Vị khách lâu năm trong truyền thuyết của tòa Province House vẫn đọng lại trong trí nhớ của tôi từ giữa mùa hè cho đến tận tháng Giêng. Vào một buổi tối nhàn nhã cuối mùa đông năm ngoái, đinh ninh rằng thế nào ông cũng ngồi ở góc ấm cúng nhất của quán rượu, tôi quyết định sang thăm lại, với hy vọng lập chút công trạng với quê hương bằng cách vớt vát khỏi hố quên lãng một sự kiện lịch sử chưa từng được ai biết đến. Đêm ấy trời lạnh buốt và ẩm ướt, lại thêm cuồng nào bởi một cơn gió mạnh thổi thét qua đường Washington, làm những ngọn đèn gas trong các lồng kính chao đảo và chớp giật liên hồi.
Khi tôi vội vã rảo bước, tâm trí tôi bận rộn so sánh diện mạo hiện tại của con đường với cảnh tượng thuở các thống đốc người Anh còn tề tựu ở dinh thự mà tôi đang hướng tới. Vào thời đó, nhà gạch hãy còn ít, cho đến khi những trận hỏa hoạn liên tiếp quét sạch rồi lại quét sạch những ngôi nhà và kho tàng bằng gỗ ra khỏi các khu dân cư đông đúc nhất của thị trấn. Các tòa nhà đứng độc lập và riêng rẽ, không giống như bây giờ, khi mà những không gian riêng biệt ấy đã hòa nhập thành các dãy nhà liền kề với một mặt tiền tẻ nhạt giống hệt nhau; trái lại, mỗi ngôi nhà mang một nét đặc trưng riêng, như thể gu thẩm mỹ cá nhân của chủ nhân đã tạo hình cho nó, tạo nên một vẻ đẹp bất quy tắc đầy nên thơ mà sự vắng bóng của nó khó lòng bù đắp được bằng bất kỳ nét đẹp nào của kiến trúc hiện đại chúng ta. Một khung cảnh như thế, mờ ảo phai khuất vào tầm mắt nhờ ánh sáng thỉnh thoảng phát ra từ một ngọn nến mỡ hắt qua những ô cửa sổ nhỏ rải rác, sẽ tạo ra một sự tương phản ảm đạm với con đường mà tôi đang chiêm ngưỡng, nơi ánh đèn gas bừng sáng từ góc phố này sang góc phố khác, rực lửa bên trong các cửa tiệm và hắt thứ ánh sáng ban ngày qua những tấm kính khổ lớn. Thế nhưng, bầu trời đen kịt và u ám khi tôi ngước nhìn lên, chắc chắn vẫn mang nét mặt y hệt như khi nó đăm đăm nhìn xuống những người New England thời tiền Cách mạng. Cơn gió mùa đông vẫn mang tiếng rít quen thuộc với đôi tai họ. Nhà thờ Old South Church kia cũng vậy, vẫn giương ngọn tháp cổ kính của mình vào bóng tối, chìm khuất giữa đất trời, và khi tôi bước qua, chiếc chuông đồng của nó — thứ từng cảnh báo bao thế hệ về sự mong manh của cõi đời — đã cất lên giọng điệu nặng nề, chậm rãi mang cùng một bài học đạo đức mà chẳng ai đoái hoài ấy đến chính tôi.
“Mới có bảy giờ!” tôi thầm nghĩ. “Những câu chuyện truyền thuyết của ông lão chắc chắn sẽ chẳng đủ để giết thời gian từ đây cho đến giờ đi ngủ.”
Bước qua chiếc cổng vòm hẹp, tôi băng qua khoảng sân, với không gian chật hẹp được soi sáng bởi một chiếc đèn lồng treo trên cổng của Province House. Khi bước vào quán rượu, tôi thấy, đúng như dự đoán, nhà thông thái chuyên kể chuyện cổ đang ngồi bên lò sưởi than anthracite hồng rực, thả những làn khói mờ ảo từ một điếu xì gà béo ú. Ông nhận ra tôi với vẻ hoan hỉ rõ rệt, bởi cái tính kiên nhẫn lắng nghe hiếm có luôn khiến tôi trở thành người được lòng những cụ ông và cụ bà có máu kể chuyện. Kéo một chiếc ghế lại gần lò sưởi, tôi bảo chủ quán mang cho mỗi người một ly punch rượu whisky, và thức uống ấy nhanh chóng được dọn lên, bốc khói nghi ngút với một lát chanh ở đáy ly, một tầng rượu port đỏ sẫm trên bề mặt và một lớp bột nhục đậu khấu rắc đều lên trên. Khi chúng tôi chạm ly vào nhau, người bạn kể chuyện cổ tích liền xới tên mình cho tôi biết là ông Bela Tiffany, và tôi lấy làm thích thú với cái tên kỳ quặc ấy, bởi nó gán cho hình ảnh và tính cách của ông một nét độc đáo riêng trong tâm tưởng tôi. Chén rượu của cụ ông như một chất dung môi hòa tan trí nhớ ông, khiến nó trào dâng những câu chuyện, giai thoại, chuyện kể về những nhân vật nổi tiếng đã khuất và những nét sinh hoạt của thời cổ đại, có chuyện ngây thơ như lời ru của vú em, nhưng cũng có chuyện đáng để các nhà sử học nghiêm cẩn chú tâm. Không gì gây ấn tượng với tôi sâu sắc hơn câu chuyện về một bức tranh đen kỳ bí từng treo trong một căn phòng của Province House, ngay phía trên căn phòng chúng ta đang ngồi đây. Sau đây là phiên bản chính xác nhất về sự thật ấy mà độc giả có thể tìm được từ bất kỳ nguồn nào khác, dẫu rằng nó quả thực mang một sắc thái lãng mạn gần như kỳ ảo.
