Madame Bovary

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Tám

❊ ❊ ❊

Cuối cùng ngày hội nông nghiệp nổi tiếng ấy cũng đến. Vào buổi sáng long trọng này, mọi cư dân đều đứng bên ngưỡng cửa, bàn tán rôm rả về những công tác chuẩn bị. Trán hồi tòa thị chính được treo những vòng dây thường xuân; một cúp lều lớn đã dựng lên trên bãi cỏ để làm tiệc đãi khách; và giữa quảng trường, ngay trước nhà thờ, một thứ pháo hiệu lớn sẽ vang lên để loan báo sự hiện diện của vị phó tỉnh trưởng cùng tên tuổi những nông gia xuất sắc đã giành được giải thưởng. Đội Vệ quốc quân Buchy (ở Yonville thì không có) đã đến hợp sức cùng đội cứu hỏa, lực lượng do Binet làm đội trưởng. Hôm nay, chiếc cổ áo của hắn còn cao hơn ngày thường; thân hình bị thắt chặt trong bộ quân phục cứng nhắc và bất động đến độ toàn bộ sinh lực của hắn dường như đã dồn cả xuống đôi chân, những bước chân diễu hành đều đặn theo nhịp hô với một động thái duy nhất. Vì giữa viên thu thuế và vị đại tá có chút kình chống, nên để khoe tài, cả hai đều tự mình huấn luyện đội ngũ riêng. Người ta thấy những chiếc cầu vai đỏ và bộ giáp ngực đen thay phiên nhau diễu qua diễu lại; cứ thế liên hồi, chẳng bao giờ dứt. Chưa từng có một dịp nào trưng trổ sự xa hoa đến thế. Tối hôm trước, nhiều gia đình đã cọ rửa nhà cửa sạch bóng; cờ tam sắc rủ xuống từ những khung cửa sổ hé mở; các quán rượu đều chật ních khách; và giữa tiết trời đẹp đẽ, những chiếc mũ trọn chải tinh tươm, những thánh giá vàng cùng khăn choàng cổ sặc sỡ bỗng trắng phau hơn cả tuyết, lấp lánh dưới ánh mặt trời, hòa lẫn sắc màu rực rỡ vào cảnh sắc đơn điệu, ảm đạm của những chiếc áo khoác dài và áo blouse xanh. Các bà vợ nông dân vùng lân cận khi vừa xuống ngựa liền rút những chiếc trâm cài dài để thả tà váy vốn được xắn lên vì sợ bùn đất; còn các ông chồng, để giữ gìn những chiếc mũ của mình, bèn quấn khăn quanh và ngậm một góc khăn trong miệng.

Đám đông đổ vào con phố chính từ cả hai đầu làng. Người ta tuôn ra từ những con ngõ, lối đi, các ngôi nhà; và chốc chốc lại nghe tiếng gập cửa đập thình thịch khi những người phụ nữ đeo găng đang bước ra ngoài để thưởng ngoạn ngày hội. Điều khiến người ta trầm trồ nhất là hai chân đèn cao ngập tràn lồng đèn, dựng hai bên bục dành cho các chức sắc. Bên cạnh đó, áp vào bốn cột trụ của tòa thị chính là bốn cột cờ, mỗi cột mang một lá cờ nhỏ bằng vải xanh lục, thêu những dòng chữ vàng.

Trên một lá cờ đề: “Kính tặng Thương nghiệp”; lá thứ hai: “Kính tặng Nông nghiệp”; lá thứ ba: “Kính tặng Kỹ nghệ”; và lá thứ tư: “Kính tặng Mỹ thuật.”

Thế nhưng, niềm hân hoan làm rạng rỡ mọi khuôn mặt dường như lại phủ bóng đen lên nét mặt của bà chủ quán trọ Lefrançois. Đứng trên bậc cửa nhà bếp, mụ lầm bầm một mình: “Đúng là nhảm nhí! Toàn là trò nhảm nhí! Lại còn cái lều bạt của chúng nó! Bộ chúng tưởng ngài phó tỉnh trưởng sẽ hào hứng đến dự tiệc ở dưới đó trong một cái lều rách như đám du mục chắc? Chúng gọi cái sự làm loạn này là mang lại lợi ích cho địa phương đấy ư! Thế thì hóa ra chẳng đáng chút nào khi phải cất công mời tận người nấu tiệc ở Neufchâtel về! Mà để phục vụ ai chứ? Đám chăn bò! Đám ăn mày rách rưới!”

Ông dược sĩ đang đi ngang qua. Ông mặc một chiếc áo khoác dài, quần bằng vải nankeen, giày da hải ly và đội một chiếc mũ vành trũng — một điều hiếm thấy.

— Kính chào bà! Xin lỗi bà, tôi đang bận.

Và khi mụ đàn bà béo hỏi ông định đi đâu—

— Trông có vẻ lạ lắm phải không, một kẻ vốn luôn tự giam mình trong phòng thí nghiệm hơn cả con chuột của nhà nọ trong hũ phô mai.

— Phô mai gì chứ? — bà chủ quán gặng hỏi.

— Ồ, không có gì! Không có gì đâu! — Homais tiếp lời — Tôi chỉ muốn nói với bà Lefrançois rằng bản thân tôi thường sống khép kín như một ẩn sĩ. Tuy nhiên, ngày hôm nay, xét theo hoàn cảnh, việc này là cần thiết—

— Ồ, thế ra ông sắp ra ngoài đó à! — mụ nói với giọng khinh miệt.

— Vâng, tôi đi đây — viên dược sĩ đáp, vẻ ngạc nhiên — Chẳng lẽ tôi không phải là thành viên của ủy ban tư vấn hay sao?

Bà Lefrançois nhìn ông đăm đăm trong chốc lát, rồi cuối cùng mỉm cười cất lời:

— Thế thì lại là chuyện khác đấy! Nhưng ngành nông nghiệp thì dính líu gì đến ông? Ông có hiểu chút gì về nó không?

— Chứ sao lại không hiểu, vì tôi là một dược sĩ — nghĩa là một nhà hóa học. Và thưa bà Lefrançois, mục đích của hóa học chính là thấu hiểu tác động tương hoãn và phân tử của mọi vật thể trong tự nhiên, suy ra nông nghiệp cũng nằm trong phạm vi nghiên cứu của nó. Mà thực tế thì, thành phần của phân bón, sự lên men của chất lỏng, quá trình phân tích khí và ảnh hưởng của chướng khí, tôi xin hỏi bà, tất cả những thứ đó nếu không phải là hóa học thuần túy thì là gì nào?

Bà chủ quán không đáp. Homais nói tiếp:

— Bà nghĩ rằng để trở thành một nhà nông, người ta buộc phải tự tay cày bừa hay vỗ béo gia cầm chắc? Quan trọng hơn là phải hiểu rõ thành phần của các chất — tầng địa chất, tác động của khí quyển, chất lượng đất đai, khoáng sản, nguồn nước, mật độ của các thể khác nhau, tính mao dẫn và tỉ thứ khác. Hơn nữa, người ta phải nắm vững mọi nguyên tắc vệ sinh để chỉ đạo, phê phán việc xây dựng chuồng trại, chế độ nuôi dưỡng gia súc, khẩu phần ăn của gia nhân. Và hơn thế nữa, thưa bà Lefrançois, người ta còn phải am tường thực vật học, phải biết phân biệt giữa các loài cây, bà hiểu chứ, loại nào có lợi và loại nào độc hại, loại nào cằn cỗi và loại nào bổ dưỡng, khi nào thì nên nhổ bỏ ở đây và gieo trồng lại ở nơi khác, nhân giống loài này, tiêu diệt loài kia; tóm lại, người ta phải bắt kịp nhịp tiến của khoa học qua những tập sách mỏng cùng báo chí công cộng, lúc nào cũng phải cảnh giác để tìm kiếm những cải tiến mới.

Bà chủ quán vẫn dán mắt vào quán “Café François” trong lúc nhà hóa học tiếp tục diễn giải:

— Ước gì giới nông gia của chúng ta đều là những nhà hóa học, hoặc ít ra họ chịu khó lắng nghe những lời khuyên từ khoa học hơn. Chẳng hạn như dạo trước, chính tay tôi đã viết một tiểu luận khá dày dặn, một bản ghi nhớ hơn bảy mươi hai trang với nhan đề: “Rượu táo, quá trình sản xuất và tác dụng của nó, kèm theo một số suy ngẫm mới về chủ đề này”, gửi cho Hội Nông nghiệp Rouen, thậm chí nó còn mang lại cho tôi vinh dự được kết nạp làm hội viên — Phân ban Nông nghiệp, Chuyên ngành Trồng trọt. Chà, giả sử công trình của tôi mà được công bố rộng rãi— Nhưng viên dược sĩ bỗng khựng lại, bởi bà Lefrançois trông có vẻ vô cùng bận tâm.

