấm mồ. Khát khao cháy bỏng đã biến thành hy vọng, và hy vọng nuôi dưỡng bấy lâu nay đã trở thành niềm tin chắc chắn rằng: dù hiện tại anh di chuyển trong âm thầm, một hào quang sẽ soi sáng toàn bộ con đường anh đi, dù có thể không phải lúc anh còn bước tiếp trên đó. Nhưng khi thế hệ sau nhìn lại vào bóng tối của thời hiện tại, họ sẽ nhận ra dấu vết rực rỡ của bước chân anh, càng bừng sáng khi những vinh quang tầm thường khác phai nhạt, và phải thừa nhận rằng một tài năng đã đi từ nôi đến mộ mà không ai hay biết.

“Cho đến nay,” người khách lạ thốt lên, má anh bừng sáng và mắt lóe lên sự nhiệt huyết—“cho đến nay tôi chưa làm được gì cả. Nếu ngày mai tôi biến mất khỏi trái đất này, sẽ chẳng ai biết về tôi nhiều hơn gia đình—rằng một người trẻ tuổi vô danh đã từ thung lũng Saco đi lên lúc hoàng hôn, trút hết tâm tư với gia đình vào buổi tối, vượt qua khe núi Notch trước lúc bình minh, và không bao giờ xuất hiện nữa. Không một ai hỏi: ‘Anh ấy là ai? Người lữ hành ấy đã đi đâu?’ Nhưng tôi không thể chết chừng nào chưa thực hiện được sứ mệnh của mình. Khi ấy Cái Chết cứ việc đến: tôi sẽ dựng xong đài tưởng niệm cho chính mình.”

Một dòng cảm xúc tự nhiên liên tục tuôn trào giữa những suy tư trừu tượng khiến gia đình hiểu được tâm tư của người trẻ tuổi này, dù nó rất xa lạ với cuộc sống của họ. Vốn nhạy cảm và dễ cảm thấy ngượng ngùng, anh đỏ mặt vì sự nhiệt tình vượt quá giới hạn của mình.

“Mọi người cười tôi ư,” anh vừa nói vừa nắm lấy tay cô con gái lớn và tự cười mình. “Mọi người nghĩ hoài bão của tôi vớ vẩn chẳng khác nào tôi tự làm mình chết cống trên đỉnh Mount Washington chỉ để người ta nhìn ngó từ vùng quê xung quanh. Và quả thực đó sẽ là một bệ đá cao quý cho bức tượng của một con người đấy chứ.”

“Thà ngồi đây bên bếp lửa này,” cô gái e ấp trả lời, mặt đỏ hồng, “thấy thoải mái và hài lòng, dù chẳng ai nghĩ đến chúng ta.”

“Tôi nghĩ,” người cha nói sau một hồi trầm ngâm, “những gì chú trẻ tuổi này nói cũng có cái lý tự nhiên của nó; và nếu tâm trí tôi hướng theo cách đó, có lẽ tôi cũng cảm thấy y như vậy.—Lạ thật đấy bà nó ạ, chuyện của chú ấy làm tôi cứ nghĩ đến những điều gần như chẳng bao giờ thành hiện thực.”

“Biết đâu lại thành,” người vợ nhận xét. “Có phải ông đang nghĩ xem mình sẽ làm gì khi góa vợ không?”

“Không, không!” ông thốt lên, gạt bỏ ý nghĩ đó bằng sự trách móc dịu dàng. “Khi tôi nghĩ đến cái chết của bà, Esther ạ, tôi cũng nghĩ đến cái chết của chính mình. Nhưng tôi chỉ ước chúng ta có một trang trại tốt ở Bartlett, Bethlehem, Littleton, hay một thị trấn nào đó quanh dãy White Mountains, nhưng không phải ở nơi đá có thể đè lên đầu chúng ta. Tôi muốn sống chan hòa với hàng xóm, được gọi là ngài và được bầu vào Nghị viện Bang một vài nhiệm kỳ; vì một người đàn ông đơn sơ, trung thực cũng có thể làm được nhiều việc tốt như một luật sư vậy. Và khi tôi đã trở thành một ông lão tóc bạc, và bà là một bà lão, để không phải xa nhau lâu, tôi có thể nhắm mắt êm ái trên giường mình, để lại tất cả các con khóc thương xung quanh. Một tấm bia đá phiến cũng hợp với tôi như bia đá cẩm thạch, chỉ cần khắc tên và tuổi của tôi, một câu thánh ca, và điều gì đó để mọi người biết rằng tôi đã sống như một người trung thực và chết như một tín đồ Đấng Christ.”

