Ngôi lâu đài, một công trình hiện đại theo kiến trúc Ý với hai dãy nhà vươn ra hai bên cùng ba bậc thềm tam cấp, nằm dưới chân một thảm cỏ xanh mướt rộng lớn. Trên bãi cỏ ấy, vài con bò đang thung thăng gặm cỏ giữa những lùm cây lớn được bố trí thành hàng lối đều đặn, trong khi những khóm hoa dâu tây thụy điển, đỗ quyên, tử đinh hương và hoa hồng cầu tuyết đan xen thành từng cụm xanh mướt không theo trật tự nào dọc theo đường cong của lối đi rải sỏi. Một dòng con chảy uốn lượn dưới gầm cầu; qua lớp sương mù, người ta có thể nhận ra những ngôi nhà tranh nằm rải rác trên cánh đồng được bao bọc bởi hai ngọn đồi thoai thoải với thảm thực vật xanh tươi, và ở phía xa xa giữa hàng cây, nổi bật lên hai dãy nhà xe cùng chuồng ngựa song song – tất cả những gì còn sót lại của ngôi lâu đài cổ đã hoang phế.
Chiếc xe ngựa nhẹ của Charles dừng bánh trước bậc thềm ở gian giữa; gia nhân xuất hiện; vị Hầu tước tiến ra, ân cần chìa tay dìu vợ viên bác sĩ bước vào tiền sảnh.
Nơi đây được lát bằng những phiến đá cẩm thạch, trần rất cao, khiến tiếng bước chân và giọng nói vang dội lên chẳng khác nào trong một ngôi thánh đường.
Đối diện là một chiếc cầu thang thẳng tắp, còn bên trái là hành lang nhìn ra khu vườn dẫn thẳng đến phòng chơi bida, nơi tiếng những quả bóng ngà va vào nhau lách cách phát ra qua cánh cửa mở hé. Khi bước qua hành lang để vào phòng khách, Emma nhìn thấy những người đàn ông đứng quây quần quanh chiếc bàn, nét mặt đăm chiêu, cằm tì lên những chiếc khăn cổ cao ngất. Tất cả đều đeo huân chương và mỉm cười lặng lẽ trong lúc đánh bóng.
Trên những bức vách ốp gỗ tối màu, những khung tranh mạ vàng lớn có đề tên bằng chữ đen ở phía dưới. Cô đọc được: “Jean-Antoine d’Andervilliers d’Yvervonbille, Bá tước xứ La Vaubyessard kiêm Nam tước xứ La Fresnay, tử trận tại chiến trường Coutras ngày 20 tháng 10 năm 1587.” Và trên một bức khác: “Jean-Antoine-Henry-Guy d’Andervilliers de la Vaubyessard, Đô đốc nước Pháp kiêm Hiệp sĩ Huân chương Thánh Michael, bị thương tại trận chiến Hougue-Saint-Vaast ngày 29 tháng 5 năm 1692; qua đời tại Vaubyessard ngày 23 tháng 1 năm 1693.” Người ta hầu như không thể đọc nổi những dòng chữ tiếp theo, bởi ánh sáng từ ngọn đèn thả thấp trên mặt bàn nỉ xanh đã tạo ra những vùng bóng mờ ảo khắp căn phòng. Luồng sáng phết lên những bức tranh nằm ngang, rọi thành những đường nét mong manh nơi lớp véc-ni bị nứt nẻ, và từ những ô vuông đen thẫm viền vàng ấy, thỉnh thoảng lại nổi lên một vài chi tiết sáng sủa của bức họa — một vầng trán tái nhợt, đôi mắt đang nhìn chằm chằm về phía bạn, những mái tóc giả bồng bềnh phủ xuống đôi vai khoác áo đỏ, hay chiếc khóa thắt lưng lấp xấp trên phần bắp chân đầy đặn.