— Nhìn bọn chúng kìa! — mụ thốt lên — Thật không thể tài nào hiểu nổi! Lại còn bày đặt mở cái quán ăn như thế! — Và với một cái nhún vai làm căng cả những đường khâu trên chiếc áo yếm len trước ngực, mụ dùng cả hai tay chỉ về phía quán trọ của đối thủ, nơi những tiếng ca hát đang vang lên — Chà, chẳng kéo dài được lâu đâu — mụ nói thêm — Chưa đầy một tuần là dẹp tiệm.

Homais lùi lại vẻ sửng sốt. Mụ bước xuống ba bậc thềm và thì thầm vào tai ông:

— Gì chứ! Ông không biết gì sao? Tuần tới sẽ có lệnh phát mại tài sản đấy. Chính Lheureux đang tống tiền hắn; hắn đã bị đống giấy nợ bóp chết rồi.

— Thật là một thảm họa kinh hoàng! — viên dược sĩ kêu lên, người luôn tìm được những lời lẽ phù hợp với mọi hoàn cảnh trên đời.

Bấy giờ, bà chủ quán bắt đầu kể lại câu chuyện mụ nghe được từ Théodore — người hầu của ông Guillaumin, và dẫu rất căm ghét Tellier, mụ vẫn đâm ra trách móc Lheureux. Hắn ta đúng là một kẻ “nịnh bợ, lươn lẹo.”

— Kìa! — mụ nói — Nhìn hắn xem! Hắn đang đứng ngoài chợ kìa; hắn đang cúi chào bà Bovary, người đang đội chiếc mũ xanh thẫm kìa. Ôi chao, mụ ta lại đang tay trong tay với ông Boulanger.

— Bà Bovary ư! — Homais thốt lên — Tôi phải đến bày tỏ lòng kính trọng với ngài ấy ngay lập tức mới được. Biết đâu ngài ấy lại rất vui lòng có được một chỗ ngồi trong khu vực rào chắn dưới mái hiên thì sao. — Và chẳng thèm đếm xỉa đến bà Lefrançois đang gọi với theo để kể thêm chi tiết, viên dược sĩ sải bước thật nhanh, miệngmỉm cười, đầu gối thẳng băng, liên tục cúi chào bên trái bên phải, chiếm lấy không gian rộng lớn với vạt áo khoác dài bay phần phật phía sau theo gió.

Từ đằng xa, Rodolphe thoáng thấy ông ta liền bước nhanh hơn, nhưng bà Bovary đã hụt hơi; thế là anh đành đi chậm lại, vừa mỉm cười vừa cất giọng cộc lốc:

— Em biết đấy, chỉ để tránh xa cái lão béo mập đó thôi, cái tên dược sĩ ấy mà.

Nàng khẽ tì tay lên khuỷu tay anh.

— Ý em là gì thế? — tự hỏi mình, anh liếc nhìn nàng từ khóe mắt.

Gương mặt nghiêng của nàng mới bình thản làm sao, chẳng thể đoán ra điều gì từ đó. Nó nổi bật lên dưới ánh sáng từ vành mũ hình bầu dục, điểm xuyết dải lụa nhạt màu trông tựa những chiếc lá cỏ dại. Đôi mắt với hàng mi cong dài hướng thẳng về phía trước, dẫu mở to nhưng dường như hơi nheo lại bởi đôi gò má, do dòng máu đang nhịp đập êm đềm dưới lớp da mịn màng. Một đường nét phớt hồng chạy dọc theo vách ngăn giữa hai cánh mũi. Đầu nàng hơi nghiêng trên vai, và lấp ló giữa đôi môi là phần đầu ngọc ngà của hàng răng trắng muốt.

“Bộ mụ ta đang chế nhạo mình chắc?” — Rodolphe nghĩ bụng.

Tuy nhiên, cử chỉ của Emma chỉ mang ý nghĩa cảnh báo; bởi ông Lheureux đang đi sát theo họ, và chốc chốc lại lên tiếng như muốn chen vào cuộc trò chuyện.

— Thật là một ngày tuyệt vời! Mọi người đều đổ ra đường! Gió thổi hướng đông!

Cả bà Bovary lẫn Rodolphe đều chẳng thèm đáp lời, trong khi chỉ cần một cử động nhỏ của họ cũng đủ khiến hắn ta xích lại gần, miệng thốt lên: “Xin phép cho tôi!” rồi ngả mũ chào.

Khi họ đến ngôi nhà của người thợ móng ngựa, thay vì đi theo con đường dẫn đến hàng rào, Rodolphe bất ngờ rẽ vào một lối mòn, kéo theo cả bà Bovary. Anh cất giọng gọi:

— Chào buổi chiều, ông Lheureux! Lát nữa gặp lại nhé.

— Anh vừa tống khứ được hắn thế nào hay vậy! — nàng vừa cười vừa nói.

— Thì — anh tiếp lời — tại sao lại phải để người khác làm phiền mình chứ? Huống hồ hôm nay anh lại có niềm hạnh phúc được ở bên em—

Emma đỏ mặt. Anh không nói dứt câu. Rồi anh chuyển sang chuyện thời tiết đẹp đẽ và niềm vui khi được dạo bước trên thảm cỏ. Vài bông cúc dại đã mọc lại lấm tấm.

— Kìa những bông cúc Phục Sinh xinh xắn — anh nói — đủ để bói quẻ cho tất cả những cô nàng đang yêu ở chốn này đấy.

Anh nói thêm: — Em có muốn anh hái vài bông không? Em nghĩ sao nào?

— Bộ anh đang yêu ai à? — nàng hỏi, khẽ ho hắng.

— Hừm, hừm! Ai mà biết được? — Rodolphe đáp.

Bãi cỏ bắt đầu đông đúc, các bà nội trợ chen chúc nhau với những chiếc ô lớn, giỏ đựng đồ và lũ trẻ nhỏ. Người ta thường phải tránh đường cho một hàng dài nông dân đi qua, những cô hầu gái đi tất xanh, giày bẹt, đeo nhẫn bạc và phảng phất mùi sữa khi đi sượt qua họ. Họ sóng đôi dắt tay nhau đi, cứ thế lan tỏa khắp cả cánh đồng từ hàng cây thưa thớt cho đến tận chiếc lều dựng tiệc.

Nhưng đây đã đến giờ chấm thi, từng người nông dân một bước vào một thứ khu vực rào chắn được quây bằng một sợi dây thừng dài căng trên những cây cọc.

Đám gia súc đứng ở đó, mõm hướng về phía sợi dây thừng, tạo thành một hàng lộn xộn với những cái mông cao thấp khác nhau. Những con lợn ngái ngủ đang dùng mõm sục sạo dưới đất, những chú bê đang kêu bê bê, cừu non kêu ba ba; mấy con bò với đôi chân gập lại đang trải dài cái bụng trên thảm cỏ, thong thả nhai lại và chớp chớp đôi mi nặng trĩu trước đàn muỗi đang vo ve xung quanh. Những anh thợ cày tay trần đang giữ dây cương những chú tuấn mã đang chồm lên, hí vang với hai cánh mũi phập phồng hướng về phía bầy ngựa cái. Chúng đứng yên lặng, vươn dài cổ và bộ bờm thướt tha, trong khi đám ngựa con nép mình trong bóng râm của mẹ, hoặc chốc chốc lại tiến lại bú sữa. Và phía trên nhấp nhô của đám đông gia súc chen chúc ấy, người ta thấy một chiếc bờm trắng phấp phới trong gió tựa con sóng, hay vài chiếc sừng nhọn hoắt nhô lên, cùng những cái đầu của đám người đang chạy ngược chạy xuôi. Tách biệt ra ngoài khu vực rào chắn, cách đó một trăm bước, là một chú bò đực đen sì, bị rọ mõm, với một vòng khuyên bằng sắt xuyên qua mũi, đứng im lìm như thể được đúc bằng đồng. Một đứa trẻ rách rưới đang giữ nó bằng một sợi thừng.