“Đấy thấy chưa!” vị khách reo lên; “bản chất của chúng ta là mong muốn một bia đá tưởng niệm, dù là đá phiến hay cẩm thạch, hay một cột đá hoa cương, hoặc một ký ức vinh quang trong trái tim nhân loại.”

“Tối nay chúng ta lạ thật đấy,” người vợ nói, mắt rấn rấn nước mắt. “Người ta bảo tâm trí con người cứ lang thang suy nghĩ thế này là điềm báo đấy. Nghe kìa, lũ trẻ!”

Mọi người lắng nghe theo. Lũ trẻ nhỏ hơn đã được cho đi ngủ ở phòng bên, nhưng cánh cửa nối vẫn mở; vì vậy có thể nghe thấy tiếng chúng đang trò chuyện rôm rả với nhau. Tất cả như bị lây nhiễm từ câu chuyện bên bếp lửa, đang thi nhau đưa ra những ước mơ viển vông và những dự định trẻ con về những gì chúng sẽ làm khi trưởng thành. Cuối cùng, một cậu bé thay vì nói với anh chị em mình, đã gọi to với mẹ.

“Mẹ ơi, con bảo mẹ cái này nhé,” cậu bé reo lên: “Con muốn mẹ, bố, bà, tất cả chúng ta và cả chú khách nữa, xuất phát ngay bây giờ để đi uống một ngụm nước ở lòng suối Flume.”

Không ai nín được cười trước ý nghĩ trẻ con của cậu bé: rời bỏ chiếc giường ấm áp, kéo mọi người rời khỏi bếp lửa vui vẻ để đến thăm lòng suối Flume—một dòng suối đổ xuống vực sâu ngay trong khe núi Notch.

Cậu bé vừa dứt lời thì một chiếc xe cỗ xe ngựa chạy lách cách dọc con đường và dừng lại một chút trước cửa. Trên xe dường như có hai ba người đàn ông đang khuấy động tinh thần bằng điệu khúc hát đồng ca mộc mạc vang vọng thành những nốt nhạc đứt quãng giữa các vách đá, trong khi những người hát còn băn khoăn không biết nên tiếp tục hành trình hay dừng lại trọ đêm tại đây.

“Bố ơi,” cô gái nói, “họ đang gọi tên bố kìa.”

Nhưng người đàn ông tốt bụng nghi ngờ không biết họ có thực sự gọi mình hay không, và không muốn tỏ ra quá ham hố lợi lộc bằng cách mời mọc người ta vào nhà mình. Vì vậy ông không vội ra cửa, và chẳng mấy chúc, tiếng roi ngựa vút lên, những người lữ hành lao gập vào khe núi Notch, vẫn vừa đi vừa hát ca cười đùa, dù âm thanh vang vọng trở lại từ lòng núi nghe thật sầu thảm.

“Đấy mẹ xem!” cậu bé lại reo lên; “họ mà cho chúng ta đi nhờ thì đã đến Flume rồi.”

Một lần nữa họ lại cười trước ý tưởng dai dẳng của cậu bé về một chuyến đi dạo đêm. Nhưng đúng lúc đó, một thoáng mây mờ lướt qua tâm hồn cô con gái; cô nhìn chằm chằm vào bếp lửa và hít một hơi dài như một tiếng thở dài. Nó tự thoát ra ngoài dù cô đã cố nén lại. Rồi giật mình và đỏ mặt, cô nhìn nhanh quanh mọi người như thể họ vừa thoáng nhìn thấu vào lồng ngực cô. Người khách lạ hỏi cô đang nghĩ gì.

“Không có gì đâu ạ,” cô trả lời với nụ cười cúi mặt; “chỉ là tự nhiên cháu thấy cô đơn quá.”

“Ôi, tôi luôn có tài cảm nhận được những gì trong lòng người khác,” anh nói, nửa thật nửa đùa. “Tôi nói ra bí mật trong lòng cô nhé? Vì tôi biết phải nghĩ gì khi một cô gái trẻ run rẩy bên bếp lửa ấm áp và than thở cô đơn ngay bên cạnh mẹ mình. Tôi nói những cảm xúc ấy thành lời nhé?”

