Ngày hôm sau đối với Emma là một khoảng thời gian ảm đạm. Mọi thứ đối với nàng dường như chìm trong một màn sương đen bao phủ hỗn độn quanh thế giới bên ngoài, và nỗi buồn ngập tràn trong tâm hồn nàng với những tiếng rên rỉ nhẹ nhàng như tiếng gió đông thổi qua những lâu đài hoang phế. Đó là thứ tâm trạng hoài niệm mà ta dành cho những điều không thể quay trở lại, sự mệt mỏi ập đến sau khi mọi việc đã hoàn tất; nói tóm lại, đó là nỗi đau do sự gián đoạn của mọi cử động thường ngày, do sự chấm dứt đột ngột của bất kỳ rung động kéo dài nào gây ra.
Cũng như khi từ Vaubyessard trở về, lúc những khúc nhạc khiêu vũ còn văng vẳng trong đầu, nàng chìm đắm trong nỗi u sầu ảm đạm và sự tuyệt vọng tê dại. Léon xuất hiện trở lại, cao hơn, đẹp trai hơn, quyến rũ hơn, mơ hồ hơn. Dù cách xa nàng, anh vẫn chưa rời bỏ nàng; anh ở đó, và những bức tường trong ngôi nhà dường như vẫn lưu giữ bóng hình anh.
Nàng không thể rời mắt khỏi tấm thảm nơi anh từng bước qua, khỏi những chiếc ghế trống nơi anh từng ngồi. Dòng sông vẫn chảy, chậm rãi đẩy những con sóng nhỏ lướt dọc theo bờ sông trơn trượt.
Họ đã từng thường xuyên đi dạo ở đó theo tiếng rì rào của sóng vỗ trên những hòn cuội phủ đầy rêu. Ánh mặt trời khi ấy mới rực rỡ làm sao! Những buổi chiều hạnh phúc biết bao mà họ từng trải qua khi ở một mình trong bóng râm cuối khu vườn! Anh đọc sách to tiếng, đầu trần, ngồi trên một chiếc đôn làm bằng cành khô; cơn gió mát từ đồng cỏ làm rung rẩy những trang sách và giàn hoa nasturtium nơi lầu vọng. A! anh đã ra đi, niềm quyến rũ duy nhất trong đời nàng, niềm hy vọng hạnh phúc duy nhất có thể có. Tại sao nàng đã không chớp lấy niềm hạnh phúc này khi nó đến với nàng? Tại sao lại không giữ lấy nó bằng cả hai tay, bằng cả hai đầu gối, khi nó sắp sửa rời bỏ nàng? Và nàng tự nguyền rủa bản thân vì đã không yêu Léon. Nàng khát khao đôi môi anh. Khao khát trỗi dậy trong nàng muốn chạy theo và đoàn tụ với anh, lao vào vòng tay anh và nói rằng: “Chính là em; em là của anh.” Nhưng Emma lại chùn bước trước những khó khăn của dự định ấy, và những khao khát của nàng, bị nhân lên bởi sự hối tiếc, lại càng trở nên nhức nhối hơn.
Từ đó về sau, ký ức về Léon trở thành trung tâm của sự chán ngường trong nàng; nó cháy bùng ở đó dữ dội hơn ngọn lửa mà những người lữ hành để lại trên tuyết ở thảo nguyên nước Nga. Nàng lao về phía anh, nàng áp sát vào anh, nàng cẩn thận khơi sục những tàn lửa sắp tắt, tìm kiếm xung quanh mọi thứ có thể làm nó hồi sinh; và cả những ký ức xa xôi nhất lẫn những dịp tình cờ ngay trước mắt, những điều nàng trải nghiệm cũng như những gì nàng tưởng tượng, những khao khát nhục cảm chưa được thỏa mãn, những dự định hạnh phúc kêu lách tách trong gió như cành khô, sự trinh bạch vô ích, những hy vọng tiêu tan, cuộc sống gia đình tẻ nhạt — nàng thu gom tất cả, lấy mọi thứ, và biến tất cả thành nhiên liệu nuôi dưỡng nỗi u sầu của mình.