Vị Hầu tước đẩy cửa phòng khách; một trong số các quý bà (chính là Nữ hầu tước) bước tới đón Emma. Bà ân cần mời cô ngồi cạnh mình trên chiếc ghế dài bọc đệm và trò chuyện niềm nở như thể hai người đã quen biết từ lâu. Đó là một phụ nữ chừng bốn mươi tuổi, bờ vai thon gọn, chiếc mũi khoằm, giọng nói kéo dài đều đều, và tối hôm nay, bên ngoài mái tóc nâu, bà choàng một chiếc khăn ren mỏng kiểu guipure đơn giản thả nhọn về phía sau. Một thiếu nữ tóc vàng ngồi trên chiếc ghế tựa lưng cao ở một góc phòng; còn các quý ông cài hoa trên khuyết áo thì đang đứng quây quần trò chuyện với các quý bà quanh lò sưởi.
Đúng bảy giờ, tiệc tối được dọn ra. Đàn ông chiếm đa số, ngồi ở dãy bàn thứ nhất trong tiền sảnh; các quý bà ngồi ở dãy bàn thứ hai trong phòng ăn cùng vợ chồng Hầu tước.
Vừa bước vào, Emma đã cảm nhận được bầu không khí ấm áp bao trùm, một sự hòa quyện giữa hương thơm của hoa cỏ, mùi vải lanh tinh khiết, làn khói thức ăn bốc lên và mùi nấm cục hấp dẫn. Những chiếc nắp đậy món ăn bằng bạc phản chiếu ánh nến rực rỡ từ các chân đèn, những chiếc ly pha lê mài phủ một lớp hơi nước mờ ảo hắt qua hắt lại những tia sáng nhạt nhòa; những lẵng hoa được đặt thành hàng dọc theo suốt chiều dài bàn tiệc; và trên những chiếc đĩa có viền lớn, mỗi chiếc khăn ăn được xếp khéo léo theo hình chiếc mũ tế của giám mục, kẹp gọn một chiếc bánh mì ổ nhỏ hình bầu dục giữa hai nếp gấp. Những chiếc càng cua đỏ rực nhô ra khỏi đĩa; những chùm hoa quả tươi ngon trong giỏ đan được chất đống trên lớp rêu xanh; những con chim cút nằm nguyên bộ lông; làn khói mỏng nghi ngút bay lên; và trong trang phục tất lụa, quần lửng tới gối, khăn cổ trắng cùng áo sơ mi diềm xếp nếp, ngài quản gia với vẻ mặt nghiêm nghị như một vị thẩm phán, mang những món ăn đã được cắt thái sẵn đi qua sau lưng các vị khách, chỉ với một cái khẽ chạm của chiếc thìa là gắp cho bạn miếng thịt đã chọn. Trên chiếc lò sưởi lớn bằng sứ khảm các thanh đồng, bức tượng một người phụ nữ với lớp áo choàng kín cổ đứng bất động nhìn ngắm căn phòng tràn đầy sức sống.
Madame Bovary nhận thấy có rất nhiều quý bà đã không đặt găng tay của họ vào trong ly.
Thế nhưng, ở đầu trên của bàn tiệc, lạc lõng giữa biết bao phụ nữ, một cụ già đang còng lưng bên đĩa thức ăn đầy ắp với chiếc khăn ăn buộc quanh cổ trông như một đứa trẻ, vừa ăn vừa để những giọt nước sốt rỏ tong tỏng xuống miệng. Đôi mắt cụ đỏ ngầu, mái tóc buộc thành một chùm đuôi sam nhỏ thắt dải băng đen. Đó chính là cha vợ của vị Hầu tước, cụ Công tước già de Laverdiere, người từng là sủng thần của Bá tước d’Artois thời kỳ những buổi đi săn của dòng họ Vaudreuil tại lâu đài của Hầu tước de Conflans, và người ta đồn rằng cụ từng là tình nhân của Hoàng hậu Marie Antoinette, khoảng thời gian giữa ngài de Coigny và ngài de Lauzun. Cụ đã trải qua một cuộc đời ăn chơi trác táng ồn ào, ngập tràn những trận đấu tay đôi, các cuộc cá cược và những vụ trốn theo tình nhân; cụ đã nướng sạch gia tài và khiến cả gia tộc phải khiếp sợ. Phía sau ghế cụ, một tên gia nhân phải rướn người gọi lớn vào tai cụ tên những món ăn mà cụ lắp bắp chỉ tay vào, và ánh mắt Emma cứ vô tình hướng về cụ già có đôi môi trễ xuống ấy, tựa như đang nhìn một sinh vật kỳ lạ nào đó từng sống chốn hoàng cung và từng ngủ trên chiếc giường của các bậc hoàng hậu!