Giữa hai hàng rào, các ủy viên ban giám khảo đang nặng nề lê bước, quan sát từng con vật, rồi thì thầm bàn tán với nhau. Một người có vẻ quyền trọng hơn chốc chốc lại dừng lại ghi chép vào một cuốn sổ khi đi ngang qua. Đó chính là chủ tịch hội đồng giám khảo, ông Derozerays de la Panville. Ngay khi nhận ra Rodolphe, ông ta vội vã tiến lại, miệng cười niềm nở và cất giọng:

— Ôi! Ông Boulanger, ông đang bỏ rơi chúng tôi đấy à?

Rodolphe thanh minh rằng anh vừa mới tới. Nhưng khi vị chủ tịch vừa khuất dạng—

— Thề có Chúa! — anh thốt lên — Tôi chẳng đi đâu hết. Ở bên em còn thú vị hơn nhiều.

Và vừa chế giễu ngày hội, Rodolphe vừa chìa chiếc thẻ xanh của mình cho viên hiến binh để có thể di chuyển dễ dàng hơn, thậm chí anh còn dừng lại chốc chốc trước một con vật đẹp mà bà Bovary chẳng mảy may ngắm nghía. Nhận ra điều đó, anh bắt đầu mỉa mai những phụ nữ Yonville cùng trang phục của họ; rồi anh ngỏ lời xin lỗi vì vẻ xuề xoà của chính mình. Anh mang cái vẻ bất dung hòa giữa sự bình dân và lịch thiệp mà những kẻ vốn quen thói thô tục tưởng rằng đó là biểu hiện của một lối sống kỳ quái, của những xáo trộn trong tình cảm, sự kiềm tỏa của nghệ thuật, và luôn phảng phất một sự coi thường các quy chuẩn xã hội — thứ quy chuẩn vừa quy rũ vừa làm chúng tức tối. Thế nên chiếc áo sơ mi bằng vải cambric với phần cổ tay xếp li của anh bị gió thổi phồng lên ở phần vạt áo ghi lê vải sọc xám, còn chiếc quần sọc to bản để lộ ở cổ chân đôi giày nankeen kết hợp với xà cạp da bóng.

Chúng bóng loáng đến mức phản chiếu cả thảm cỏ. Anh giẫm cả lên phân ngựa bằng đôi giày ấy, một tay đút túi áo khoác còn chiếc mũ rơm thì đội lệch một bên.

— Hơn nữa — anh nói thêm — khi người ta sống ở vùng quê—

— Đúng là uổng phí thời gian — Emma tiếp lời.

— Quả đúng là vậy — Rodolphe đáp — Nghĩ mà xem, chẳng có lấy một kẻ trong số những con người này có đủ khả năng thấu hiểu dẫu chỉ là đường cắt của một chiếc áo!

Rồi họ bàn luận về sự tầm thường nơi tỉnh lẻ, về những cuộc đời bị nó bóp nghẹt, về những ảo mộng đã phai tàn nơi đây.

— Cả tôi nữa — Rodolphe nói — cũng đang lún sâu vào nỗi chán chường.

— Anh á! — nàng ngạc nhiên thốt lên — Em tưởng anh là người rất vô tư lự chứ.

— À! Vâng. Trông tôi có vẻ thế, bởi vì giữa chốn đông người, tôi biết cách mang chiếc mặt nạ giễu cợt trên khuôn mặt; thế nhưng, đã bao lần đứng trước nghĩa trang dưới ánh trăng mà tôi không tự hỏi lòng mình rằng liệu gia nhập vào hàng ngũ những kẻ đang ngủ say kia có phải là tốt hơn không!

— Ôi! Còn bạn bè của anh thì sao? — nàng nói — Anh không nghĩ đến họ hay sao.

— Bạn bè ư! Bạn bè nào chứ? Tôi có ai cơ chứ? Ai thèm quan tâm đến tôi nào? — Và anh kết thúc câu nói bằng một thứ âm thanh huýt sáo qua kẽ môi.

Nhưng họ buộc phải tách ra vì một chồng ghế lớn đang được một người đàn ông khiêng đi phía sau họ. Anh ta mang vác nặng đến mức người ta chỉ thấy được chóp đôi ủng gỗ cùng đầu của hai cánh tay đang duỗi ra. Đó chính là Lestiboudois, người đào huyệt, đang khuân những chiếc ghế nhà thờ đi khắp nơi giữa đám đông. Nhanh nhạy với mọi thứ mang lại lợi ích cho bản thân, hắn đã nghĩ ra cách này để kiếm chác từ ngày hội; và ý tưởng của hắn đang thành công rực rỡ, đến mức hắn chẳng biết phải xoay sở lối nào nữa. Thật vậy, những người dân quê đang nóng bức đang tranh giành nhau những chỗ ngồi ấy, thứ ghế mà phần rơm còn vương mùi hương trầm, và họ tựa lưng vào những tấm tựa dày vấy đầy sáp nến với một vẻ sùng kính nhất định.

Bà Bovary lại choàng lấy tay Rodolphe; anh tiếp tục cất lời như đang tự nói một mình:

— Phải, tôi đã bỏ lỡ biết bao nhiêu điều. Lúc nào cũng chỉ có một mình! Ồ, giá như tôi có một mục đích trong đời, giá như tôi gặp được một tình yêu, giá như tôi tìm thấy ai đó! Ôi, tôi sẽ dốc cạn biết bao nhiêu năng lượng mà mình có được để vượt qua tất cả, san bằng tất cả!

— Thế mà em có cảm tưởng rằng — Emma lên tiếng — anh đâu phải là kẻ đáng thương.

— À! Em nghĩ vậy sao? — Rodolphe nói.

— Bởi vì, suy cho cùng — nàng tiếp tục — anh được tự do— nàng ngập ngừng — giàu có—

— Đừng chế nhạo anh nữa — hắn đáp.

Và nàng thanh minh rằng mình không hề chế nhạo anh, thì bỗng tiếng đại bác vang lên đùng đoang. Ngay lập tức, tất cả mọi người bắt đầu xô đẩy, chen lấn hỗn loạn hướng về phía ngôi làng.

Đó chỉ là một báo động giả. Vị phó tỉnh trưởng có vẻ không đến, và các thành viên ban giám khảo cảm thấy vô cùng bối rối, không biết nên bắt đầu cuộc họp hay tiếp tục chờ đợi.

Cuối cùng, ở cuối quảng trường xuất hiện một chiếc xe ngựa mui trần cho thuê cỡ lớn, kéo bởi hai con ngựa gầy guộc đang bị người đánh xe đội mũ trắng quất roi hầm hập. Binet vừa kịp hô lớn: “Bồng súng chào!”, còn viên đại tá thì làm theo ngay sau đó. Mọi người đều đổ xô về phía khu vực rào chắn; ai nấy đều cố chen lên trước. Vài người thậm chí còn quên cả cổ áo; nhưng cỗ xe của phó tỉnh trưởng dường như đến trước cả đám đông, và hai con ngựa còm cõi, lết theo bộ dây cương, bước đến với một cú nước kiệu nhỏ ngay trước mái hiên của tòa thị chính vào đúng thời điểm Đội Vệ quốc quân và lính cứu hỏa dàn hàng ngang, vừa đánh trống vừa dậm chân theo nhịp.

— Đằng trước — thẳng! — Binet thét lớn.

— Đứng lại! — viên đại tá hô — Quay trái, hành tiến.

Và sau khi bồng súng chào, trong lúc tiếng kèn của ban nhạc vang lên inh ỏi tựa như chiếc ấm đồng lăn nhào xuống cầu thang, tất cả các khẩu súng đều được hạ xuống. Bấy giờ, người ta thấy bước xuống từ cỗ xe một quý ông mặc chiếc áo ngắn viền bạc, trán hói, có một nhúm tóc đằng sau gáy, nước da sạm vàng và mang vẻ mặt vô cùng hiền hậu. Đôi mắt rất to và bị che khuất bởi hàng mi nặng trĩu đang khép hờ khi nhìn ngắm đám đông, đồng thời ngài ngẩng chiếc mũi nhọn lên và gượng cười trên đôi môi trũng xuống. Ngài nhận ra viên thị trưởng qua dải băng đeo và giải thích rằng ngài phó tỉnh trưởng không thể đến được. Bản thân ngài là một ủy viên hội đồng tỉnh; rồi ngài nói thêm vài lời xin lỗi. Ông Tuvache đáp lời bằng những lời ca tụng; vị kia thú nhận mình đang hồi hộp; và họ cứ đứng đó, mặt đối mặt, trán suýt chạm vào nhau, xung quanh là các thành viên ban giám khảo, hội đồng thành phố, những nhân vật tên tuổi, Đội Vệ quốc quân và cả đám đông. Vị ủy viên hội đồng ép chiếc mũ tam góc nhỏ vào ngực, liên tục cúi chào, trong khi Tuvache cúi gập người như cây cung, cũng mỉm cười, lắp bắp, cố nói điều gì đó, tuyên thệ lòng trung thành với chế độ quân chủ và vinh dự đang được mang lại cho Yonville.