Tuy nhiên, những ngọn lửa rồi cũng dịu xuống, có thể vì nguồn nhiên liệu đã cạn kiệt, hoặc vì nó đã bị chất đống quá nhiều. Tình yêu, từng chút một, bị dập tắt bởi sự xa cách; nỗi hối tiếc bị bóp nghẹt dưới lớp thói quen; và thứ ánh sáng cháy bỏng từng nhuộm hồng bầu trời nhợt nhạt của nàng dần bị che phủ và phai nhạt đi. Trong sự uể oải của lương tâm, nàng thậm chí còn nhầm lẫn sự ghê tởm đối với chồng thành niềm khát khao hướng về người tình, sự cháy bỏng của lòng hận thù thành sự ấm áp của dịu dàng; nhưng khi cơn bão vẫn hoành hành, và khi đam mê đã cháyụi đến tận tro tàn, không có sự cứu giúp nào đến, không có mặt trời nào mọc lên, bóng tối bao trùm khắp nơi, và nàng lạc lối trong cái giá lạnh khủng khiếp đang xuyên thấu cơ thể.
Thế rồi những ngày tháng khốn khổ ở Tostes lại bắt đầu. Giờ đây nàng tự thấy mình bất hạnh hơn rất nhiều; bởi nàng đã có kinh nghiệm về nỗi đau, cùng với sự chắc chắn rằng nó sẽ không bao giờ chấm dứt.
Một người phụ nữ đã tự đặt lên vai mình những sự hy sinh như thế hoàn toàn có thể cho phép bản thân một vài sở thích xa xỉ. Nàng mua một chiếc giá quỳ kiểu Gothic, và trong vòng một tháng đã chi mười bốn franc mua chanh để đánh bóng móng tay; nàng viết thư tới Rouen đặt một chiếc áo đầm bằng vải cashmere màu xanh; nàng chọn một trong những chiếc khăn choàng đẹp nhất của Lheureux, và quấn nó quanh eo đè lên chiếc áo mặc nhà; rồi với các ô cửa chớp đóng kín và cuốn sách trên tay, nàng nằm dài trên chiếc ghế bành trong bộ dạng ấy.
Nàng thường xuyên thay đổi kiểu tóc; nàng chải tóc kiểu Trung Hoa, uốn những lọn buông lơi, thắt bện thành búi; nàng rẽ ngôi lệch một bên và cuộn ngược vào trong như đàn ông.
Nàng muốn học tiếng Ý; nàng mua từ điển, một cuốn ngữ pháp và một tập giấy trắng. Nàng thử đọc những sách nghiêm túc, lịch sử và triết lý. Thỉnh thoảng vào ban đêm, Charles giật mình tỉnh giấc, tưởng rằng mình được gọi đi khám bệnh. “Anh đến đây,” anh lắp bắp; và đó chỉ là tiếng quẹt diêm mà Emma vừa đốt để thắp lại ngọn đèn. Nhưng việc đọc sách của nàng cũng chung số phận với tấm thêu dở dang nằm chật tủ; nàng cầm lên, rồi lại bỏ đó, chuyển sang những cuốn sách khác.
Nàng có những cơn bốc đồng mà nàng hoàn toàn có thể bị xúi giục làm bất kỳ điều ngu ngốc nào. Có ngày, để đối đầu với chồng, nàng cả quyết rằng mình có thể uống cạn một ly lớn rượu mạnh, và vì Charles ngốc nghếch đến mức dám thách thức, nàng đã nuốt trọn ly rượu mạnh đến giọt cuối cùng.
Bất chấp vẻ điệu đà yếu đuối của nàng (như những người phụ nữ nội trợ ở Yonville vẫn gọi), Emma rốt cuộc chẳng bao giờ tỏ ra vui vẻ, và thường thì ở khóe miệng nàng luôn có nét co cứng bất động làm nhăn nhúm khuôn mặt của những phụ nữ độc thân lớn tuổi và những người đàn ông có tham vọng thất bại. Trắng bệch toàn thân, trắng nhợt như tờ giấy; làn da ở cánh mũi nàng co rút lại, đôi mắt nhìn chừng vô định. Sau khi phát hiện ra ba sợi tóc bạc bên thái dương, nàng nói rất nhiều về tuổi già của mình.
Nàng thường xuyên ngất xỉu. Có hôm nàng thậm chí còn ho ra máu, và khi Charles quẩn quanh bên nàng tỏ vẻ lo lắng—
“Thôi đi!” nàng đáp, “có hề gì đâu?”