Rượu sâm-panh ướp lạnh được rót ra. Emma thấy toàn thân rùng mình khi cảm nhận vị lạnh ngắt trên vòm miệng. Cô chưa từng nhìn thấy quả lựu cũng như chưa từng nếm qua quả dứa. Ngay cả thứ đường xay trắng mịn cũng khiến cô cảm thấy trắng tinh và mịn màng hơn bất cứ nơi nào khác.
Sau bữa ăn, các quý bà lui về phòng riêng để chuẩn bị cho buổi vũ hội.
Emma sửa soạn trang phục với sự tỉ mỉ khắt khe chẳng khác nào một nữ diễn viên trong đêm diễn đầu đời. Cô làm tóc theo đúng chỉ dẫn của thợ uốn, rồi mặc chiếc váy vải bạt mỏng manh đang trải sẵn trên giường.
Chiếc quần âu của Charles bị chật ở phần bụng.
— Dây chun đạp dưới ống quần của anh có lẽ sẽ hơi vướng víu khi khiêu vũ đấy, — anh nói.
— Khiêu vũ cơ à? — Emma nhắc lại bằng giọng ngạc nhiên.
— Đúng vậy!
— Ôi trời, chắc anh điên mất rồi! Người ta sẽ cười vào mặt anh đấy; cứ ngồi yên một chỗ đi. Vả lại, làm bác sĩ thì nên giữ chừng mực hơn, — cô nói thêm.
Charles im lặng. Anh đi đi lại lại trong phòng chờ Emma trang điểm xong.
Anh ngắm nhìn bóng cô trong chiếc gương đặt giữa hai ngọn đèn. Đôi mắt đen của cô lúc này trông càng thêm phần thăm thẳm. Mái tóc uốn lượn ôm sát đôi tai ánh lên sắc xanh huyền ảo; một bông hồng cài trên búi tóc khẽ rung rinh trên cuống hoa mềm mại, điểm những giọt sương nhân tạo lấp lánh trên đầu lá. Cô mặc chiếc váy màu vàng nhạt trang trí bằng ba chùm hoa hồng pompon xen lẫn lá xanh.
Charles bước đến đặt một nụ hôn lên vai cô.
— Thôi đi anh! — cô lùi lại nói; — anh làm nhàu hết cả váy của em rồi kìa.
Tiếng vĩ cầm rộn rã vang lên cùng những nốt kèn rền vang. Cô bước xuống lầu, cố kìm nén sự nôn nóng muốn chạy thật nhanh.
Buổi khiêu vũ đã bắt đầu. Khách khứa kéo đến mỗi lúc một đông. Khung cảnh bắt đầu chen chúc.
Cô ngồi xuống một chiếc ghế dài gần cửa ra vào.
Khi điệu quadrille vừa dứt, sàn nhảy tràn ngập những nhóm đàn ông đứng tụm lại trò chuyện cùng các gia nhân mặc áo livery tay bồi những chiếc khay lớn. Dọc theo hàng ghế của các quý bà, những chiếc quạt giấy vẽ tranh phất phơ chuyển động, những bó hoa che khuất một nửa gương mặt đang mỉm cười, và những lọ nước hoa nút vàng được xoay chuyển trong lòng bàn tay khép hờ, nơi đôi găng tay trắng ôm sát từng đường nét móng tay và xiết nhẹ lấy cổ tay. Những đường viền ren, trâm cài ngọc bích, vòng tay có huy hiệu khẽ rung rinh trên những chiếc áo chẽn, lấp lánh trước ngực và chạm khẽ vào đôi tay trần.