“Chúng sẽ không còn là cảm xúc của một cô gái nữa nếu có thể thốt thành lời,” cô gái vùng núi trả lời, mỉm cười nhưng tránh ánh mắt của anh.

Tất cả những lời này được nói riêng với nhau. Có lẽ một mầm mống tình yêu thuần khiết đang nảy nở trong trái tim họ, thuần khiết đến mức chỉ có thể nở hoa ở Chốn Bồng Lai, bởi nó không thể chín đồi trên mặt đất; vì phụ nữ luôn sùng bái sự tôn nghiêm dịu dàng như của anh, và một tâm hồn kiêu hãnh, trầm tư nhưng tử tế lại dễ bị chinh phục nhất bởi sự đơn sơ như của cô. Nhưng trong khi họ nói khẽ, và anh đang ngắm nhìn niềm u buồn hạnh phúc, những bóng mờ nhẹ nhàng, những khát khao e ấp của tâm hồn thiếu nữ, thì tiếng gió qua khe núi Notch lại vang lên trầm đục và sầu thảm hơn. Đúng như người thanh niên mơ mộng nói, nó giống như điệu đồng ca của những linh hồn trận gió—những kẻ vào thời Ấn Độ cổ đại từng cư ngụ giữa những ngọn núi này và biến đỉnh cao cùng vực sâu thành vùng đất thiêng. Có một tiếng rên rỉ dọc con đường như thể một đám tang đang đi qua. Để xua tan không khí u uẩn, gia đình ném những cành thông vào bếp lửa cho đến khi những chiếc lá khô nổ lách tách và ngọn lửa bùng lên, một lần nữa hé lộ một cảnh tượng bình yên và hạnh phúc khiêm nhường. Ánh sáng lưu luyến bao trùm lấy họ và âu yếm tất cả. Kìa là những khuôn mặt nhỏ nhắn của lũ trẻ đang ghé nhìn từ chiếc giường riêng, kìa là vóc dáng khỏe mạnh của người cha, nét mặt trầm lặng ân cần của người mẹ, người thanh niên trán cao, cô gái tuổi dậy thì và bà cụ tốt bụng vẫn đang đan len ở nơi ấm áp nhất.

Bà cụ ngước mắt lên khỏi công việc, ngón tay vẫn không ngừng đan đát, là người tiếp theo lên tiếng.

“Người già cũng có ý nghĩ của người già,” bà nói, “cũng như người trẻ vậy. Các con cứ ước mơ, lên kế hoạch và để đầu óc chạy theo hết chuyện này đến chuyện khác cho đến khi làm tâm trí mẹ cũng lang thang theo. Giờ đây một bà lão thì ước điều gì, khi chỉ bước thêm một hai bước nữa là đến mồ rồi? Các con ơi, nó sẽ ám ảnh mẹ ngày đêm cho đến khi mẹ nói ra với các con.”

“Chuyện gì vậy mẹ?” cả hai vợ chồng cùng thốt lên.

Rồi bà cụ, với vẻ bí ẩn khiến mọi người xích lại gần bếp lửa hơn, kể với họ rằng bà đã chuẩn bị đồ liệm tang từ nhiều năm trước—một tấm vải liệm bằng lanh tốt, một chiếc mũ có bèo nhún bằng vải phin, và mọi thứ đều tốt hơn những thứ bà từng mặc kể từ ngày cưới. Nhưng tối nay, một niềm tin cổ xưa lại trở về trong tâm trí bà một cách kỳ lạ. Ngày trước người ta thường bảo rằng nếu có điều gì không chỉnh chu với tử thi—chỉ cần cái bèo nhún không phẳng hay chiếc mũ đội không ngay ngắn—thì cái xác trong quan tài dưới lớp đất sâu sẽ cố giơ bàn tay lạnh ngắt lên để sửa lại. Chỉ nghĩ đến thôi cũng làm bà run rẩy.

“Bà đừng nói thế nữa bà ơi,” cô gái rùng mình nói.

“Bây giờ,” bà cụ tiếp tục với sự tha thiết kỳ lạ, nhưng vẫn mỉm cười một cách xa xăm trước sự ngớ ngẩn của chính mình, “mẹ muốn một trong số các con, khi mẹ được mặc đồ và nằm trong quan tài,—mẹ muốn một người soi một chiếc gương lên mặt mẹ. Biết đâu mẹ có thể thoáng nhìn thấy mình xem mọi thứ đã chỉnh chu chưa?”