Charles chạy trốn vào phòng làm việc và khóc ở đó, hai khuỷu tay tì lên bàn, ngồi trên chiếc ghế bành đặt cạnh bàn giấy ngay dưới bức tượng sọ học.
Rồi anh viết thư cho mẹ giục bà đến, và họ đã có rất nhiều cuộc bàn bạc dài dòng với nhau về chủ đề Emma.
Họ nên quyết định thế nào? Phải làm gì khi nàng từ chối mọi phương pháp điều trị y tế? “Con có biết vợ con muốn gì không?” bà mẹ chồng đáp.
“Nó muốn được bắt buộc phải bận rộn với một công việc chân tay nào đó. Nếu nó cũng phải bận rộn kiếm sống giống như bao người khác, nó sẽ không có những cơn u uất ấy, thứ sinh ra từ hàng đống ý tưởng nhảm nhí mà nó nhồi nhét vào đầu, và từ sự nhàn rỗi mà nó đang sống.”
“Nhưng lúc nào cô ấy cũng bận rộn mà,” Charles nói.
“A! lúc nào bận rộn cái gì cơ chứ? Đọc tiểu thuyết, những cuốn sách tồi tệ, những tác phẩm chống lại tôn giáo, trong đó họ chế nhạo các linh mục bằng những lời lẽ lấy từ Voltaire. Nhưng tất cả những thứ đó sẽ dẫn con đi lạc lối rất xa, đứa con tội nghiệp của mẹ. Bất cứ kẻ nào không có tôn giáo cuối cùng cũng sẽ chuốc lấy kết cục tồi tệ mà thôi.”
Thế là họ quyết định cấm Emma đọc tiểu thuyết. Việc này xem ra không dễ dàng. Người phụ nữ phúc hậu ấy nhận lấy trách nhiệm. Khi đi qua Rouen, bà sẽ tự mình ghé qua thư viện cho thuê sách và thông báo rằng Emma đã ngừng thuê bao. Chẳng lẽ họ không có quyền nhờ cảnh pháp can thiệp nếu người thủ thư vẫn cố chấp tiếp tục cái nghề đầu độc đầu óc người khác đó sao? Lời chia tay giữa mẹ chồng và nàng dâu thật lạnh nhạt. Suốt ba tuần ở cùng nhau, họ không trao đổi nổi nửa tá câu ngoài những lời thăm hỏi và câu khách sáo khi gặp nhau bên bàn ăn và buổi tối trước khi đi ngủ.
Bà Bovary rời đi vào một ngày thứ Tư, đúng ngày chợ phiên ở Yonville.
Quảng trường từ sáng sớm đã bị chặn kín bởi một hàng xe bò, với phần đuôi dựng ngược và càng chĩa lên trời, trải dài dọc theo dãy nhà từ nhà thờ cho đến quán trọ. Phía bên kia là những gian hàng vải bạt, nơi người ta bày bán vải ca-rô cotton, chăn mền, tất len, cùng với dây cương ngựa và những dải ruy-băng xanh có phần đầu bay phần phật trong gió. Đồ kim khí thô ráp được bày la liệt trên mặt đất xen giữa những chóp trứng cao và những giỏ phô mai từ đó những cọng rơm dính nhầy nhụa đâm ra ngoài.
Gần những cỗ máy tuốt lúa, những con gà đang cục tác thò cổ qua các thanh của lồng phẳng. Dám đông chen lấn ở cùng một chỗ và không chịu di chuyển, thỉnh thoảng lại đe dọa đập phá mặt tiền cửa hiệu của viên dược sĩ. Vào các ngày thứ Tư, cửa hiệu của ông ta chưa bao giờ ngớt khách, và người ta kéo vào ít phải để mua thuốc mà chủ yếu là để xin tư vấn. Tiếng tăm của Homais lớn đến mức lan rộng ra cả các làng lân cận. Sự tự tin đầy mạnh mẽ của ông ta đã mê hoặc những kẻ nhà quê. Họ coi ông ta còn giỏi hơn tất cả các bác sĩ.