Trong một căn phòng của Province House từ lâu đã lưu giữ một bức tranh cổ với chiếc khung đen như gỗ mun, và bản thân tấm vải bạt thì tối đen vì tuổi tác, ẩm mốc và khói nhang đến mức chẳng thể nhận ra dù chỉ một nét cọ của họa sĩ. Thời gian đã giăng một bức màn không thể xuyên thủng lên đó, nhường lại cho truyền thuyết, thần thoại và sự phỏng đoán quyền định đoạt những gì từng được khắc họa nơi ấy. Dưới thời trị vì của nhiều đời thống đốc kế tiếp nhau, nó vẫn treo, theo quyền lệ định và không ai tranh cãi, ngay trên chiếc bệ lò sưởi của căn phòng đó, và nó vẫn giữ nguyên vị trí ấy khi Phó thống đốc Hutchinson lên tiếp quản quyền điều hành tỉnh sau sự ra đi của ngài Francis Bernard.
Vào một buổi chiều, vị phó thống đốc ngồi tựa đầu vào chiếc lưng ghế bọc chạm trổ uy nghi của mình, đăm đăm ngẫm nghĩ nhìn vào khoảng không đen ngòm của bức tranh. Đó hầu như không phải là thời điểm thích hợp cho sự trầm tư vô bổ ấy, khi mà những vấn đề hệ trọng bậc nhất đang đòi hỏi quyết định của người cầm quyền; bởi chỉ trong vòng một giờ đồng hồ trước đó, Hutchinson đã nhận được tin tức về sự xuất hiện của một hạm đội Anh mang theo ba trung đoàn từ Halifax đến để trấn áp sự bất tuân của người dân. Những đội quân này đang chờ sự cho phép của ông để chiếm lấy pháo đài Castle William và chính thị trấn, thế nhưng, thay vì đặt bút ký vào một mệnh lệnh chính thức, vị phó thống đốc cứ ngồi đó chăm chú soi xét khoảng vải bạt đen kịt đến mức dáng vẻ của ông đã thu hút sự chú ý của hai người trẻ tuổi đi theo hầu. Một người mặc quân phục màu vàng sậm, chính là người họ hàng của ông, Francis Lincoln, đại úy tỉnh đội tại Castle William; người kia, ngồi trên một chiếc ghế đẩu thấp bên cạnh ghế ông, là Alice Vane, cô cháu gái yêu quý của ông. Nàng khoác toàn thân một bộ đồ trắng — một sinh thể nhợt nhạt, thanh tao, dẫu sinh ra ở New England, lại được giáo dục ở nước ngoài và trông không chỉ như một kẻ xa lạ đến từ xứ sở khác, mà dường như là một sinh thể từ một thế giới khác. Trong suốt nhiều năm trời, cho đến khi mồ côi, nàng đã sống cùng cha ở miền Nam nước Ý đầy nắng, và tại đó nàng đã nêu cao sở thích cũng như niềm đam mê đối với nghệ thuật điêu khắc và hội họa, thứ mà nàng tìm thấy rất ít cơ hội để thỏa mãn trong những ngôi nhà đơn sơ của giới quý tộc thuộc địa. Người ta đồn rằng những tác phẩm đầu tay của ngỏ bút nàng cho thấy một tài năng không hề tầm thường, dẫu rằng bầu không khí thô mộc của New England có lẽ đã gò bó bàn tay nàng và làm phai mờ những sắc màu rực rỡ trong trí tưởng tượng của nàng. Thế nhưng, khi quan sát cái nhìn kiên định của người bác, thứ dường như đang dò dẫm qua màn sương của năm tháng để khám phá chủ đề của bức tranh, sự tò mò của nàng đã trỗi dậy.