Hippolyte, cậu chăn ngựa của quán trọ, nắm lấy đầu dây cương của cỗ xe từ tay người đánh xe, vừa khập khiễng lê cái chân thọt vừa dẫn chúng về phía cửa quán “Lion dã Dơ”, nơi tụ tập rất đông nông dân đang đứng xem cỗ xe. Tiếng trống vang lên, cỗ pháo lựu gầm rú, và các vị chức sắc lần lượt bước lên bục, nơi họ ngồi xuống những chiếc ghế bành bằng vải nhung đỏ Utrecht do bà Tuvache cho mượn.

Tất cả những con người này trông giống hệt nhau. Khuôn mặt nhợt nhạt, phúng phính và hơi rám nắng của họ mang màu của nước táo ngọt, và bộ mai xồm xoàm nhô ra khỏi những chiếc cổ áo cứng nhắc, được giữ ngẩng cao bởi những chiếc cà vạt trắng thắt nơ rộng. Tất cả các áo ghi lê đều làm bằng nhung, vạt chéo hai bên; tất cả các đồng hồ đều gắn ở đầu một dải băng dài chiếc khuyên ngọc thạch hình bầu dục; ai nấy đều đặt hai tay lên đùi, cẩn thận kéo phẳng ống quần, thứ vải bóng loáng chưa giặt nước phản chiếu ánh sáng rực rỡ hơn cả da của những đôi ủng nặng nề.

Các phu nhân trong đoàn đứng ở phía sau dưới hiên nhà giữa những hàng cột, trong khi thường dân đứng đối diện, hoặc đứng hoặc ngồi trên ghế. Trên thực tế, Lestiboudois đã mang đến đó toàn bộ số ghế mà hắn đã di dời từ bãi cỏ, và hắn thậm chí cứ liên tục chạy đi chạy lại mỗi phút để khuân thêm từ nhà thờ đến. Hắn tạo ra sự hỗn loạn lớn đến mức người ta rất khó khăn mới chen chân lên được bậc tam cấp nhỏ của chiếc bục.

— Tôi nghĩ rằng — ông Lheureux nói với viên dược sĩ đang đi ngang qua chỗ ngồi của mình — lẽ ra họ nên dựng hai cột cờ kiểu Venice với thứ gì đó trang nghiêm và sang trọng một chút để làm vật trang trí; trông sẽ rất đẹp mắt đấy chứ.

— Chắc chắn rồi — Homais đáp — nhưng anh còn trông đợi gì nữa? Viên thị trưởng ôm đồm tất cả mọi việc một mình. Lão ta có mấy khi có gu thẩm mỹ đâu. Tội nghiệp Tuvache! Hắn thậm chí còn hoàn toàn cạn kiệt cái gọi là thiên tài nghệ thuật ấy chứ.

Trong khi đó, Rodolphe cùng bà Bovary đã đi lên tầng một của tòa thị chính, vào “phòng họp hội đồng,” và vì phòng trống hoác, anh tuyên bố họ có thể thưởng ngoạn cảnh quan ở đây một cách thoải mái hơn. Anh mang ba chiếc ghế đẩu từ chiếc bàn tròn đặt dưới bức tượng bán thân của nhà vua, rồi đặt chúng bên cửa sổ, và họ ngồi xuống cạnh nhau.

Trên bục diễn ra sự náo động, những tiếng thì thầm kéo dài, vô số lời bàn qua tán lại. Cuối cùng vị ủy viên hội đồng cũng đứng dậy. Bây giờ người ta mới biết tên ngài là Lieuvain, và trong đám đông, cái tên ấy được truyền từ người này sang người khác. Sau khi lật giật vài trang giấy và cúi người xuống để nhìn cho rõ hơn, ngài bắt đầu cất giọng:

— Thưa các quý ông! Cho phép tôi trước hết (trước khi đề cập đến mục đích cuộc họp của chúng ta ngày hôm nay, và tôi tin chắc cảm xúc này sẽ được tất cả các vị chia sẻ), cho phép tôi, tôi xin nhắc lại, được bày tỏ lòng tri ân đến cơ quan hành pháp cấp cao, đến chính phủ, đến nhà vua, thưa các quý ông, vị quân vương của chúng ta, vị vua kính yêu ấy, người mà không một ngóc ngách nào của sự thịnh vượng công hay tư lại không đếm xỉa đến, và là người đang chèo lái con tàu nhà nước bằng một bàn tay vừa vững chắc vừa khôn ngoan giữa muôn vàn hiểm nguy của một vùng biển bão táp, hơn nữa, ngài còn biết cách duy trì sự tôn trọng đối với nền hòa bình cũng như chiến tranh, kỹ nghệ, thương mại, nông nghiệp và mỹ thuật?

— Tôi nên — Rodolphe lên tiếng — lùi ra xa thêm chút nữa.

— Sao cơ? — Emma hỏi.

Nhưng vào khoảnh khắc ấy, giọng nói của vị ủy viên hội đồng bỗng vang lên ở một âm vực phi thường. Ngài hùng biện:

— Hỡi các quý ông, đây không còn là thời kỳ mà sự chia rẽ dân sự làm vấy máu những nơi công cộng của chúng ta, khi mà chủ đất, thương gia, hay chính người lao động, khi chìm vào giấc ngủ ban đêm, nằm xuống giấc ngủ yên bình, lại phải nớm nớp lo sợ bị đánh thức bất ngờ bởi tiếng chuông báo động đốt phá, khi mà những học thuyết phá hoại nhất ngấm ngầm lung lay những nền móng một cách táo tợn.

— Chà, ai đó dưới kia có thể nhìn thấy tôi — Rodolphe tiếp lời — rồi tôi sẽ phải bịa ra những lời ngụy biện suốt nửa tháng; với cái tiếng tăm tồi tệ của tôi thì—

— Ôi, anh đang tự bôi nhọ mình đấy thôi — Emma nói.

— Không! Thật khủng khiếp đấy, anh đảm bảo với em.

— Nhưng thưa các quý ông — vị ủy viên hội đồng tiếp lời — nếu như gạt bỏ khỏi ký ức tôi những hình ảnh đau buồn ấy, tôi hướng ánh nhìn trở lại tình hình thực tế của đất nước thân yêu chúng ta, thì tôi thấy gì ở đó? Khắp nơi thương mại và nghệ thuật đang hưng thịnh; khắp nơi các phương tiện giao thông mới, tựa như vô số mạch máu mới trong cơ thể nhà nước, đang thiết lập những mối quan hệ mới ngay trong lòng nó. Những trung tâm công nghiệp lớn của chúng ta đã khôi phục lại toàn bộ sinh khí; tôn giáo, càng thêm vững chãi, đang mỉm cười trong mọi trái tim; các cảng biển của chúng ta tấp nập, niềm tin được tái sinh, và nước Pháp lại một lần nữa hít thở căng tràn!

— Hơn nữa — Rodolphe nói thêm — có lẽ xét theo quan điểm của thế gian, họ có lý.

— Sao cơ? — nàng hỏi.

— Gì chứ! — anh nói — Em không biết rằng có những tâm hồn luôn bị dằn vặt hay sao? Họ cần phải luân phiên mơ mộng và hành động, cần những niềm đam mê tinh tuyết nhất cho đến những niềm vui cuồng nhiệt nhất, và cứ thế họ lao mình vào đủ mọi loại tưởng tượng, mọi sự điên rồ.

Rồi nàng nhìn anh hệt như cách người ta nhìn một kẻ lữ hành đã từng bôn ba qua những xứ sở lạ lùng, và tiếp lời:

— Chúng ta còn chẳng có nổi sự tiêu khiển ấy, những người phụ nữ nghèo khổ chúng ta!