Emma đang tì người ra cửa sổ; nàng vẫn thường đứng đó ở vị trí ấy. Cửa sổ ở vùng tỉnh lẻ thay thế cho nhà hát và buổi đi dạo, nàng đang tự giải trí bằng cách ngắm nhìn đám đông thô kệch thì nhìn thấy một quý ông mặc áo khoác nhung xanh. Ông ta mang găng tay vàng, dẫu đi đôi giày ống nặng nề; ông ta đang tiến về phía nhà bác sĩ, theo sau là một nông dân đang đi với cái đầu cúi gằm và vẻ mặt đầy đăm chiêu.
“Tôi có thể gặp bác sĩ không?” ông ta hỏi Justin, người đang đứng nói chuyện ở bậc cửa với Félicité, và tưởng lầm cậu ta là người hầu trong nhà —“Hãy nói với ông ấy rằng Ngài Rodolphe Boulanger ở La Huchette đã đến.”
Không phải vì thói kiêu ngạo địa vị mà vị khách mới đến lại thêm từ “ở La Huchette” vào tên mình, mà là để cho người ta dễ nhận ra hơn.
Thực chất, La Huchette là một điền trang gần Yonville, nơi ông ta vừa mua lại lâu đài cùng hai trang trại để tự mình canh tác, dẫu chẳng bận tâm mấy đến chúng. Ông ta sống độc thân, và được cho là có “ít nhất mười lăm nghìn franc một năm.”
Charles bước vào phòng. Ngài Boulanger giới thiệu người tùy tùng của mình, kẻ đang muốn được trích huyết vì cảm thấy “ngứa râm ran khắp người.”
“Thế mới thanh lọc được cơ thể tôi,” gã khăng khăng như một lý do bác bỏ mọi lời giải thích.
Thế là Bovary bảo lấy một dải băng vải và cái chậu, rồi bảo Justin cầm lấy. Sau đó quay sang người nông dân vốn đã tái mặt—
“Đừng sợ, anh bạn trẻ.”
“Không, không, thưa ngài,” người kia nói; “cứ làm đi.”
Và với vẻ ngoài bất chấp, hắn chìa cánh tay lực lưỡng ra. Ngay khi mũi kim chích vào, máu phụt ra, bắn cả lên tấm gương soi.
“Giữ cái chậu sát vào đây hơn chứ,” Charles kêu lên.
“Ối trời!” người nông dân thốt lên, “cứ như thể có một đài phun nước nhỏ đang chảy ấy nhỉ. Máu tôi đỏ thế cơ mà! Đó là điềm lành phải không thưa bác sĩ?”
“Đôi khi,” bác sĩ đáp, “ban đầu người ta chẳng cảm thấy gì, rồi cơn ngất xỉu mới ập đến, nhất là đối với những người có thể tạng cường tráng như anh này.”
Nghe những lời đó, gã nhà quê liền buông chiếc hộp đựng kim chích mà hắn đang xoắn xoắn giữa các ngón tay. Một cái rùng mình qua đôi vai khiến phần tựa lưng ghế kêu cót két. Chiếc mũ của hắn rơi xuống.
“Tôi đã nghĩ thế mà,” Bovary nói, ấn ngón tay lên tĩnh mạch.
Cái chậu bắt đầu run lên trong tay Justin; đầu gối cậu ta lẩy bẩy, mặt tái mét.
“Emma! Emma!” Charles gọi.
Chỉ với một bước nhảy, nàng lao xuống cầu thang.
“Lấy giấm đi,” ông kêu lên. “Trời ơi! hai người ngất một lúc!”
Và trong cơn hoảng hốt, anh suýt chẳng thể quấn nổi miếng gạc.
“Không có gì đâu,” Ngài Boulanger điềm tĩnh nói, đỡ lấy Justin trong vòng tay. Ông đặt cậu ta ngồi lên bàn với phần lưng tựa vào tường.
Bà Bovary bắt đầu tháo chiếc cà vạt cho cậu ta. Dây áo sơ mi đã bị thắt nút, và nàng đã mất vài phút xoay sở đôi ngón tay thon thả quanh cổ cậu thanh niên. Sau đó nàng nhỏ một ít giấm vào chiếc khăn tay bằng vải cambric; nàng chấm nhẹ lên thái dương cho cậu ta, rồi thổi nhẹ lên đó. Người thợ cày đã tỉnh lại, nhưng cơn ngất của Justin vẫn kéo càu, và đôi tròng mắt của cậu ta thụt lùi vào phần lòng trắng nhợt nhạt như những bông hoa xanh trong dòng sữa.
