Madame Bovary

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Một

❊ ❊ ❊

Yonville-l’Abbaye (gọi như vậy theo tên một tu viện dòng Capuchin cũ mà nay ngay cả dấu tích cũng không còn) là một thị trấn chợ cách Rouen hai mươi tư dặm, nằm giữa hai con đường đi Abbeville và Beauvais, dưới chân một thung lũng được nuôi dưỡng bởi dòng Rieule, một con sông nhỏ chảy vào sông Andelle sau khi quay ba chiếc cối xay nước gần cửa sông, nơi có vài con cá hồi mà lũ trẻ thích thú ra câu vào các ngày chủ nhật.

Chúng ta rời đường cái lớn tại La Boissiere và đi thẳng lên đỉnh đồi Leux, từ đó có thể nhìn thấy thung lũng. Con sông chảy qua thung lũng chia nơi đây thành hai vùng với diện mạo khác biệt—toàn bộ phía bên trái là đồng cỏ chăn nuôi, toàn bộ bên phía phải là đất trồng trọt. Thung lũng cỏ trải dài dưới một triền đồi thấp để nối ở phía sau với vùng đồng cỏ của xứ Bray, trong khi ở phía đông, đồng bằng thoai thoải dâng lên, mở rộng ra, trải tận tầm mắt với những cánh đồng lúa mì vàng óng. Dòng nước chảy qua bãi cỏ, dùng một dải trắng phân chia màu sắc của những con đường và những cánh đồng, khiến miền quê trông giống như một chiếc áo choàng lớn được trải rộng ra với phần viền bằng nhung xanh lá cây được viền một dải tua rua bằng bạc.

Trước mặt chúng ta, ở tận chân trời, là những sồi của khu rừng Argueil, với những vách đá dốc đứng của đồi Saint-Jean bị cày xới từ trên xuống dưới bởi những đường màu đỏ bất thường; đó là những rãnh nước mưa, và những sắc màu gạch nung nổi bật lên thành những vệt hẹp trên nền màu xám của núi là do lượng suối nước khoáng chứa sắt chảy qua ở vùng đất lân cận.

Đến đây là chúng ta đang ở vùng ranh giới giữa Normandie, Picardy và Ile-de-France, một mảnh đất pha tạp mà ngôn ngữ chẳng có giọng điệu riêng còn phong cảnh thì chẳng có nét đặc sắc. Chính tại nơi đây người ta làm ra những loại phô mai Neufchâtel dở nhất trong toàn tổng; và mặt khác, việc canh tác nông nghiệp rất tốn kém vì cần phải bón quá nhiều phân để làm giàu cho thứ đất tơi xốp đầy cát và đá cuội này.

Cho đến năm 1835 vẫn không có con đường nào khả thi để đến Yonville, nhưng vào khoảng thời gian này, một con đường băng ngang đã được làm nối đường Abbeville với đường Amiens, và thỉnh thoảng được các phu xe ở Rouen sử dụng trên đường đi Flanders. Yonville-l’Abbaye vẫn giậm chân tại chỗ bất chấp "lối ra mới" ấy. Thay vì cải tạo đất, họ vẫn cứ khăng khăng giữ lại các đồng cỏ, dù giá trị của chúng có bị sụt giảm đến đâu, và cái thị trấn lười biếng ấy, cứ mở rộng ra xa khỏi cánh đồng, tự nhiên lại lan về phía bờ sông. Người ta nhìn thấy nó từ đằng xa trải dài dọc theo các bờ sông giống như một kẻ chăn bò đang ngủ trưa bên mé nước.