— Một sự tiêu khiển buồn thảm, bởi hạnh phúc chẳng hề tìm thấy ở đó đâu.

— Nhưng liệu người ta có bao giờ tìm thấy nó không? — nàng hỏi.

— Có chứ; rồi sẽ có ngày nó đến — anh đáp.

— Và đây chính là điều mà các vị đã thấu hiểu — vị ủy viên hội đồng cất lời.

— Hỡi những người nông dân, những người lao động nông nghiệp! những người tiên phong hòa bình của một công cuộc hoàn toàn thuộc về nền văn minh! hỡi những con người của tiến bộ và đạo đức, các vị đã thấu hiểu, tôi xin nhấn mạnh, rằng những cơn bão chính trị còn đáng sợ hơn cả những biến động của thời tiết!

— Nó đến vào một ngày — Rodolphe lặp lại — một ngày bất thình lình, và khi người ta đang tuyệt vọng nhất về nó. Khi ấy chân trời mở rộng; tựa như có một tiếng vọng kêu lên rằng: “Nó đây rồi!” Em cảm thấy nhu cầu được gửi gắm toàn bộ cuộc đời mình, dâng hiến tất cả, hy sinh tất cả cho sinh linh ấy. Chẳng cần phải giải thích gì sất; họ tự hiểu nhau. Họ đã từng thấy nhau trong những giấc mơ!

(Và anh nhìn nàng.) — Cuối cùng, nó đây rồi, báu vật được khao khát tìm kiếm bấy lâu, nó đang hiện diện ngay trước mắt các vị đây. Nó lấp lánh, nó chói ngời; thế mà người ta vẫn còn hoài nghi, người ta không dám tin; người ta vẫn còn ngơ ngác, tựa như vừa bước ra từ chốn tối tăm ngập tràn ánh sáng.

Và khi dứt lời, Rodolphe hành động hóa luôn lời nói. Anh đưa tay quệt qua mặt, hệt như một kẻ bị cơn chóng mặt đánh gục. Rồi anh thả bàn tay ấy lên tay Emma. Nàng bèn rụt tay lại.

— Và ai lại đi ngạc nhiên vì điều đó chứ, thưa các quý ông? Chỉ có kẻ nào quá ư mù quáng, quá chìm đắm (tôi không sợ phải thốt lên điều này), quá chìm đắm trong những định kiến của một thời đại khác đến mức vẫn còn hiểu lầm tinh thần của quần chúng nông dân. Thật vậy, đâu là nơi có thể tìm thấy lòng yêu nước sâu sắc hơn ở vùng nông thôn, sự cống hiến lớn lao hơn cho phúc lợi công cộng, trí tuệ mẫn tiệp hơn, nói tóm lại là gì? Và thưa các quý ông, ý tôi không phải là cái trí tuệ hời hợt, thứ trang sức phù phiếm của những tâm hồn nhàn rỗi, mà chính là thứ trí tuệ thâm trầm và vững chãi, luôn hướng bản thân trước hết vào những mục đích thiết thực, qua đó đóng góp vào lợi ích chung, vào sự cải thiện chung và sự hậu thuẫn cho đất nước, sinh ra từ sự tôn trọng luật pháp và việc thực thi bổn phận—

— A! Lại thế nữa! — Rodolphe lẩm bẩm — Lúc nào cũng là “bổn phận”. Tôi phát ngấy cái từ đó rồi. Bọn họ chỉ là lũ già lẩm cẩm mặc áo nỉ chần bông và mấy bà già kè kè túi sưởi chân cùng tràng hạt, suốt ngày cứ lải nhải vào tai chúng ta hai tiếng “Bổn phận, bổn phận!”. Chà! Nhân danh Chúa! Bổn phận của người ta là cảm nhận những điều vĩ đại, trân trọng cái đẹp, chứ không phải chấp nhận mọi quy chuẩn xã hội cùng với sự nhục nhã mà chúng áp đặt lên chúng ta.

— Dẫu vậy— dẫu vậy— — bà Bovary phản bác.

— Không, không! Tại sao lại phải bài xích những đam mê? Chẳng phải chúng là điều tốt đẹp duy nhất trên cõi đời này, là nguồn cội của sự anh hùng, của lòng nhiệt thành, của thi ca, âm nhạc, nghệ thuật, tóm lại là của vạn vật hay sao?

— Nhưng dẫu sao người ta cũng phải — Emma nói — cúi đầu trước dư luận thế giới và chấp nhận luân lý của nó chứ.

— Ôi! Nhưng có tới hai thứ luân lý cơ — anh đáp — Thứ nhỏ nhen, quy ước, thứ của con người, thứ không ngừng biến đổi, cứ ra rả cất giọng thật to, gây náo loạn chốn trần gian này, tầm thường hèn mạt như đám đông vô tri mà em thấy dưới kia kìa. Còn thứ kia, vĩnh hằng, bao bọc lấy chúng ta và ngự trị bên trên, tựa như phong cảnh xung quanh ta, và bầu trời xanh đang chiếu rọi chúng ta.

Ông Lieuvain vừa dùng khăn tay lau miệng. Ngài tiếp tục:

— Và tôi đến đây để làm gì hỡi các quý ông, khi chỉ ra cho các vị thấy những công dụng của ngành nông nghiệp? Ai là kẻ cung cấp nhu yếu phẩm cho chúng ta? Ai mang lại phương kế sinh nhai cho chúng ta? Chẳng phải là người nông dân đó sao? Người nông dân, thưa các quý ông, những người miệt mài gieo hạt trên những luống cày màu mỡ của đất nước, làm nảy mầm hạt lúa mì, để rồi qua những cỗ máy khéo léo nghiền thành bột mịn, thoát ra ngoài dưới tên gọi bột mì, và từ đó, được vận chuyển đến các thành phố của chúng ta, nhanh chóng giao tận tay thợ làm bánh để nhào nặn thành lương thực cho cả người nghèo lẫn kẻ giàu! Hơn thế nữa, chẳng phải chính người nông dân là người nuôi dưỡng, để lấy nguyên liệu may mặc, những đàn gia súc sum suê trên đồng cỏ đó sao? Bởi vì nếu không có người nông dân, chúng ta lấy gì mà mặc, lấy gì mà nuôi sống bản thân? Và thưa các quý ông, liệu có cần thiết phải đi xa đến thế để tìm kiếm ví dụ không? Ai trong chúng ta chưa từng ngẫm nghĩ về biết bao điều trọng đại mà chúng ta thu nhận được từ loài vật khiêm nhường ấy, thứ trang hoàng cho những khu chăn nuôi gia cầm, vừa cung cấp cho chúng ta một chiếc gối êm ái cho giấc ngủ, vừa mang lại thứ thịt mọng nước cho bàn ăn, lại vừa cho trứng nữa? Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ nói hết nếu phải kể lể hết lần lượt từng sản phẩm khác nhau mà đất đai, khi được cày cấy tốt tươi, hệt như một người mẹ hào phóng, ban phát cho những đứa con của mình. Nơi này là cây nho, nơi khác là cây táo làm rượu táo, kìa là cây cải dầu, xa hơn chút nữa là phô mai và lanh. Thưa các quý ông, chúng ta chớ nên quên cây lanh, thứ đã có những bước tiến vượt bậc trong những năm gần đây, và tôi muốn đặc biệt kêu gọi sự chú ý của các vị đến nó.

Ngài chẳng cần phải kêu gọi, bởi miệng của tất cả mọi người trong đám đông đều há hốc ra, như thể đang uống lấy từng lời của ngài. Tuvache đứng bên cạnh chăm chú lắng nghe với đôi mắt mở trừng trừng. Thỉnh thoảng ông Derozerays lại khẽ nhắm nghiền đôi mi, và xa hơn chút nữa, viên dược sĩ cùng cậu con trai Napoléon kẹp giữa hai đầu gối đang chụm tay lên vành tai để không bỏ lỡ một âm tiết nào. Cằm của các thành viên ban giám khảo khác từ từ nâng lên hạ xuống trong chiếc áo ghi lê như một dấu hiệu đồng tình. Đội cứu hỏa dưới chân bục dựa lưng vào lưỡi lê; còn Binet, bất động đứng với hai khuỷu tay chĩa ra ngoài, đầu mũi kiếm giơ lên không trung. Có lẽ hắn nghe được, nhưng chắc chắn chẳng thấy gì vì chiếc vành mũ bảo hiểm đã sà xuống tận mũi. Viên trung úy của hắn, cậu con trai út của ông Tuvache, đội một chiếc mũ còn to hơn, vì nó quá khổ, cứ lắc lư trên đầu ngài, thò ra một đoạn khăn quàng bằng cotton. Cậu mỉm cười bên dưới chiếc mũ với vẻ ngây thơ hoàn toàn trẻ con, và gương mặt nhỏ nhợt nhạt đang túa mồ hôi toát lên vẻ tận hưởng và buồn ngủ.