Mái tóc được chải chuốt mượt mà qua hai bên thái dương và búi gọn sau gáy, được tô điểm bằng những vòng hoa, chùm hoa hoặc nhành hoa lưu ly, hoa nhài, hoa lựu, những bông lúa mì và hoa ngô. An nhiên ngồi thẳng lưng trên ghế, những bà mẹ với vẻ mặt nghiêm nghị đang đội những chiếc khăn turban đỏ rực.
Trái tim Emma đập nhanh hơn một chút khi người bạn nhảy nắm lấy đầu ngón tay cô, kéo cô vào vị trí đứng ngang hàng với những người khiêu vũ và chờ đợi nốt nhạc đầu tiên vang lên. Thế nhưng sự xao xuyến ấy nhanh chóng tan biến, và theo nhịp điệu đung đưa của dàn nhạc, cô uyển chuyển lướt tới cùng những cái nghiêng đầu duyên dáng. Một nụ cười nở trên môi cô trước những giai điệu thanh tao của chiếc vĩ cầm, thỉnh thoảng cất lên đơn độc trong lúc các nhạc cụ khác ngừng bấy; người ta có thể nghe thấy tiếng đồng louis va vào nhau lách cách rõ mồn một từ những bàn chơi bài ở căn phòng bên cạnh; rồi tất cả bỗng đồng loạt hòa tấu trở lại, chiếc kèn piston vang lên những âm thanh trầm hùng, những đôi chân dậm nhịp theo tiết tấu, những tà váy phồng lên và xào xạc, bàn tay chạm rồi buông; và ánh mắt vừa cúi xuống tránh né lúc nãy lại ngước lên chạm vào mắt bạn.
Một vài quý ông (khoảng mười lăm người), độ tuổi từ hai mươi lăm đến bốn mươi, đứng rải rác đây đó giữa những người khiêu vũ hoặc trò chuyện ở các khung cửa, nổi bật hẳn lên giữa đám đông nhờ phong thái lịch lãm đặc trưng, dẫu cho tuổi đời, trang phục hay dung mạo của họ có khác nhau.
Trang phục của họ được may đo tinh tế hơn, dường như làm từ chất loại vải thượng hạng hơn, và mái tóc chải chệch về phía thái dương thì bóng mượt bởi thứ sáp thơm hảo hạng. Họ mang nước da của sự giàu sang — thứ nước da trong trẻo được tôn lên bởi sắc tái của đồ sứ, độ óng ả của lụa là, lớp sơn mài của những món đồ cổ, và được duy trì ở phong độ đỉnh cao nhờ một chế độ sinh hoạt điều độ với những dinh dưỡng tinh túy nhất. Cổ của họ cử động thoải mái trong những chiếc khăn quàng thấp bản, phần mai tóc dài rủ xuống cổ áo bẻ gập, họ lau miệng bằng những chiếc khăn tay thêu chữ cái đầu phát ra thứ hương thơm thoang thoảng. Những ai bắt đầu có tuổi vẫn phảng phất nét trẻ trung, trong khi ở gương mặt của những người trẻ lại ẩn chứa sự chín chắn trước tuổi. Đằng sau ánh nhìn dửng dưng ấy là sự điềm tĩnh của những dục vọng được thỏa mãn mỗi ngày, và xuyên qua mọi cử chỉ tao nhã ấy vẫn lấp ló nét thô bạo kỳ lạ, hệ quả của một cuộc sống quen bề trên với những thứ dễ dãi, nơi sức mạnh được rèn giũa và sự kiêu hãnh được mua vui — chẳng hạn như việc thuần dưỡng những con ngựa thuần chủng hay qua lại với những ả phụ nữ lẳng lơ.
Cách chỗ Emma ngồi vài bước chân, một quý ông mặc áo khoác xanh đang bàn luận về nước Ý với một thiếu nữ da tái nhợt đeo bộ trang sức bằng ngọc trai.