Dưới chân ngọn đồi phía bên kia cây cầu bắt đầu một con đường cái quan, được trồng những hàng dương non, dẫn thẳng đến những ngôi nhà đầu tiên của thị trấn. Những ngôi nhà này, được bao quanh bởi các hàng rào giậu, nằm ở giữa những khoảng sân đầy các dãy nhà lấp xấp, máy ép rượu, nhà để xe và lò chưng cất nằm rải rác dưới những tán cây dày, với thang, sào, hay liềm được treo lơ lửng trên cành. Những mái nhà tranh, giống như những chiếc mũ lông kéo sụp xuống tận mắt, sà xuống che khoảng một phần ba những ô cửa sổ thấp, có lớp kính lồi thô ráp với những bướu ở giữa giống như đáy chai. Tựa vào bức tường vữa được đan chéo bởi những thanh dầm đen, thỉnh thoảng có một cây lê còi cọc vươn lên và các tầng trệt có ở ngay cửa một chiếc cổng lật nhỏ để ngăn đám gà con chuyên ray rưa mổ những mẩu bánh mì nhúng rượu táo thềm nhà. Nhưng các khoảng sân ngày càng thu hẹp lại, các ngôi nhà xích lại gần nhau hơn, và các hàng rào biến mất; một bó dương xỉ lủng lẳng dưới cửa sổ từ đầu một cây chổi; có một lò rèn của thợ rèn và sau đó là xưởng của thợ làm bánh xe, với hai hoặc ba chiếc xe ngựa mới để bên ngoài làm tắc nghẽn một phần lối đi. Rồi băng qua một khoảng đất trống xuất hiện một ngôi nhà màu trắng nằm bên kia gò cỏ được trang trí bằng bức tượng thần Tình yêu, ngón tay đặt trên môi; hai bình bằng đồng đặt ở hai đầu của một bậc thềm; những huy hiệu lấp lánh trên cánh cửa. Đó là nhà của viên công chứng, và là ngôi nhà đẹp nhất trong vùng.

Nhà thờ nằm ở phía bên kia đường, cách đó hai mươi bước chân về phía trước, ngay lối vào quảng trường. Nghĩa trang nhỏ bao quanh nhà thờ, được khép kín bằng bức tường cao ngang ngực, chật ních những ngôi mộ đến mức những phiến đá cũ nằm ngang mặt đất tạo thành một lối đi lát liền mạch, trên đó thảm cỏ tự mọc lên thành những ô vuông màu xanh đều đặn. Nhà thờ đã được xây dựng lại trong những năm cuối triều đại Charles X. Mái nhà bằng gỗ đang bắt đầu mục nát từ phía trên, và chỗ này chỗ kia có những hõm màu đen trên nền màu xanh của nó. Phía trên cửa ra vào, nơi lẽ ra phải là chỗ đặt đàn ống, là một gác lửng dành cho đàn ông, với một cầu thang xoắn ốc vang lên cộp cộp dưới những đôi guốc gỗ của họ.

Ánh ban ngày xuyên qua những ô cửa kính trắng chiếu xiên vào những hàng ghế dài xếp dọc theo các bức tường, vốn được trang trí rải rác bằng một chiếc chiếu rơm mang bên dưới dòng chữ lớn, "Ghế ngồi của ông này ông nọ." Xa hơn một chút, tại nơi tòa nhà thu hẹp lại, tòa giải tội tạo thành một cặp tương xứng với bức tượng nhỏ Đức Mẹ, mặc chiếc áo sa tanh, đội chiếc khăn voan tuyn lấm tấm những ngôi sao bạc, và có đôi má đỏ hừng hừng, giống như một vị thần ở quần đảo Sandwich; và cuối cùng, một bản sao bức tranh "Gia đình Thánh, do Bộ trưởng Bộ Nội vụ trao tặng," nhìn xuống bàn thờ chính, giữa bốn cây nến, khép lại khung cảnh xa trông. Những dãy ghế ca đoàn làm bằng gỗ thông thì được để mộc không sơn.

Khu chợ, nghĩa là một mái nhà lợp ngói được đỡ bởi khoảng hai mươi cây cột, chiếm khoảng một nửa quảng trường công cộng của Yonville. Tòa thị chính, được xây dựng "theo thiết kế của một kiến trúc sư Paris," là một kiểu đền Hy Lạp tạo thành góc giáp với hiệu thuốc. Ở tầng trệt có ba cột thức Ionic và trên lầu là một hành lang hình bán nguyệt, trong khi mái vòm che đỉnh tháp có hình một chú gà trống xứ Gaul, một chân đặt lên bản "Hiến chương" và chân kia cầm chiếc cân Công lý.