Quảng trường kéo dài đến tận những ngôi nhà đều nghẹt thở bóng người. Người ta thấy dân chúng tì khuỷu tay lên tất cả các khung cửa sổ, những người khác đứng bên ngưỡng cửa, và Justin, trước cửa hiệu dược sĩ, trông như chết trân trước khung cảnh đang đập vào mắt. Bất chấp sự im lặng, giọng nói của ông Lieuvain vẫn lọt thỏm vào không trung. Nó đến tai người nghe chỉ là những mảnh vụn của câu cú, bị ngắt quãng đây đó bởi tiếng cóp két của những chiếc ghế trong đám đông; rồi người ta chợt nghe tiếng rống dài của một con bò đực, hoặc tiếng kêu be béc của bầy cừu đang đáp lời nhau ở các góc phố. Thực chất, những người chăn bò và chăn cừu đã lùa đàn gia súc của họ đến tận đây, và chúng thỉnh thoảng lại rống lên trong lúc dùng lưỡi giật đứt những tán lá xanh lơ lửng ngay trước mõm.

Rodolphe đã xích lại gần Emma hơn, và cất giọng thì thầm nhanh nhẩu:

— Sự đồng lõa của thế giới này chẳng lẽ không làm em phẫn nộ sao? Có thứ tình cảm nào mà nó không lên án chứ? Những bản năng cao quý nhất, những sự đồng điệu thuần khiết nhất đều bị bức hại, bị vu khống; và nếu cuối cùng hai tâm hồn khốn khổ có gặp được nhau, thì mọi thứ đều được sắp đặt sao cho họ không thể hòa quyện vào làm một. Dẫu vậy họ vẫn sẽ cố gắng; họ sẽ đập cánh; họ sẽ gọi tên nhau. Ồ, chẳng hề gì. Sớm hay muộn, trong sáu tháng, mười năm, họ cũng sẽ hội ngộ, sẽ yêu nhau; bởi định mệnh đã an bài và họ sinh ra là dành cho nhau.

Hai tay anh khoanh trước gối, và cứ thế ngước khuôn mặt hướng về phía Emma, áp sát bên nàng, anh nhìn chằm chằm vào nàng. Nàng nhận thấy trong đôi mắt anh những đường nét vàng óng tỏa ra từ đồng tử đen; nàng thậm chí còn ngửi thấy cả mùi hương pomade làm cho mái tóc anh thêm bóng mượt.

Rồi một cảm giác choáng váng ùa về trong nàng; nàng sực nhớ đến vị Tử tước từng khiêu vũ valse cùng nàng ở Vaubyessard, và bộ râu của ông ta cũng tỏa ra mùi hương vani và chanh thoang thoảng như bầu không khí này, và theo phản xạ, nàng khẽ nhắm nghiền đôi mắt lại để hít hà trọn vẹn hương thơm ấy. Nhưng trong lúc làm cử động đó, khi ngả người ra sau ghế, nàng thoáng thấy ở đằng xa, ngay sát đường chân trời, cỗ xe ngựa cũ kỹ “Hirondelle” đang chậm chạp xuống dốc Leux, kéo theo sau một dải bụi dài. Chính trên cỗ xe màu vàng ấy Léon đã từng biết bao lần trở lại bên nàng, và cũng theo con đường phía dưới kia mà chàng đã ra đi mãi mãi. Nàng cứ ngỡ như đang thấy chàng đối diện bên khung cửa sổ; rồi mọi thứ nhòa đi; mây mù tụ lại; nàng có cảm giác như mình lại đang xoay vòng trong điệu valse dưới ánh đèn chùm trên cánh tay vị Tử tước, và rằng Léon không ở đâu xa, rằng chàng đang tới; thế mà suốt khoảng thời gian đó, nàng vẫn nhận thức rõ ràng hương thơm từ mái tóc Rodolphe sát bên mình. Sự ngọt ngào của cảm giác ấy len lỏi xuyên qua những khát khao cũ kỹ của nàng, và chúng, tựa như những hạt cát dưới cơn cuồng phong, xoáy tròn cuồn cuộn trong hơi thở tinh tế đang thấm đẫm tâm hồn nàng. Nàng mở to cánh mũi vài lần để hít lấy sự tươi mát của đám dây thường xuân quanh những cột trụ. Nàng tháo găng tay, lau tay, rồi dùng khăn tay quạt mát cho khuôn mặt, trong lúc dẫu nhịp đập nơi thái dương đang dồn dập, nàng vẫn nghe văng vẳng tiếng lầm rầm của đám đông và giọng nói của viên ủy viên hội đồng đang cất lên những câu cú đều đều. Ngài đang nói — “Hãy tiếp tục, hãy kiên trì; đừng lắng nghe những gợi ý của lối mòn thói quen, cũng đừng nghe theo những lời khuyên vội vã của một chủ nghĩa kinh nghiệm liều lĩnh.

— Trên hết, hãy áp dụng vào việc cải tạo đất đai, phân bón tốt, phát triển các giống ngựa, bò, cừu và lợn. Mong rằng những cuộc triển lãm này sẽ là những đấu trường hòa bình, nơi kẻ chiến thắng khi rời khỏi sẽ đưa tay ra cho kẻ chiến bại và kết nghĩa anh em cùng hắn vì hy vọng đạt được thành công lớn hơn nữa. Còn các vị, những người đầy tượng kỳ cựu, những gia nhân khiêm nhường, những người lao động vất vả mà cho đến nay chưa một Chính phủ nào đếm xỉa đến, hãy đến đây để nhận lấy phần thưởng cho những đức tính thầm lặng của các vị, và hãy yên tâm rằng từ nay nhà nước đã hướng ánh nhìn về phía các vị; rằng nhà nước khích lệ các vị, bảo vệ các vị; rằng nhà nước sẽ đáp ứng những yêu cầu chính đáng của các vị và làm vơi đi phần nào gánh nặng của những sự hy sinh đau đớn trong khả năng có thể.”

Ông Lieuvain bấy giờ ngồi xuống; ông Derozerays đứng dậy, mở đầu cho một bài diễn văn khác. Bài phát biểu của ông có lẽ không hoa mỹ bằng bài của vị ủy viên hội đồng, nhưng nó lại ghi điểm bằng một văn phong trực diện hơn, nghĩa là mang nhiều kiến thức chuyên môn hơn và những suy ngẫm cao cả hơn. Do đó, lời ca tụng Chính phủ chiếm ít không gian hơn ở đây; tôn giáo và nông nghiệp chiếm nhiều hơn. Ông phơi bày mối quan hệ giữa hai lĩnh vực này, và cách chúng luôn góp phần vào nền văn minh. Rodolphe cùng bà Bovary đang bàn về những giấc mơ, linh cảm, thuật thôi miên. Quay ngược về thời khai nguyên của xã hội, nhà diễn thuyết vẽ lại thời kỳ hoang sơ khi con người sống bằng hạt dẻ trong những khu rừng sâu. Rồi họ từ bỏ da thú, mặc áo vải, cày bừa đất đai, trồng cây nho. Liệu đây có phải là một điều tốt, và trong phát kiến ấy chẳng lẽ không chứa đựng nhiều tác hại hơn là lợi ích hay sao? Ông Derozerays tự đặt ra bài toán ấy cho mình. Từ thôi miên, Rodolphe dần chuyển sang sự tương hợp tâm hồn, và trong lúc vị chủ tịch đang nhắc đến Cincinnatus cùng chiếc cày của ông, Diocletian đang trồng cải bắp, và các Hoàng đế Trung Hoa khai xuân bằng lễ gieo hạt, thì chàng thanh niên đang giải thích cho thiếu phụ rằng những sự hấp dẫn không thể cưỡng lại ấy bắt nguồn từ một kiếp sống nào đó trước kia.