“Thưa bác kính yêu, người ta có biết bức tranh cổ này từng miêu tả điều gì không?” nàng hỏi. “Biết đâu, nếu nó được làm cho hiển lộ, nó có thể là một kiệt tác của một họa sĩ vĩ đại nào đó; bằng không, cớ sao nó lại chiếm một vị trí nổi bật đến thế suốt ngây dài như vậy?”
Vì người bác của nàng — trái với thói quen thường lệ, bởi ông vốn chiều chuộng mọi tâm trạng và ý thích bất chợt của Alice như thể nàng là đứa con gái ruột thịt được yêu thương nhất của mình — không đáp lại ngay lập tức, vị đại úy trẻ tuổi của Castle William liền đứng ra trả lời thay.
“Tấm vải bạt vuông vức, tối tăm này, thưa người em họ xinh đẹp của tôi,” anh ta nói, “đã là một vật gia bảo tại Province House từ thời hồng hoang. Còn về người họa sĩ, tôi chẳng thể nói cho nàng biết điều gì; nhưng nếu một nửa những câu chuyện kể về nó là sự thật, thì chưa từng có một bậc thầy vĩ đại nào của Ý tạo ra một tác phẩm kỳ diệu như bức tranh trước mặt nàng đây.”
Đại úy Lincoln tiếp tục kể một số giai thoại kỳ lạ và hoang đường, vì không thể bác bỏ chúng bằng cách chứng thực nhãn quan, nên chúng đã trở thành những điều người ta tin sái cổ khi nhắc đến bức tranh cổ này. Một trong những giai thoại hoang đường nhất, đồng thời cũng được tin tưởng nhiều nhất, cho rằng đây là một bức chân dung nguyên bản và đích thực của ác quỷ, được họa lại tại một buổi họp phù thủy gần Salem, và sự giống nhau đến rợn người của nó đã được xác nhận bởi một số phù thủy và pháp sư đã khai nhận tại phiên tòa công khai của họ. Người ta cũng khẳng định rằng một linh hồn quen thuộc hay ác quỷ đang trú ngụ đằng sau lớp màu đen của bức tranh, và từng hiện hình vào những dịp tai họa giáng xuống cho hơn một vị thống đốc hoàng gia. Chẳng hạn, Shirley từng chứng kiến bức tranh điềm gở ấy vào đêm trước thảm bại nhục nhã và đẫm máu của Đại tướng Abercrombie dưới chân tường thành Ticonderoga. Nhiều gia nhân của Province House từng thoáng thấy một nét mặt đăm đăm cau có nhìn xuống họ lúc chạng vạng sáng hoặc chiều tối, hay trong sâu thẳm đêm đen khi đang cào đống lửa đang lấp ló trên lò sưởi phía dưới, dẫu rằng nếu có ai đủ can đảm cầm ngọn đuốc rọi trước bức tranh, thì nó vẫn đen ngịt và không thể phân biệt được như xưa. Người cao tuổi nhất ở Boston hồi tưởng lại rằng cha ông — vào thời của ông ấy thì bức chân dung vẫn chưa phai mờ hoàn toàn — từng ngắm nhìn nó, nhưng không bao giờ cho phép ai gặng hỏi về khuôn mặt được khắc họa ở đó. Đi kèm với những câu chuyện ấy, điều kỳ lạ là ở phần trên cùng của khung tranh vẫn còn vài mảnh lụa đen rách rưới, cho thấy trước đây từng có một chiếc màn che trước bức tranh cho đến khi thời gian phủ bóng mờ che khuất nó một cách triệt để đến thế. Thế nhưng, xét cho cùng, điều kỳ lạ nhất trong toàn bộ câu chuyện này là có biết bao vị thống đốc kiêu ngạo của Massachusetts lại để cho bức tranh bị xóa nhòa ấy tiếp tục tồn tại trong phòng khánh tiết của Province House.
“Một vài giai thoại trong số này thực sự đáng sợ,” Alice Vane nhận xét, nàng thỉnh thoảng vừa rùng mình vừa mỉm cười khi người anh họ lên tiếng. “Thật cũng đáng công lau sạch lớp bề mặt đen kịt của tấm vải bạt, bởi bức tranh gốc chắc hẳn không thể nào đáng sợ bằng những hình ảnh mà trí tưởng tượng tô vẽ lên thay cho nó.”
“Nhưng liệu có thể,” người anh họ của nàng hỏi, “khôi phục bức tranh tối tăm này về lại màu sắc ban đầu của nó không?”
“Những nghệ thuật như thế rất nổi tiếng ở Ý,” Alice đáp.
Vị phó thống đốc đã bừng tỉnh khỏi cơn lơ đễnh, và mỉm cười lắng nghe cuộc trò chuyện của hai đứa cháu trẻ tuổi. Thế nhưng giọng điệu của ông lại có điều gì đó kỳ lạ khi ông đứng ra giải thích điều bí ẩn ấy.