Nhưng thứ thu hút ánh nhìn nhất lại nằm đối diện quán trọ Lion d’Or, chính là hiệu thuốc của ngài Homais. Đặc biệt là vào buổi tối, ngọn đèn argand của hiệu thuốc được thắp sáng và những chiếc bình đỏ xanh trang trí mặt tiền cửa hàng hắt ra xa dọc theo con đường hai luồng ánh sáng màu; rồi xuyên qua đó, tựa như trong ánh pháo sáng Bengal, là bóng của ngài Homais đang cúi người trên chiếc bàn giấy của ông. Ngôi nhà của ông từ trên xuống dưới được dán chi chít những dòng chữ viết bằng tay chữ lớn, chữ tròn, chữ in: "Nước khoảng Vichy, Seltzer, Barege, thuốc lọc máu, thuốc độc quyền Raspail, bột cacao Ả Rập, viên ngậm Darcet, cao dán Regnault, đai nịt bụng, nhà tắm, sô-cô-la vệ sinh," v.v. Và tấm biển hiệu, chiếm toàn bộ chiều rộng của cửa hàng, mang dòng chữ bằng chữ vàng, "Homais, Dược sĩ." Sau đó ở tận cùng bên trong cửa hàng, phía sau chiếc cân lớn cố định trên quầy, từ "Phòng thí nghiệm" xuất hiện trên một tấm cuộn phía trên cánh cửa kính, nơi mà ở khoảng nửa chiều cao lại lặp lại lần nữa dòng chữ "Homais" bằng chữ vàng trên nền đen.

Ngoài điều đó ra thì chẳng có gì để xem ở Yonville cả. Con đường (con đường duy nhất) dài bằng một tầm súng và hai bên có vài cửa hàng khựng lại ngay khúc ngoặt của đường cái lớn. Nếu rẽ sang bên phải và đi theo chân những ngọn đồi Saint-Jean thì chẳng mấy chốc sẽ đến nghĩa trang.

Vào thời kỳ dịch tả, để mở rộng nơi này, một đoạn tường đã bị giật sập, và ba mẫu đất bên cạnh đã được mua lại; nhưng toàn bộ phần mới này hầu như không có lấy một bóng người; các ngôi mộ, cũng như trước đây, vẫn tiếp tục chen chúc nhau về phía cổng. Người giữ cửa, vừa là kẻ đào huyệt vừa là người gõ mõ nhà thờ (nhờ thế mà kiếm được món lời kép từ những thây ma trong giáo xứ), đã tận dụng mảnh đất bỏ hoang để trồng khoai tây ở đó. Tuy nhiên, năm này qua năm khác, thửa ruộng nhỏ của ông ta ngày càng thu hẹp lại, và khi có dịch bệnh bùng phát, ông ta chẳng biết nên vui mừng vì những cái chết hay nên tiếc nuối vì những đám tang.

“Ông sống nhờ vào người chết đấy, Lestiboudois!” cuối cùng vị cha xứ cũng nói với ông ta vào một ngày nọ. Lời nhận xét lạnh lùng này đã khiến ông ta phải suy nghĩ; nó kiềm chế ông ta trong một thời gian; nhưng cho đến tận ngày nay ông ta vẫn tiếp tục công việc trồng trọt những củ khoai tây nhỏ bé của mình, và thậm chí còn quả quyết một cách cứng rắn rằng chúng tự mọc lên.

Kể từ những sự kiện sắp được kể lại đây, trên thực tế không có gì thay đổi ở Yonville cả. Lá cờ ba màu bằng thiết vẫn tung bay trên đỉnh tháp chuông nhà thờ; hai dải băng chintz vẫn phấp phới trong gió từ tiệm vải; những bào thai trong hiệu thuốc của viên dược sĩ, giống như những cục bùi nhùi trắng, ngày càng mục rữa trong thứ rượu cồn đục ngầu, và phía trên cánh cửa lớn của quán trọ, con sư tử vàng cũ kỹ bị phai màu bởi mưa gió vẫn nhe bộ bờm chó xù ra với những người qua đường.

Vào buổi tối khi gia đình Bovary sắp đến Yonville, góa phụ Lefrancois, bà chủ quán trọ này, bận rộn đến mức mồ hôi mẹ mồ hôi con nhễ nhại khi chuyển những cái xoong nồi của bà. Ngày mai là ngày họp chợ. Thịt phải được thái sẵn, gà phải được mổ bụng làm sạch, súp và cà phê phải được nấu. Hơn nữa, bà còn phải lo bữa ăn cho những khách trọ dài hạn, và bữa ăn của viên bác sĩ, vợ ông, cùng người hầu của họ; phòng bida đang vang lên những tràng cười giòn giã; ba gã thợ xay trong một căn phòng nhỏ đang gọi brandy; củi đang cháy phừng phừng, chiếc chảo đồng đang xèo xèo, và trên chiếc bàn dài trong bếp, giữa những khúc thịt cừu sống, là những chồng đĩa cao đang kêu lách cách theo nhịp rung của cái thớt nơi rau cải bó xôi đang được băm nhỏ.