Họ đang ca ngợi độ hoành tráng của những hàng cột ở thánh đường St. Peter, vùng Tivoli, núi lửa Vesuvius, Castellamare và Cassines, những đóa hồng thành Genoa, hay đấu trường Colosseum dưới ánh trăng. Bằng chiếc tai bên kia, Emma đang lắng nghe một cuộc trò chuyện ngập tràn những từ ngữ mà cô chẳng thể hiểu nổi. Một đám đông đang quây quần quanh một thanh niên trẻ tuổi, người mà tuần trước đã vượt qua “Miss Arabella” và “Romolus” để giành lấy hai nghìn đồng louis nhờ cú nhảy qua một con mương ở Anh. Người này than phiền rằng những con ngựa đua của anh ta đang ngày một béo lên; người kia thì cằn nhằn về những lỗi in ấn đã làm sai lệch tên chú chiến mã của mình.
Bầu không khí trong phòng khiêu vũ trở nên ngột ngạt; những ngọn đèn bắt đầu mờ dần.
Khách khứa ùn ùn kéo sang phòng bida. Một tên gia nhân trèo lên ghế rồi đập vỡ các ô cửa kính. Giữa tiếng kính vỡ leng keng, Madame Bovary quay đầu lại và nhìn thấy qua khung cửa sổ những gương mặt nông dân đang áp sát vào kính để tò mò ngắm nhìn bên trong. Ngay khoảnh khắc ấy, ký ức về vùng Bertaux bỗng ùa về trong tâm trí cô. Cô lại nhìn thấy trang trại xưa, cái ao bùn lầy, người cha mặc áo blouse đứng dưới những gốc cây táo, và cô lại thấy chính mình của những ngày tháng cũ, dùng ngón tay vớt lớp váng sữa trên những chiếc chậu trong phòng chứa sữa. Thế nhưng, giữa hào quang rực rỡ của hiện tại, cuộc sống quá khứ vốn từng rất rõ nét ấy bỗng phai nhạt hoàn toàn, khiến cô suýt hoài nghi liệu mình có từng sống qua quãng đời đó hay không. Cô đang ở đây; ngoài không gian dạ vũ này ra, vạn vật chỉ còn là bóng tối phủ trùm lên tất cả. Cô đang thưởng thức món kem rượu maraschino, tay trái cầm chiếc cốc mạ bạc, đôi mắt nhắm hờ và chiếc thìa ngậm hờ trong kẽ răng.
Một quý bà ngồi gần đó đánh rơi chiếc quạt. Một quý ông đang đi ngang qua.
— Ngài có phiền không, — quý bà nọ lên tiếng, — khi nhặt giúp tôi chiếc quạt vừa rơi xuống phía sau chiếc ghế sofa với ạ?
Vị quý ông cúi đầu, và khi ông ta cử động để vươn tay ra, Emma nhìn thấy bàn tay của một thiếu nữ vừa ném thứ gì đó màu trắng, được gấp thành hình tam giác, vào trong chiếc mũ chóp của ông ta. Vị quý ông nhặt chiếc quạt lên, cung kính trao trả cho quý bà; bà khẽ gật đầu cảm ơn rồi đưa bó hoa lên mũi hít hà.
Sau bữa tiệc khuya tràn ngập các loại rượu vang Tây Ban Nha và sông Rhine, các món súp à la bisque và súp sữa hạnh nhân, bánh pudding à la Trafalgar, cùng đủ loại thịt nguội ăn kèm thạch rung rinh trong đĩa, từng chiếc xe ngựa lần lượt lăn bánh rời đi. Hé mở các góc rèm muslin, người ta có thể nhìn thấy ánh đèn lồng của xe nhấp nháy xuyên qua màn đêm. Những hàng ghế bắt đầu thưa vắng, một vài người chơi bài vẫn nán lại; các nhạc công đang dùng lưỡi để làm mát đầu ngón tay. Charles đang ngủ gật, lưng tựa vào cánh cửa.
Vào lúc ba giờ sáng, điệu khiêu vũ cotillion bắt đầu. Emma không biết cách khiêu vũ waltz. Mọi người đều đang say sưa nhún nhảy, ngay cả tiểu thư d’Andervilliers và vị Hầu tước; lúc này chỉ còn lại những vị khách lưu trú tại lâu đài, chừng mười mấy người.