“Bác rất tiếc, Alice, vì phải phá hủy niềm tin của cháu vào những truyền thuyết mà cháu vô cùng yêu thích ấy,” ông nhận xét, “nhưng những nghiên cứu cổ vật của bác từ lâu đã giúp bác biết rõ về chủ đề của bức tranh này — nếu có thể gọi đó là một bức tranh — thứ vốn chẳng hề hiển hiện, và cũng sẽ chẳng bao giờ hiển hiện, giống như khuôn mặt của người đàn ông đã khuất từ lâu mà nó từng miêu tả. Đó là chân dung của Edward Randolph, người sáng lập ra ngôi nhà này, một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử New England.”
“Chính là vị Edward Randolph đó sao,” Đại úy Lincoln thốt lên, “kẻ đã đòi bãi bỏ hiến chương đầu tiên của tỉnh, dưới thời mà tổ tiên chúng ta từng thụ hưởng những đặc quyền gần như dân chủ — kẻ từng bị gọi là kẻ thù số một của New England, và người mà ký ức vẫn bị căm phẫn như kẻ hủy diệt tự do của chúng ta?”
“Chính là hắn,” Hutchinson đáp, cục cựa đầy khó chịu trên ghế. “Số phận của hắn là phải nếm trải cay đắng của sự ghẻ lạnh từ quần chúng.”
“Sách sử của chúng ta kể rằng,” vị đại úy của Castle William tiếp lời, “lời nguyền rủa của nhân dân đã đeo bám Randolph này đi đến bất cứ đâu hắn đến và gây ra tai họa trong mọi sự kiện tiếp theo của cuộc đời hắn, và hiệu ứng của nó cũng được nhìn thấy qua cái cách mà hắn chết. Người ta cũng kể rằng, sự thống khổ bên trong của lời nguyền ấy đã bộc lộ ra bên ngoài và hằn rõ trên gương mặt của kẻ khốn khổ, khiến nó trở nên quá ư kinh hãi để có thể ngắm nhìn. Nếu quả thực là như vậy, và nếu bức tranh này miêu tả đúng diện mạo của hắn, thì việc màn sương đen bao phủ lên nó chính là một ơn phước.”
“Những truyền thuyết này thật ngớ ngẩn đối với ai đã chứng minh được, như bác đây, rằng có rất ít sự thật lịch sử ẩn giấu bên dưới,” vị phó thống đốc nói. “Xét về cuộc đời và tính cách của Edward Randolph, người ta đã đặt niềm tin quá mức vào Tiến sĩ Cotton Mather — bác phải nói điều này, dẫu cho một phần dòng máu của ông ấy đang chảy trong huyết quản bác — kẻ đã làm ngập tràn lịch sử thuở sơ khai của chúng ta bằng những câu chuyện bà già kỳ ảo và hoang đường chẳng khác nào Hy Lạp hay Rome.”
“Thế nhưng,” Alice Vane thì thầm, “liệu những giai thoại như thế có mang một bài học đạo đức hay không? Và thiếp nghĩ, nếu dung nhan của bức chân dung này quá ư khủng khiếp, thì việc nó treo suốt ngây dài trong một căn phòng của Province House hẳn phải có lý do của nó. Khi những kẻ cầm quyền cảm thấy mình không phải chịu trách nhiệm trước ai, thật tốt biết bao nếu họ được nhắc nhở về sức nặng khủng khiếp từ lời nguyền của một dân tộc.”
Vị phó thống đốc giật mình và ngước nhìn cô cháu gái trong giây lát, như thể những tưởng tượng ngây thơ của nàng đã chạm đến một cảm xúc sâu kín nào đó trong chính lồng ngực ông, thứ mà mọi chính sách hay nguyên tắc của ông không tài nào dập tắt hoàn toàn. Quả thực, ông thừa biết rằng Alice, bất chấp nền giáo dục ở nước ngoài, vẫn giữ lại những đồng cảm bẩm sinh của một cô gái New England.
“Im đi, đứa trẻ ngốc nghếch!” cuối cùng ông quát lớn, gay gắt hơn bất cứ lần nào ông từng dùng để nói chuyện với Alice dịu dàng. “Sự quở trách của nhà vua đáng sợ hơn nhiều so với tiếng la hét của một đám đông cuồng loạn, lầm đường lạc lối. — Thưa Đại úy Lincoln, đã quyết định rồi: pháo đài Castle William phải được chiếm giữ bởi quân đội hoàng gia. Hai trung đoàn còn lại sẽ được đóng quân trong thị trấn hoặc hạ trại tại Common. Đã đến lúc, sau bao năm tháng náo loạn và gần như nổi loạn, chính quyền của Bệ hạ cần phải có một bức tường thành vững chắc bao bọc xung quanh.”