— Thế nên chúng ta — anh nói — tại sao lại biết đến nhau? Định mệnh nào đã an bài? Đó là vì vượt qua không gian vô tận, hệt như hai dòng sông chảy đi chỉ để hội tụ; xu hướng tâm hồn đặc biệt của chúng ta đã dẫn dắt chúng ta tiến về phía nhau.

Và anh nắm lấy tay nàng; nàng không rụt tay lại.

— Giải thưởng vì canh tác xuất sắc chung! — vị chủ tịch hô vang.

— Vừa rồi chẳng hạn, khi anh đến nhà em.

— Trao cho ông Bizat ở Quincampoix.

— Liệu anh có biết rằng mình sẽ đi cùng em không?

— Bảy mươi franc.

— Đã trăm lần anh muốn ra về; thế rồi anh vẫn đi theo em — anh vẫn ở lại.

— Phân bón!

— Và anh sẽ ở lại tối nay, ngày mai, mọi ngày khác, suốt cuộc đời anh!

— Trao cho ông Caron ở Argueil, một huy chương vàng!

— Bởi vì ở bên cạnh bất cứ ai khác, anh chưa bao giờ tìm thấy một sự quyến rũ trọn vẹn đến thế.

— Trao cho ông Bain ở Givry-Saint-Martin.

— Và anh sẽ mang theo bên mình ký ức về em.

— Vì một con cừu giống merino!

— Nhưng rồi em sẽ quên anh thôi; anh sẽ trôi qua như một cái bóng.

— Trao cho ông Belot ở Notre-Dame.

— Ôi, không đâu! Anh sẽ trở thành một phần trong suy nghĩ của em, trong cuộc đời em, phải không nào?

— Giống lợn; giải thưởng — đồng hạng, trao cho ông Leherisse và ông Cullembourg, sáu mươi franc!

Rodolphe đang siết chặt bàn tay nàng, và anh cảm nhận nó thật ấm áp và run rẩy hệt như một chú chim bồ câu bị giam cầm đang muốn tung cánh bay đi; nhưng dẫu nàng đang cố rụt tay về hay đang đáp lại lực siết của anh, nàng vẫn khẽ động đậy các ngón tay. Anh thốt lên:

— Ồ, anh cảm ơn em! Em không chối bỏ anh! Em thật dịu dàng! Em hiểu rằng anh thuộc về em mà! Hãy để anh ngắm nhìn em; hãy để anh chiêm ngưỡng em!

Một cơn gió thổi lùa qua cửa sổ làm tung bay tấm khăn trải bàn, và ở quảng trường phía dưới, tất cả những chiếc mũ trùm đầu lớn của các bà nông dân đều bị thổi bốc lên hệt như đôi cánh của những cánh bướm trắng đang rập rờn.

— Công dụng của bánh dầu — vị chủ tịch tiếp lời. Ông đang đọc gấp gáp: — Phân bón xứ Flanders — canh tác cây lanh — hệ thống thoát nước — hợp đồng thuê đất dài hạn — lao dịch gia đình.

Rodolphe không nói nữa. Họ nhìn nhau. Một khao khát tối thượng làm đôi môi khô khốc của họ run rẩy, và trong sự mệt mỏi, chẳng chút gắng gượng, những ngón tay họ đan xoắn vào nhau.

— Catherine Nicaise Elizabeth Leroux, ở Sassetot-la-Guerrière, vì năm mươi tư năm phục vụ tại cùng một trang trại, một huy chương bạc — trị giá hai mươi lăm franc!

— Catherine Leroux đâu rồi? — vị ủy viên hội đồng lặp lại.

Bụà ấy không bước lên, và người ta nghe thấy tiếng người ta thì thầm:

— Lên đi chứ!

— Đừng sợ!

— Ồ, sao mụ ta ngốc thế nhỉ!

— Thế nào, mụ có ở đó không? — Tuvache hét lên.

— Có; mụ ấy đây rồi.

— Thế thì bảo mụ lên đây!

Bấy giờ xuất hiện trên bục một cụ già bé nhỏ với dáng vẻ rụt rè, người như đang co ro trong bộ quần áo nghèo nàn. Dưới chân mụ mang đôi ủng gỗ nặng nề, và từ phần hông rủ xuống một chiếc tạp dề xanh lớn. Gương mặt tái nhợt được ôm trọn trong chiếc mũ trùm không viền còn nhiều nếp nhăn hơn cả một quả táo tây héo úa. Và thò ra từ ống tay áo chiếc áo khoác đỏ là hai bàn tay to lớn với những khớp xương u cục, bị bụi bặm của chuồng trại, kiềm tro giặt giũ cùng mỡ cừu bám két, làm thô ráp và chai sần đến độ chúng trông có vẻ dẫu bẩn thỉu dẫu đã được rửa qua nước sạch; và do thâm niên lao động lâu năm, chúng vẫn giữ nguyên tư thế khum khum nửa mở, hệt như đang âm thầm làm chứng cho bản thân về biết bao nỗi thống khổ đã trải qua. Nét khắc khổ mang màu sắc tu viện làm tôn lên gương mặt mụ. Chẳng có chút buồn bã hay xúc động nào làm phai mờ cái nhìn tái nhợt ấy. Sống chung với gia súc lâu ngày, mụ đã nhiễm lấy sự câm lặng và điềm tĩnh của chúng. Đây là lần đầu tiên mụ thấy mình đứng giữa một đám đông lớn lao đến thế, và trong lòng hoảng sợ trước những lá cờ, tiếng trống, những quý ông mặc áo khoác dài và mệnh lệnh của vị ủy viên hội đồng, mụ đứng bất động, chẳng biết nên tiến lên hay bỏ chạy, cũng chẳng hiểu tại sao đám đông lại đang xô đẩy mình và ban giám khảo lại đang mỉm cười với mụ.

Thế đó, nửa thế kỷ làm tôi mọi đang đứng trước những kẻ tư sản rạng rỡ.

— Lại đây nào, cụ bà Catherine Nicaise Elizabeth Leroux kính mến! — vị ủy viên hội đồng cất giọng, người vừa cầm lấy danh sách những người trúng giải từ tay chủ tịch; và, vừa nhìn tờ giấy vừa nhìn cụ bà luân phiên, ông lặp lại bằng giọng điệu ân cần — Lại đây nào! Lại đây!

— Bà điếc à? — Tuvache lên tiếng, cựa quậy trong ghế bành; và ông bắt đầu hét vào tai mụ — Năm mươi tư năm phục vụ. Một huy chương bạc! Hai mươi lăm franc! Cho bà đấy!

Rồi, khi đã cầm tấm huy chương trong tay, mụ nhìn nó, và một nụ cười hạnh phúc lan tỏa trên khuôn mặt; và trong lúc bước xuống, người ta nghe thấy mụ lầm bầm: “Tôi sẽ mang biếu cha sở trên làng nhà, để ngài làm lễ cầu hồn cho tôi!”

— Đúng là một sự mê tín cuồng tín! — viên dược sĩ thốt lên, nhoài người sang phía viên công chứng.

Cuộc họp đã kết thúc, đám đông giải tán, và giờ đây khi các bài diễn văn đã được đọc xong, ai nấy lại trở về vị trí cũ, mọi thứ quay về nếp cũ; bọn chủ xách mé với đám gia nhân, còn đám gia nhân thì đánh đập lũ gia súc — những kẻ chiến thắng uể oải đang lững thững quay về chuồng, trên sừng đeo vòng hoa lục.

Tuy nhiên, đội Vệ quốc quân đã lên tầng một của tòa thị chính với những chiếc bánh mì tròn xiên trên mũi lê, và người đánh trống của tiểu đoàn mang theo một cái giỏ đựng đầy chai lọ. Bà Bovary choàng lấy tay Rodolphe; anh đưa nàng về tận nhà; họ chia tay nhau ngay trước cửa nhà nàng; rồi anh một mình lang thang dạo bước trên bãi cỏ trong lúc chờ giờ dự tiệc.