Tuy nhiên, một trong những vũ công nam thường được gọi thân mật là Tử tước, với chiếc áo ghi-lê xẻ ngực sâu ôm sát lồng ngực, lại tiến đến lần thứ hai để mời Madame Bovary khiêu vũ, đồng thời trấn an rằng ông sẽ dìu dắt cô và cô sẽ hoàn thành rất tốt.
Họ bắt đầu chậm rãi, rồi chuyển sang nhịp điệu nhanh hơn. Họ xoay tròn; vạn vật xung quanh đều đang quay cuồng — những ngọn đèn, đồ đạc, những bức vách ốp gỗ, sàn nhà, tựa như một chiếc đĩa trên trục quay. Khi lướt qua những khung cửa, tà váy của Emma vướng vào quần của bạn nhảy.
Đôi chân họ quấn quýt lấy nhau; ông cúi xuống nhìn cô, còn cô ngước mắt nhìn lên ông. Một cảm giác tê dại trùm lấy cô; cô khựng lại. Họ lại bắt đầu, với những chuyển động dồn dập hơn; vị Tử tước ôm lấy cô kéo đi và biến mất về phía cuối hành lang, nơi cô thở dốc, suýt ngã quỵ và trong chốc lát đã tựa đầu lên ngực ông. Và rồi, vẫn trong nhịp xoay tròn ấy nhưng chậm rãi hơn, ông dìu cô trở về chỗ ngồi. Cô ngả lưng vào tường và đưa tay che đôi mắt lại.
Khi cô mở mắt ra lần nữa, giữa phòng khách có ba vũ công nam đang quỳ một chân trước một quý bà ngồi trên chiếc ghế đẩu.
Cô chọn vị Tử tước, và tiếng vĩ cầm lại một lần nữa vang lên.
Mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía họ. Họ lướt qua lướt lại, cô với thân hình cứng đờ, cằm cúi thấp, còn ông vẫn giữ nguyên một tư thế ấy: dáng người uốn cong, khuỷu tay khum lại, cằm chườm về phía trước. Người phụ nữ ấy thật biết khiêu vũ! Họ duy trì nhịp điệu ấy trong suốt một khoảng thời gian dài, khiến tất cả những người khác phải kiệt sức.
Sau đó, họ trò chuyện thêm vài phút nữa, và sau những lời chúc ngủ ngon, hay đúng hơn là chúc buổi sáng tốt lành, các vị khách của lâu đài lui về phòng nghỉ.
Charles lê lết bước lên cầu thang bằng cách bám vào tay vịn. Đôi đầu gối của anh như muốn "rệu rã cả vào trong bụng". Anh đã trải qua năm tiếng đồng hồ liên tục đứng thẳng như trời trồng bên cạnh các bàn chơi bài, chăm chú nhìn họ đánh bài whist mà chẳng hiểu nổi một chút gì, và anh trút một tiếng thở phào nhẹ nhõm vô tận khi tự tay tháo đôi bốt ra.
Emma khoác vạt khăn choàng lên vai, mở tung cửa sổ và rướn người ra ngoài.
Đêm tối mịt mùng; vài hạt mưa đang lất phất rơi. Cô hít đẫm lồng ngực làn gió ẩm ướt mang lại cảm giác dịu mát cho đôi mi mắt. Âm nhạc của buổi dạ vũ vẫn văng vẳng bên tai cô. Và cô cố gắng cưỡng lại cơn buồn ngủ để kéo dài ảo ảnh về cuộc sống xa hoa mà chẳng mấy chốc cô sẽ phải từ bỏ.
Bình minh bắt đầu ló rạng. Cô đăm đăm nhìn vào những ô cửa sổ của lâu đài, cố đoán xem đâu là phòng của những người mà cô đã để ý vào tối hôm trước. Cô rất muốn thấu hiểu cuộc đời họ, xâm nhập và hòa quyện vào thế giới ấy. Thế nhưng cái lạnh khiến cô run rẩy. Cô cởi đồ, rúc mình vào giữa lớp chăn sát bên Charles đang say ngủ.