“Xin ngài — hãy tin tưởng thêm một thời gian nữa vào lòng trung thành của nhân dân,” Đại úy Lincoln nói, “chứ đừng dạy họ rằng họ có thể ở trong mối quan hệ nào khác với binh lính Anh ngoài tình anh em, như khi họ đã chiến đấu vai kề vai suốt cuộc chiến tranh Pháp. Xin đừng biến những con đường ở thị trấn quê hương ngài thành một doanh trại. Hãy suy nghĩ cho kỹ trước khi trao phó Castle William cổ kính, chìa khóa của tỉnh lộc, vào tay những kẻ khác ngoài những người con New England thuần khiết.”
“Hỡi chàng trai trẻ, mọi chuyện đã được quyết định,” Hutchinson lặp lại, đứng phắt dậy khỏi ghế. “Một sĩ quan Anh sẽ túc trực vào tối nay để nhận những chỉ thị cần thiết cho việc bố trí quân đội. Sự hiện diện của anh cũng sẽ là bắt buộc. Cho đến lúc đó, xin chào tạm biệt.”
Nói xong, vị phó thống đốc vội vã rời khỏi phòng, trong khi Alice và người anh họ chậm rãi bước theo sau, thì thầm to nhỏ với nhau, và có lúc dừng lại để ngoái nhìn bức tranh huyền bí. Đại úy Lincoln thầm nghĩ rằng dáng đi và phong thái của cô gái trông giống hệt như một trong những linh hồn thần thoại — các nàng tiên hay sinh vật từ một cõi thần thoại cổ xưa hơn — đôi khi nhúng tay vào chuyện trần thế, một phần vì ngẫu hứng, nhưng lại mang một sự đồng cảm sâu sắc với nỗi đau hay niềm hạnh phúc của con người. Khi anh giữ cửa cho nàng bước qua, Alice liền ra hiệu với bức tranh và mỉm cười.
“Hãy bước ra đi, hỡi hình hài đen tối và tà ác!” nàng gọi. “Đến giờ của ngươi rồi đấy.”
Vào buổi tối, Phó thống đốc Hutchinson ngồi trong chính căn phòng diễn ra cảnh tượng trước đó, xung quanh vây quanh bởi vài người vì những lợi ích khác nhau mà tề tựu lại. Có các hội đồng viên của Boston — những người cha già đáng kính, những đại diện xuất sắc của các bậc khai quốc theo phái Thanh giáo cổ xưa, với sức mạnh trầm mặc đã hằn sâu một dấu ấn đậm nét lên tính cách của người New England. Tương phản với họ là một hoặc hai thành viên hội đồng, ăn mặc sang trọng với tóc giả màu trắng, áo vest thêu thùa cùng vẻ lộng lẫy khác của thời đại, trưng ra một cách phô trương nghi thức cung đình. Đi cùng họ còn có một thiếu tá quân đội Anh, đang chờ lệnh của phó thống đốc để cho quân đổ bộ, lực lượng vẫn đang nằm trên các tàu vận tải. Đại úy Lincoln đứng cạnh ghế của Hutchinson, khoanh tay trước ngực, liếc nhìn với vẻ khá kiêu kỳ vị sĩ quan Anh người mà chẳng bao lâu nữa sẽ tước quyền chỉ huy của anh. Trên chiếc bàn ở giữa phòng đặt một chiếc chân nến bằng bạc có nhiều nhánh, tỏa ánh hào quang của nửa tá cây nến sáp xuống một tờ giấy có vẻ như đã sẵn sàng cho chữ ký của phó thống đốc.
Một phần bị che khuất trong các nếp vải dày cộp của tấm rèm cửa sổ, kéo dài từ trần nhà xuống tận sàn, là lớp vải trắng của chiếc váy phụ nữ. Có lẽ có vẻ kỳ lạ khi Alice Vane lại có mặt ở đó vào một thời điểm như thế, nhưng trong tính cách kỳ lạ của nàng có điều gì đó rất đỗi trẻ con, ngang ngạnh, nằm ngoài mọi quy chuẩn thông thường, đến mức sự hiện diện của nàng không khiến những kẻ ít ỏi nhận ra phải ngạc nhiên. Trong lúc ấy, vị chủ tịch hội đồng đang đọc trước phó thống đốc một bản kiến nghị dài và trang trọng phản đối việc tiếp nhận quân đội Anh vào thị trấn.
“Và nếu Ngài,” vị ông lão xuất sắc nhưng có phần lải nhải này kết luận, “thấy phù hợp để tiếp tục mang những tên lính đánh thuê và lính ngự lâm cầm gươm kiếm này vào những con đường yên bình của chúng ta, thì xin chớ đổ trách nhiệm lên đầu chúng tôi. Xin ngài hãy suy nghĩ, khi vẫn còn kịp, rằng nếu dù chỉ một giọt máu bị đổ xuống, thì giọt máu ấy sẽ là một vết nhơ vĩnh viễn trên ký ức của Ngài. Chính Ngài, thưa ngài, đã dùng một ngòi bút tài ba để viết nên những chiến tích của tổ tiên chúng ta; do đó, lại càng mong muốn hơn nếu chính bản thân ngài xứng đáng nhận được những lời ca ngợi danh dự như một nhà ái quốc chân chính và một nhà cai trị liêm khiết khi những việc làm của chính ngài được viết vào sử sách.”