“Chúng ta phải giấu chuyện này đi không cho nó thấy,” Charles nói.
Bà Bovary cầm lấy cái chậu để đặt xuống dưới gầm bàn. Theo cử động cúi người ấy, chiếc váy của nàng (đó là một chiếc váy mùa hè với bốn tầng nhún, màu vàng, eo dài và chân váy rộng) xòe rộng ra xung quanh trên nền gạch của căn phòng; và khi Emma cúi xuống, nàng hơi lảo đảo lúc duỗi hai tay ra.
“Thế rồi” tấm vải chỗ nọ chỗ kia chuyển động theo những đường cong của lồng ngực nàng.
Sau đó nàng đi lấy một chai nước, và đang hòa tan vài viên đường thì vị dược sĩ bước vào. Người đầy xớ đã chạy đi gọi ông ta trong lúc hỗn loạn. Nhìn thấy đôi mắt trợn ngược của học trò, ông ta hít một hơi thật dài; rồi đi vòng quanh xem xét cậu ta từ đầu đến chân.
“Đồ ngốc!” ông ta nói, “thực sự là một tên ngốc nhỏ! Một đứa ngốc bốn chữ! Việc chích máu mà cũng là chuyện lớn lắm chắc! Thế mà lại là kẻ chẳng sợ thứ gì; một dạng sóc trèo cây, y như kẻ leo lên những đỉnh cao chóng mặt để rung cây hái hạt dẻ vậy. Ơ hay! anh cứ nói chuyện với tôi xem, cứ khoe khoang bản thân đi xem nào! Đây chính là cái sự chuẩn bị tuyệt vời để hành nghề dược sĩ sau này đấy; bởi vì trong những hoàn cảnh nghiêm trọng, anh có thể bị triệu tập trước tòa án để làm sáng tỏ đầu óc cho các quan tòa, và lúc đó anh sẽ phải giữ cho được cái đầu lạnh, phải biết suy luận, thể hiện mình là một người đàn ông, bằng không sẽ biến thành một tên đần độn.”
Justin không đáp. Vị dược sĩ tiếp tục—
“Ai bảo mày đến đây? Mày lúc nào cũng làm phiền bác sĩ và phu nhân. Hơn nữa, vào ngày thứ Tư, sự có mặt của mày là không thể thiếu đối với ta. Có tới hai mươi người đang ở trong cửa hiệu kìa. Ta đã bỏ bê tất cả chỉ vì lòng quan tâm dành cho mày. Thôi, biến đi! Nhanh lên! Chờ ta ở đó, và trông chừng mấy cái lọ đấy.”
Khi Justin, người đang chỉnh trang lại trang phục, đã rời đi, họ trò chuyện một lát về những cơn ngất xỉu. Bà Bovary chưa từng ngất xỉu bao giờ.
“Thật là phi thường đối với một quý cô,” Ngài Boulanger nói; “nhưng một số người rất nhạy cảm. Chẳng hạn trong một trận đấu súng tay đôi, tôi từng thấy một người làm chứng ngất xỉu chỉ vì nghe tiếng nạp đạn súng lục.”
“Phần tôi mà nói,” vị dược sĩ bảo, “cảnh tượng máu của người khác chẳng hề ảnh hưởng gì đến tôi cả, nhưng chỉ cần nghĩ đến máu của chính mình chảy ra thôi là tôi đã có thể ngất xỉu rồi nếu suy nghĩ về nó quá nhiều.”
Tuy nhiên, Ngài Boulanger cũng cho người tùy tùng lui ra, khuyên gã nên bình tĩnh lại vì cơn cuồng dã của hắn đã qua.
“Nó mang lại cho tôi lợi thế là được làm quen với quý vị,” ông nói thêm, và nhìn Emma khi cất lời. Sau đó ông đặt ba franc lên góc bàn, cúi đầu hờ hững rồi bước ra ngoài.
Chẳng mấy chốc ông đã ở bên kia sông (đó là đường về La Huchette), và Emma nhìn thấy ông trên đồng cỏ, đi dạo dưới hàng cây dương, thỉnh thoảng lại giảm tốc độ như một kẻ đang suy ngẫm.