Bữa tiệc diễn ra kéo dài, ồn ào, phục vụ kém; các thực khách chen chúc nhau đến mức họ khó lòng cử động được khuỷu tay; và những tấm ván hẹp dùng làm ghế băng suýt gãy sập dưới sức nặng của họ. Họ ăn uống ngấu nghiến. Ai nấy đều nhồi nhét cho riêng mình. Mồ hôi túa ra trên mọi trán người, và làn hơi nước trắng đục, tựa như hơi nước trên sông vào một buổi sáng mùa thu, lơ lửng phía trên bàn ăn giữa những chiếc đèn lồng treo lơ lửng. Rodolphe, tựa lưng vào lớp vải calico của chiếc lều, đang chìm đắm trong suy nghĩ về Emma sâu sắc đến mức chẳng nghe thấy gì xung quanh. Phía sau anh trên thảm cỏ, đám gia nhân đang chất đống những chiếc đĩa bẩn, những người hàng xóm đang trò chuyện; anh chẳng thèm đáp lời họ; họ rót đầy ly cho anh, và trong tâm trí anh mọi thứ tĩnh lặng bất chấp thứ tiếng ồn ngày một dâng cao. Anh mơ mộng về những gì nàng vừa nói, về đường nét đôi môi nàng; gương mặt nàng, hệt như trong chiếc gương ma thuật, bừng sáng trên những chiếc cúp của mũ shako, những nếp váy nàng rủ xuống dọc theo vách tường, và những ngày tháng yêu đương trải dài đến vô tận trước mắt anh trong viễn cảnh của tương lai.

Anh gặp lại nàng vào buổi tối lúc bắn pháo hoa, nhưng nàng đi cùng chồng, bà Homais và viên dược sĩ — kẻ đang lo lắng về mối nguy hiểm từ những quả pháo hoa đi lạc và cứ chốc chốc lại rời khỏi nhóm để đi đưa ra vài lời khuyên cho Binet.

Những khối pháo hoa gửi cho ông Tuvache vì quá cẩn trọng nên đã bị cất gọn trong hầm rượu, thế là mớ thuốc súng ẩm ướt chẳng thèm bốc cháy, và khối pháo hoa chủ lực — vốn định hình con rồng đang cắn đuôi mình — đã hỏng bét hoàn toàn. Thỉnh thoảng có vài quả pháo hoa loại Roman-candle lèo tèo lóe lên; thế là đám đông há hốc miệng cất tiếng hò reo hòa lẫn với tiếng hét của những phụ nữ đang bị ôm eo trong bóng tối. Emma lặng lẽ nép vào vai Charles; rồi ngẩng cằm lên, nàng dõi theo những tia sáng rực rỡ của pháo hoa trên bầu trời tối thẫm. Rodolphe đắm đuối ngắm nhìn nàng dưới ánh đèn lồng đang cháy rực.

Chúng tắt ngấm từng chiếc một. Những vì sao hiện ra. Vài hạt mưa bắt đầu rơi. Nàng thắt chiếc khăn fichu quanh đầu trần.

Vào khoảnh khắc ấy, cỗ xe của vị ủy viên hội đồng lăn bánh rời khỏi quán trọ.

Người đánh xe của ngài, do say khướt, bỗng gục đầu ngủ gật, và người ta có thể nhìn thấy từ đằng xa, phía trên mui xe, giữa hai chiếc lồng đèn, cái thân hình to lớn của hắn đang lắc lư từ bên này sang bên kia theo nhịp chùng xuống của dây cương.

— Thật tình mà nói — viên dược sĩ lên tiếng — người ta phải xử lý thật nghiêm khắc với nạn say xỉn! Tôi rất muốn thấy người ta dán thông báo hằng tuần ở cửa tòa thị chính trên một tấm bảng ad hoc tên tuổi của tất cả những kẻ trong tuần đã nốc rượu đến mức say mèm. Hơn thế nữa, xét về mặt thống kê, người ta sẽ có được một thứ hồ sơ công khai để tra cứu trong trường hợp cần thiết. Nhưng xin phép các vị nhé!

Và ông ta lại cắm cổ chạy đi tìm người đội trưởng. Hắn ta đang quay lại để ngắm nghía chiếc máy tiện của mình.

— Có lẽ ông làm thế là không thừa đâu — Homais nói với hắn — nên cử một người trong đội của ông ra, hoặc tự mình đi kiểm tra đi—

— Mặc kệ tôi! — viên thu thuế đáp — Mọi thứ ổn cả rồi!

— Đừng lo lắng gì cả — viên dược sĩ nói khi quay trở lại với nhóm bạn — Ông Binet đã cam đoan với tôi rằng mọi biện pháp phòng ngừa đã được thực hiện rồi. Chẳng có tia lửa nào rơi rớt cả; máy bơm đã đầy nước. Chúng ta về đi ngủ thôi.

— Thề có Chúa! Tôi cũng đang cần đây — bà Homais vừa nói vừa ngáp dài ngáp ngắn — Nhưng dẫu sao đi nữa; chúng ta đã có một ngày hội thật tuyệt vời.

Rodolphe lặp lại bằng giọng thì thầm và ánh mắt trìu mến: — Ôi, vâng! Tuyệt vời lắm!

Và sau khi cúi chào lẫn nhau, họ chia tay.

Hai ngày sau, trên tờ “Fanal de Rouen”, có một bài viết dài về buổi triển lãm. Homais đã biên soạn nó với ngòi bút đầy nhiệt huyết ngay từ sáng hôm sau.

“Tại sao lại có những dải phông hoa, những đóa hoa, những vòng hoa này? Đâu là nơi đám đông đang đổ xô về hệt như những con sóng của vùng biển cuồng nộ dưới dòng thác của mặt trời nhiệt đới đang trút cơn thịnh nộ giáng xuống đầu chúng ta?”

Rồi ông ta bàn về hoàn cảnh của những người nông dân. Chắc chắn Chính phủ đang làm rất nhiều việc, nhưng vẫn chưa đủ. “Cơ hội đây rồi!” — ông ta kêu gọi — “Hàng ngàn cuộc cải cách là điều không thể thiếu; chúng ta hãy thực hiện chúng!” Sau đó, chạm đến sự xuất hiện của vị ủy viên hội đồng, ông không quên “vẻ hiên ngang mang hơi hướng quân sự của lực lượng dân quân chúng ta;” cũng như “những thiếu nữ thôn quê vui tươi nhất của chúng ta;” hay “những cụ già hói đầu tựa như các bậc tộc trưởng hiện diện nơi đó, và có người, là tàn dư của các binh đoàn chúng ta, vẫn cảm nhận được trái tim mình thổn thức trước âm thanh nam tính của tiếng trống.” Ông tự liệt kê tên mình vào hàng ngũ đầu tiên của các thành viên ban giám khảo, thậm chí ông còn lưu ý trong một chú thích rằng ông Homais, dược sĩ, đã gửi một bản luận văn về rượu táo cho hội nông nghiệp.

Khi đề cập đến lễ trao giải, ông vẽ lại niềm vui của những người chiến thắng qua những vần thơ đê-li-răng. “Cha ôm con, anh em ôm nhau, người chồng ôm người bạn đời của mình. Không ít người kiêu hãnh giấu chiếc huy chương khiêm nhường của họ; và không nghi ngờ gì nữa, khi trở về mái ấm thân thương của mình, anh ta sẽ vừa khóc vừa treo nó lên những bức tường khiêm nhường trong túp lều nhỏ.

Khoảng sáu giờ chiều, một bữa tiệc được chuẩn bị tại bãi cỏ của ông Leigeard đã quy tụ những nhân vật chủ chốt của ngày hội. Bầu không khí vô cùng thân mật ngự trị nơi đây. Những lời chúc khác nhau đã được nâng lên: Ông Lieuvain, vì Nhà nước; ông Tuvache, vì Phó tỉnh trưởng; ông Derozerays, vì Nông nghiệp; ông Homais, vì Kỹ nghệ và Mỹ thuật, đôi chị em sinh đôi ấy; ông Leplichey, vì Sự tiến bộ. Vào buổi tối, những chùm pháo hoa rực rỡ bất ngờ thắp sáng bầu không khí. Người ta có thể gọi đó là một chiếc kính vạn hoa thực sự, một cảnh tượng sân khấu đích thực; và trong khoảnh khắc, địa phương nhỏ bé của chúng ta có thể ngỡ như mình được đưa bổng vào giữa một giấc mơ của ‘Nghìn lẻ một đêm’. Xin được khẳng định rằng không có sự kiện bất trắc nào làm xáo trộn cuộc gặp gỡ gia đình này.” Và ông nói thêm: “Chỉ có sự vắng mặt của giới giáo sĩ là được đem ra bàn tán. Không chừng các tu sĩ hiểu về sự tiến bộ theo một cách khác chăng. Tùy các ngài thôi, hỡi những môn đồ của Loyola!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Gustave Flaubert

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.