“Ta không hề dửng dưng, thưa ông kính mến, trước mong muốn tự nhiên là được ghi nhớ tốt đẹp trong biên niên sử của đất nước ta,” Hutchinson đáp, kìm nén sự thiếu kiên nhẫn thành sự lịch thiệp, “cũng như ta chẳng biết phương pháp nào tốt hơn để đạt được điều đó ngoài việc chống lại cái tinh thần quậy phá nhất thời, xin thứ lỗi cho ta, dường như đã lây nhiễm sang cả những người lớn tuổi hơn ta. Chẳng lẽ các ông muốn ta phải chờ đợi cho đến khi đám đông cướp phá Province House giống như chúng từng làm với dinh thự riêng của ta sao? Hãy tin ta, thưa ông, thời gian rồi sẽ đến khi các ông cảm thấy biết ơn vì được chạy trốn để tìm kiếm sự bảo vệ dưới lá cờ của nhà vua, thứ mà giờ đây các ông lại tỏ ra chán ghét đến thế.”
“Đúng vậy,” vị thiếu tá người Anh nói, đang sốt ruột chờ đợi mệnh lệnh của phó thống đốc. “Những kẻ mị dân của tỉnh này đã triệu hồi con quỷ lên, và không thể tống cổ nó xuống lại được nữa. Chúng ta sẽ trừ tà cho nó nhân danh Thiên Chúa và nhà vua.”
“Nếu các ông dây dưa với quỷ dữ, hãy cẩn thận với bộ móng vuốt của nó,” Đại úy Lincoln đáp, bị khơi gợi sự bất bình trước lời chế nhạo nhắm vào đồng bào mình.
“Xin lỗi cậu trẻ nhé,” vị hội đồng viên khả kính nói, “xin đừng để một linh hồn tà ác thâm nhập vào lời ăn tiếng nói của cậu. Chúng ta sẽ chiến đấu chống lại kẻ áp bức bằng lời cầu nguyện và sự chay tịnh, đúng như cách tổ tiên chúng ta từng làm. Hơn thế nữa, giống như họ, chúng ta sẽ phục tùng bất kỳ số phận nào mà sự Quan phòng khôn ngoan giáng xuống cho chúng ta — tất nhiên là sau khi đã nỗ lực hết mình để cải thiện nó.”
“Và kìa, bộ móng vuốt của quỷ đang ló dạng!” Hutchinson lầm bầm, kẻ hiểu rất rõ bản chất của sự phục tùng theo phái Thanh giáo. “Vụ việc này sẽ phải được tiến hành ngay lập tức. Khi có một tên lính gác ở mọi góc phố và một đội tuần tra trước tòa thị chính, một quý ông trung thành mới có thể mạo hiểm bước ra đường. Đối với ta, tiếng la hét của đám đông ở cái tỉnh lẻ hẻo lánh này có nghĩa lý gì? Nhà vua là chủ nhân của ta, và nước Anh là quê hương của ta; được chống lưng bởi sức mạnh vũ trang của họ, ta đạp chân lên đám đông ô hợp và thách thức chúng.”
Ông giật lấy cây bút và chuẩn bị đặt bút ký vào tờ giấy nằm trên bàn, thì Đại úy Lincoln đặt tay lên vai ông. Sự đường đột ấy, trái ngược hoàn toàn với vẻ tôn kính mang tính nghi thức vốn được coi là đúng đắn đối với địa vị và phẩm giá vào thời điểm đó, đã gây ra sự kinh ngạc chung, và không ai ngạc nhiên hơn chính vị phó thống đốc. Ngước nhìn lên với vẻ tức giận, ông nhận ra người họ hàng trẻ tuổi của mình đang giơ ngón tay chỉ về bức tường đối diện. Ánh mắt của Hutchinson dõi theo hướng chỉ tay, và ông nhìn thấy điều mà cho đến lúc ấy vẫn chưa được chú ý — rằng một tấm màn lụa đen đang được treo trước bức tranh huyền bí, che khuất nó một cách hoàn toàn. Suy nghĩ của ông ngay lập tức quay trở lại cảnh tượng của buổi chiều hôm trước, và trong sự ngạc nhiên, bị rối trí bởi những cảm xúc mơ hồ, nhưng vẫn nhận thức được rằng cô cháu gái của mình hẳn đã nhúng tay vào hiện tượng kỳ lạ này, ông lớn tiếng gọi nàng:
“Alice! Lại đây nào, Alice!”