Bữa trưa có rất đông người tham dự. Bữa ăn chỉ kéo dài trong mười phút; không có rượu khai vị nào được dọn ra, điều đó khiến viên bác sĩ vô cùng ngạc nhiên.
Tiếp đó, tiểu thư d’Andervilliers gom nhặt vài mẩu bánh mì vụn vào chiếc giỏ nhỏ để đem cho bấy thiên nga trên hồ nhân tạo, rồi mọi người cùng đi dạo trong các nhà kính, nơi những loài thực vật kỳ lạ mọc tua tủa lông lá vươn lên thành từng cụm hình tháp dưới những chiếc giỏ treo, từ đó – tựa như những tổ rắn đầy ắp – rủ xuống những sợi dây leo màu xanh đan xen chằng chịt. Khu vườn ươm cam nằm ở phía bên kia được nối liền với khu nhà phụ của lâu đài thông qua một lối đi có mái che. Để làm vui lòng người phụ nữ trẻ, vị Hầu tước đã dẫn cô đi tham quan chuồng ngựa.
Phía trên những chiếc máng ăn hình giỏ mây, những tấm bảng sứ ghi tên những chú ngựa bằng những chữ cái màu đen. Mỗi con vật trong chuồng đều nguẩy đuôi khi có ai đó đến gần và cất tiếng “Tchk! tchk!”. Sàn gỗ trong phòng chứa yên cương sáng bóng chẳng khác nào sàn nhà của một phòng khách. Những bộ dây cương xe được chất đống ở giữa phòng, tựa vào hai chiếc cột xoắn, còn các thỏi hàm bíc, roi da, cựa ngựa và dây cương phụ được treo ngay ngắn thành hàng dọc theo suốt bức chân tường.
Trong khi đó, Charles đi tìm người hầu gác cổng để nhờ đánh xe ra. Chiếc xe dog-cart được đánh đến trước bậc thềm, và sau khi mọi bưu kiện đã được nhồi nhét đầy ắp, vợ chồng nhà Bovary chào tạm biệt vợ chồng Hầu tước rồi lên đường trở về Tostes.
Emma lặng lẽ ngắm nhìn những vòng bánh xe đang quay đều. Charles ngồi sát mép ghế, hai tay dang rộng cầm dây cương, và chú ngựa nhỏ lững thững bước đi giữa hai gọng xe quá khổ so với nó. Dây cương chùng xuống vắt ngang lưng ngựa ướt đẫm bọt mép, và chiếc cốp buộc ở phía sau xe cứ nảy lên thình thịch đều đặn theo từng nhịp chuyển động.
Họ đã đến vùng cao Thibourville thì bất chợt một nhóm kỵ mã ngậm xì gà trên môi vừa cười đùa vừa phóng qua ngang mặt. Emma ngỡ rằng mình đã nhận ra vị Tử tước, cô ngoảnh đầu nhìn lại nhưng đường chân trời chỉ còn vương lại bóng dáng những cái đầu nhấp nhô theo nhịp vó ngựa lúc phi nước đại, lúc kiệu đều.
Một dặm đường sau đó, họ buộc phải dừng lại để dùng dây thừng vá lại phần dây kéo bị đứt.
Thế nhưng, khi Charles liếc nhìn lần cuối vào bộ dây cương, anh phát hiện ra thứ gì đó nằm trên mặt đất giữa hai chân ngựa, và anh nhặt lên một chiếc hộp đựng xì gà viền lụa xanh, ở giữa có thêu gia huy hệt như cánh cửa của một cỗ xe ngựa.
— Trong này thậm chí hãy còn hai điếu xì gà, — anh nói; — chúng sẽ rất hợp để hút vào tối nay sau bữa ăn đấy chứ.
— Ơ hay, anh cũng biết hút thuốc cơ à? — cô hỏi.
— Thỉnh thoảng, nếu có dịp thuận tiện.
Anh đút món đồ vừa nhặt được vào túi áo rồi quất roi giục chú ngựa nhỏ.