“Nàng rất đẹp,” ông tự nhủ; “nàng rất đẹp, vợ của tay bác sĩ này. Răng đẹp, mắt đen, bàn chân nhỏ nhắn, dáng người như phụ nữ Paris. Quái quỷ thật, nàng ta từ đâu tới nhỉ? Tay béo ú kia đã vớ lấy nàng ở xó xỉnh nào chứ?”
Ngài Rodolphe Boulanger ba mươi bốn tuổi; ông ta có bản tính thô bạo và sự nhạy bén thông minh, hơn nữa lại từng qua lại với nhiều phụ nữ và hiểu rõ về họ. Người phụ nữ này đã lọt vào mắt xanh của ông; thế nên ông đang nghĩ về nàng và người chồng của nàng.
“Tôi nghĩ hắn ta cực kỳ ngốc nghếch. Chắc chắn nàng đã chán ngấy hắn rồi. Móng tay hắn bẩn thỉu, và ba ngày nay chưa cạo râu. Trong lúc hắn lăng xăng chạy theo những bệnh nhân, nàng ngồi đó vá tất rách. Và nàng thấy chán ngươn ngớt! Nàng muốn sống ở thành phố và khiêu vũ điệu polka mỗi tối. Tội nghiệp người phụ nữ nhỏ bé! Nàng đang khát khao tình yêu như con cá chép trên thớt khát nước. Chỉ với ba lời ngọt ngào là nàng sẽ tôn sùng người ta ngay, tôi chắc chắn thế. Nàng sẽ dịu dàng, quyến rũ biết bao. Phải; nhưng làm thế nào để vứt bỏ nàng ta sau đó đây?”
Rồi những khó khăn của chuyện yêu đương nhìn từ khoảng cách xa khiến ông ta liên tưởng đến tình nhân của mình. Cô ta là một nữ diễn viên ở Rouen do ông chu cấp; và khi ông ngẫm nghĩ về hình ảnh đó, thứ mà ngay cả trong ký ức cũng khiến ông thấy ngấy tận cổ—
“A! Bà Bovary,” ông nghĩ, “đẹp hơn rất nhiều, nhất là tươi trẻ hơn. Con mụ Virginie quả thực bắt đầu béo lên rồi. Cô ta thật khó tính trong chuyện hưởng thụ; và hơn nữa, lại có cái tật mê tôm biển.”
Đồng ruộng vắng tanh, và xung quanh Rodolphe chỉ nghe thấy tiếng động đều đặn của ngọn cỏ đập vào đôi giày ủng của mình, cùng tiếng kêu của loài cào cào ẩn mình đâu đó xa xa giữa những luống yến mạch. Ông lại nhìn thấy Emma trong căn phòng của nàng, ăn mặc như khi ông vừa gặp, và ông cởi bỏ xiêm y của nàng trong tâm trí.
“Ôi, ta sẽ chiếm được nàng,” ông thốt lên, vung gậy đập mạnh vào một cục đất trước mặt. Và ông lập tức bắt đầu tính toán phần chiến lược cho chiến dịch. Ông tự hỏi—
“Chúng ta sẽ gặp nhau ở đâu? Bằng cách nào? Lúc nào chúng ta cũng sẽ vướng phải con nhóc kia, rồi người hầu, hàng xóm, và cả ông chồng nữa, đủ loại phiền toái. Thôi đi! Người ta sẽ mất quá nhiều thời gian vì nó mất.”
Rồi ông lại tự nhủ, “Nàng thực sự có đôi mắt xuyên thủng trái tim người ta như cái khoan. Và làn thứ da tái nhợt ấy! Ta mê mẩn những người phụ nữ da tái!”
Khi lên đến đỉnh những ngọn đồi Arguiel, ông đã hạ quyết tâm.
“Chỉ là tìm kiếm cơ hội thôi. Được rồi, thỉnh thoảng ta sẽ ghé qua. Ta sẽ gửi cho họ thịt thú rừng, gia cầm; ta sẽ tự nguyện để trích huyết nếu cần. Chúng ta sẽ trở thành bạn bè; ta sẽ mời họ đến nhà chơi. Chà!” ông nói thêm, “sắp có hội chợ nông nghiệp kìa. Nàng sẽ có mặt ở đó. Ta sẽ gặp nàng. Chúng ta sẽ bắt đầu một cách táo bạo, bởi đó là con đường chắc chắn nhất.”