Vừa dứt lời, Alice Vane từ vị trí của mình lướt tới, một tay che mắt, tay kia giật phăng tấm màn đen đang che khuất bức chân dung. Một tiếng kêu ngạc nhiên bật ra từ mọi người có mặt, nhưng giọng điệu của vị phó thống đốc lại mang sắc thái của sự kinh hoàng.
“Nhân danh Chúa!” ông lẩm bầm trong cổ họng, nói với chính mình nhiều hơn là với những người xung quanh; “nếu linh hồn của Edward Randolph có hiện hình giữa chúng ta từ chốn luyện ngục, hắn cũng chẳng thể mang nhiều sự kinh hoàng của địa ngục trên khuôn mặt mình đến thế.”
“Vì một mục đích khôn ngoan nào đó,” vị hội đồng viên lớn tuổi trang trọng lên tiếng, “Sự Quan phòng mới xua đi màn sương của năm tháng đã che khuất bức tượng gớm ghiếc này lâu đến thế. Cho đến giờ phút này, chưa từng có một người sống nào được tận mắt chứng kiến những gì chúng ta đang chiêm ngưỡng.”
Bên trong chiếc khung cổ kính vốn chỉ mới đây thôi còn bao bọc một khoảng không vải bạt tối đen, giờ đây đã hiện lên một bức tranh rõ mồn một — quả thực sắc thái và độ bóng vẫn còn tối, nhưng được đẩy bật lên với độ tương phản mạnh mẽ. Đó là bức chân dung bán thân của một quý ông trong bộ trang phục nhung thêu thùa cực kỳ lỗi thời nhưng sang trọng, với một chiếc cổ áo xếp nếp rộng, một bộ râu quai nón, và đội chiếc mũ có vành che khuất vầng trán. Bên dưới đám mây ấy, đôi mắt mang một ánh nhìn kỳ lạ gần như có hồn. Toàn bộ bức chân dung bật hẳn ra khỏi phông nền một cách rõ nét đến mức nó mang lại hiệu quả thị giác như một con người đang đứng trên tường nhìn xuống đám khán giả đang kinh ngạc và sợ hãi đến đờ đẫn. Biểu cảm trên khuôn mặt, nếu bất kỳ từ ngữ nào có thể truyền tải được ý niệm về nó, chính là khuôn mặt của một kẻ khốn bị bắt quả tang trong một tội ác ghê tởm và bị phơi bày trước lòng căm thù cay đắng, tiếng cười cợt và sự khinh miệt tột cùng của một đám đông khổng lồ vây quanh. Đó là sự đấu tranh của sự chống cự, bị đánh bẹp và áp đảo bởi sức nặng nghiền nát của sự nhục nhã. Nỗi thống khổ của tâm hồn đã bộc lộ ra toàn bộ trên nét mặt. Có cảm giác như thể bức tranh, trong lúc ẩn mình sau lớp màn của năm tháng vô tận, vẫn luôn tích tụ một chiều sâu và sự đen tối mãnh liệt hơn trong biểu cảm, cho đến tận bây giờ nó lại u ám hiện hình và gieo rắc điềm gở lên thời điểm hiện tại. Cứ như thế, nếu truyền thuyết hoang đường ấy đáng tin, thì đó chính là chân dung của Edward Randolph khi lời nguyền của một dân tộc giáng những ảnh hưởng của nó lên bản chất của hắn.
“Khuôn mặt đáng sợ ấy sẽ phát điên mất,” Hutchinson nói, kẻ dường như bị thôi miên khi ngắm nhìn nó.
“Vậy thì hãy cảnh giác đấy,” Alice thì thầm. “Hắn từng giẫm đạp lên quyền lợi của một dân tộc. Hãy nhìn sự trừng phạt của hắn, và tránh xa một tội ác như thế.”
Vị phó thống đốc thực sự run rẩy trong giây lát, nhưng bằng cách dồn hết năng lượng — dẫu đó không phải là nét tính cách nổi trội nhất của ông — ông ráng gạt bỏ bùa chú từ nét mặt của Randolph.
“Cô bé,” ông quát lên, cười cay đắng khi quay sang Alice, “cháu đã mang nghệ thuật hội họa của mình, tinh thần mưu mô kiểu Ý của mình, những trò hề sân khấu của mình đến đây, và tưởng rằng có thể thao túng các hội đồng cai trị cùng đại sự quốc gia bằng những mưu mẹo nông cạn đó sao? Hãy nhìn đây!”
“Xin hãy dừng lại một lát,” vị hội đồng viên lên tiếng khi Hutchinson lại giật lấy cây bút; “bởi nếu có bất kỳ người phàm nào từng nhận được lời cảnh báo từ một tâm hồn đang chịu sự đày đọa, thì Ngài chính là người đó.”
“Cút đi!” Hutchinson phũ phàng quát lên. “Dù bức tranh vô tri kia có thét lên ‘Hãy dừng lại!’ đi nữa, nó cũng chẳng thể lay chuyển nổi ta!”