Khi họ về đến nhà thì bữa tối vẫn chưa được dọn. Bà chủ nhà nổi cơn thịnh nộ. Nastasie cãi lại một cách xấc láo.
— Cút ra ngoài! — Emma quát lớn. — Mày đang quên mất thân phận của mình rồi đấy. Ta cảnh cáo mày lần cuối.
Bữa tối chỉ có món súp hành và một phần thịt bê nấu với lá chua.
Charles ngồi đối diện với Emma, tay xoa vào nhau vẻ đầy hân hoan.
— Thật là tuyệt vời khi được trở về nhà!
Người ta có thể nghe thấy tiếng Nastasie đang sụt sùi khóc ngoài kia. Anh vốn có chút tình cảm với cô gái tội nghiệp này. Trước kia, trong những tháng ngày góa bụa tẻ nhạt, chính cô là người đã bầu bạn với anh qua bao buổi tối. Cô từng là bệnh nhân đầu tiên, là người quen lâu năm nhất của anh tại xứ sở này.
— Em đã chính thức đuổi việc cô ấy chưa? — cuối cùng anh hỏi.
— Rồi. Ai cấm được tôi chứ? — cô đáp gọn lỏn.
Sau đó, họ xuống nhà bếp sưởi ấm trong lúc phòng của họ đang được dọn dẹp. Charles bắt đầu châm xì gà. Anh hút với đôi môi chúm chím, liên tục nhổ nước bọt và giật mình lùi lại sau mỗi hơi rít.
— Anh sắp làm mình ngã bệnh đấy thôi, — cô nói với giọng đầy khinh bỉ.
Anh đặt điếu xì gà xuống và chạy bổ đi uống một ly nước lạnh ở vòi bơm. Emma nhanh tay vớ lấy chiếc hộp đựng xì gà rồi quăng thật sâu vào góc khuất trong tủ.
Ngày hôm sau là một ngày dài đằng đẵng. Cô thẩn thơ đi dạo trong khu vườn nhỏ, qua lại trên những lối đi quen thuộc, dừng chân trước những bồn hoa, trước giàn cây leo, trước bức tượng vị linh mục bằng thạch cao, ngắm nhìn với vẻ ngỡ ngàng tất cả những sự vật từ thuở nào mà cô vốn thuộc nằm lòng. Cảm giác sao mà xa xôi thay buổi dạ vũ vừa qua! Thứ gì đã tạo ra khoảng cách lớn lao nhường ấy giữa buổi sáng của ngày hôm kia và buổi tối của ngày hôm nay cơ chứ? Chuyến đi đến Vaubyessard đã khoét sâu vào cuộc đời cô một khoảng trống, hệt như những vết nứt khổng lồ mà cơn bão thường tạo ra chỉ trong một đêm trên những sườn núi. Dù vậy, cô vẫn chọn cách nhẫn nhịn. Cô cung kính cất kỹ chiếc váy lộng lẫy vào trong ngăn kéo, xuống đến cả đôi giày satin có phần đế đã ngả sang màu vàng bởi lớp sáp bóng trơn trượt trên sàn nhảy. Trái tim cô cũng hệt như những món đồ ấy. Trong lần cọ xát với sự giàu sang phú quý, nó đã vương vấn một thứ bụi trần chẳng thể nào xóa nhòa.
Kỷ niệm về buổi vũ hội ấy từ đó trở thành một nỗi bận tâm thường trực trong tâm trí Emma.
Mỗi khi thứ Tư đến, cô lại tự nhủ khi vừa tỉnh giấc: “Ôi! Mình đã ở đó cách đây một tuần — nửa tháng — ba tuần trước rồi sao.”
Và rồi từng chút một, những gương mặt ấy dần phai mờ trong ký ức của cô.
Cô quên mất giai điệu của các điệu nhảy quadrille; cô không còn nhìn rõ những bộ áo livery hay trang thiết bị tươm tắt ấy nữa; một vài chi tiết cứ thế rơi rớt dần, thế nhưng niềm tiếc nuối thì vẫn mãi ở lại trong cô.