“Dù già hay trẻ, tất cả chúng ta đều mơ về nấm mồ và đài tưởng niệm,” người thanh niên khách lạ thì thầm. “Tôi tự hỏi những người thủy thủ cảm thấy thế nào khi tàu đang chìm và họ, vô danh và không ai biết đến, sẽ bị chôn cùng nhau dưới đại dương—nấm mồ rộng lớn và vô danh ấy?”

Trong một khoảnh khắc, suy nghĩ ghê rợn của bà cụ đã xâm chiếm tâm trí người nghe đến mức một âm thanh ngoài trời đêm, bốc lên như tiếng gầm của một luồng thiên thiên tai, đã trở nên rộng lớn, sâu thẳm và kinh hoàng trước khi nhóm người định mệnh kịp nhận ra. Ngôi nhà và mọi thứ bên trong rung chuyển; nền móng trái đất như chấn động, như thể âm thanh kinh hoàng này là tiếng kèn báo hiệu ngày tận thế. Già trẻ trao nhau một ánh nhìn hãi hùng và trong giây lát đứng chôn chân, tái nhợt, khiếp sợ, không thể thốt lên lời hay di chuyển. Rồi cùng một lúc, tiếng kêu thét vỡ òa ra từ môi tất cả mọi người:

“Sạt lở! Sạt lở núi rồi!”

Những từ ngữ đơn giản nhất chỉ có thể gợi lên chứ không thể tả hết sự kinh hoàng không lời của thảm họa. Các nạn nhân lao ra khỏi ngôi nhà nhỏ và tìm kiếm nơi trú ẩn ở một vị trí mà họ cho là an toàn hơn—nơi đã dựng sẵn một hàng rào chắn để phòng ngừa tình huống khẩn cấp như vậy. Ôi chao! Họ đã bỏ rơi nơi an toàn của mình và lao thẳng vào con đường hủy diệt. Toàn bộ sườn núi đổ sụp xuống như một thác nước tàn phá. Ngay trước khi chạm tới ngôi nhà, dòng đất đá vỡ ra làm hai nhánh, không làm vỡ một ô cửa kính nào ở đó, nhưng đè bẹp toàn bộ vùng phụ cận, lấp kín con đường và hủy diệt mọi thứ trên con đường kinh hoàng của nó. Rất lâu trước khi tiếng sấm của trận sạt lở lớn đó ngừng gầm rống giữa các ngọn núi, cơn hấp hối cuối cùng đã trải qua và các nạn nhân đã an nghỉ. Xác của họ không bao giờ được tìm thấy.

Sáng hôm sau, người ta thấy làn khói nhẹ vương vất từ ống khói ngôi nhà nhỏ bay lên sườn núi. Bên trong, ngọn lửa vẫn còn tàn âm ỉ trên bếp, và những chiếc ghế xếp thành vòng tròn xung quanh, như thể những người ở chỉ vừa mới bước ra ngoài để xem sự tàn phá của trận sạt lở và sẽ sớm trở về để tạ ơn Trời Phật vì đã thoát chết một cách thần kỳ. Mọi người đều để lại những vật dụng riêng biệt khiến những ai từng biết gia đình đều phải rơi lệ cho từng người. Ai mà chưa từng nghe tên họ? Câu chuyện đã được kể lại khắp nơi và sẽ mãi mãi là một huyền thoại của những ngọn núi này. Các nhà thơ đã ca ngợi số phận của họ.

Có những tình tiết khiến một số người cho rằng có một người khách lạ đã được đón vào ngôi nhà nhỏ trong đêm kinh hoàng đó, và đã chia sẻ thảm họa với tất cả những người trong nhà; những người khác lại phủ nhận rằng không có đủ căn cứ cho một giả thuyết như vậy. Ôi thương thay cho người thanh niên kiêu hãnh với ước mơ về sự bất tử trên trần thế! Tên tuổi và diện mạo hoàn toàn không ai biết, lịch sử, cách sống, dự định của anh là một bí ẩn không bao giờ được giải đáp, cái chết và sự tồn tại của anh đều là một nỗi hoài nghi,—thế thì cơn đau đớn trong khoảnh khắc tử thần ấy thuộc về ai?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 5 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.