Ném một cái nhìn căm phẫn thách thức về phía khuôn mặt được vẽ trong tranh — thứ vào khoảnh khắc ấy dường như càng làm gia tăng thêm sự kinh hoàng từ vẻ mặt thảm hại và độc ác của nó — ông nguệch ngoạc viết lên tờ giấy cái tên Thomas Hutchinson, với những nét chữ phô bày đây là một hành động liều lĩnh đến cùng cực. Kể từ đó, người ta đồn rằng ông đã run rẩy, cứ như thể chữ ký ấy đã đánh đổi cả sự cứu rỗi đời đời của mình.
“Xong rồi,” ông nói, rồi đưa tay lên trán.
“Xin Chúa hãy dung thứ cho hành động này!” giọng nói dịu dàng và buồn bã của Alice Vane cất lên, tựa như tiếng vọng của một vị thần thiện đang lướt đi mất.
Khi bình minh ló dạng, khắp trong nhà lan truyền một tiếng thì thầm nghẹn ngào, rồi từ đó lan rộng ra toàn thị trấn rằng bức tranh đen huyền bí đã bước ra khỏi bức tường và đối thoại trực diện với Phó thống đốc Hutchinson. Thế nhưng, dẫu một phép màu như thế có thực sự xảy ra, thì chẳng còn lại chút dấu vết nào; bởi bên trong chiếc khung cổ kính, người ta chẳng thể nhận ra thứ gì ngoài lớp mây mù không thể xuyên thủng đã che phủ tấm vải bạt từ thuở nào. Nếu bức tượng ấy thực sự đã bước ra, thì nó đã bay vụt trở lại như một hồn ma khi ánh ngày vừa hé, giấu mình đằng sau sự tăm tối của cả một thế kỷ. Sự thật có lẽ là bí quyết khôi phục màu sắc bức tranh của Alice Vane chỉ đem lại một sự trùng tu tạm thời. Nhưng những ai trong khoảng khắc ngắn ngủi ấy từng chiêm ngưỡng dung nhan đáng sợ của Edward Randolph đều chẳng thiết tha gì một cái nhìn thứ hai, và kể từ đó về sau luôn run rẩy mỗi khi nhớ lại cảnh tượng ấy, cứ như thể một linh hồn tà ác vừa hiện hình giữa họ. Còn về phần Hutchinson, khi giờ lâm chung đến gần ở một nơi xa xôi bên kia đại dương, ông thều thào thở dốc và than thở rằng mình đang bị bóp nghẹt bởi dòng máu từ Thảm sát Boston, và Francis Lincoln, cựu đại úy của Castle William đang đứng bên giường bệnh của ông, bỗng nhận ra sự tương đồng trong ánh mắt điên cuồng của ông với Edward Randolph. Phải chăng tâm hồn tan vỡ của ông vào giờ phút kinh hoàng ấy đã cảm nhận được sức nặng khổng lồ từ lời nguyền của một dân tộc?
Kết thúc câu chuyện thần kỳ này, tôi hỏi chủ quán liệu bức tranh ấy còn nằm trong căn phòng trên đầu chúng tôi hay không, nhưng ông Tiffany cho biết nó đã bị dời đi từ lâu, và được cho là đang ẩn giấu ở một góc khuất nào đó trong Bảo tàng New England. Biết đâu một nhà khảo cổ tò mò nào đó sẽ vô tình chạm trán nó ở đó, và với sự hỗ trợ của ông Howorth — thợ phục chế tranh — có thể cung cấp một bằng chứng không mấy thừa thãi về tính xác thực của những sự kiện được ghi chép lại nơi đây.
Trong suốt tiến trình của câu chuyện, một cơn bão đã tụ họp bên ngoài, gầm gào và đập phá inh ỏi trên các tầng trên của Province House khiến người ta có cảm giác như tất cả các vị thống đốc cũ và các vĩ nhân đang náo loạn trên gác lảnh trong lúc ông Bela Tiffany huyên thuyên về họ ở bên dưới. Trải qua bao thế hệ, khi rất nhiều người đã sống và chết trong một ngôi nhà cổ, tiếng gió rít qua những khe hở, tiếng kẽo kẹt của xà nhà và rui mè bỗng trở nên kỳ lạ giống như giọng nói của con người, hay tiếng cười sảng khoái sấm sét, hoặc tiếng bước chân nặng nề dạo bước qua những căn phòng hoang vắng. Cứ như thể tiếng vang của nửa thế kỷ đang sống lại. Đó chính là những âm thanh ma quái gầm rú và rầm rì bên tai chúng tôi khi tôi chào từ biệt vòng tròn bên đống lửa của Province House, rồi lao mình xuống thềm cửa, chật vật chiến đấu tìm đường về nhà giữa một trận cuồng phong bão tuyết đang vần vũ.