Từ chuồng gà vọng lại tiếng kêu quác quác của lũ gà đang bị người đầy tớ đuổi theo để vặn cổ.

Một người đàn ông bị rỗ mặt nhẹ, đi dép da màu xanh lá cây, và đội chiếc mũ nhung có tua rua vàng, đang đứng sưởi lưng bên ống khói. Gương mặt ông ta không biểu lộ gì ngoài sự tự mãn, và ông ta có vẻ thản nhiên đón nhận cuộc đời chẳng kém gì con chim hoàng yến đang lơ lửng trên đầu trong chiếc lồng mây: đây chính là viên dược sĩ.

“Artémise!” bà chủ quán hét lớn, “chẻ thêm củi, đổ đầy nước vào các bình, mang brandy ra, làm nhanh tay lên! Giá mà tôi biết nên dọn món tráng miệng gì cho những vị khách mà anh chị đang mong đợi chứ! Ôi trời đất quỷ thần ơi! Mấy kẻ khiêng đồ đạc đó lại bắt đầu làm ồn ở phòng bida kìa; và chiếc xe tải của họ lại bị bỏ ngay trước cửa chính chứ! Chiếc ‘Hirondelle’ có thể đâm phải nó khi xe tiến vào đấy. Gọi Polyte ra bảo anh ta cất xe đi. Cứ nghĩ mà xem, ngài Homais ạ, từ sáng đến giờ họ đã chơi khoảng mười lăm ván, và nốc hết tám bình rượu táo rồi đấy! Trời ạ, họ sẽ làm rách cả thảm của tôi mất thôi,” bà tiếp tục lẩm bẩm, vừa nhìn họ từ đằng xa với chiếc rây lọc trên tay.

“Đó chẳng phải là tổn thất lớn gì đâu,” ngài Homais đáp. “Bà sẽ mua cái khác.”

“Lại một chiếc bàn bida nữa ư!” bà góa phụ kêu lên.

“Vì cái bàn đó sắp rã ra rồi mà, thưa bà Lefrancois. Tôi xin nhắc lại là bà đang tự gây thiệt hại cho mình, thiệt hại lớn đấy! Hơn nữa, những người chơi bây giờ họ thích các lỗ túi nhỏ và cơ nặng. Người ta không còn chơi bida lỗ thông thường nữa; mọi thứ đã thay đổi rồi! Người ta phải bắt kịp thời đại chứ! Cứ nhìn ông Tellier mà xem!”

Bà chủ quán đỏ bừng mặt vì bực bội. Viên dược sĩ tiếp tục nói—

“Bà muốn nói gì thì nói; bàn của ông ta tốt hơn bàn của bà; và nếu người ta thử nghĩ đến việc, chẳng hạn, tổ chức một quỹ từ thiện yêu nước vì Ba Lan hay vì những nạn nhân lũ lụt ở Lyons—”

“Chẳng có những kẻ ăn mày như hắn mà dọa được chúng ta đâu,” bà chủ quán ngắt lời, nhún đôi vai mập mạp của mình. “Thôi nào, thôi nào, ngài Homais; chừng nào quán ‘Lion d’Or’ còn tồn tại thì người ta vẫn sẽ đến đó. Chúng ta đã gây dựng được cơ ngơi vững chắc rồi; trong khi một ngày đẹp trời nào đó anh sẽ thấy quán ‘Cafe Francais’ đóng cửa với tấm biển to đùng dán trên chớp cửa. Bắt tôi đổi bàn bida á!” bà tiếp tục nói một mình, “cái bàn vốn rất tiện dụng để gấp quần áo giặt, và vào mùa săn bắn, tôi đã từng cho sáu vị khách ngủ trên đó! Thế mà cái đồ lê thê chậm chạp Hivert đó vẫn chưa chịu đến!”

“Anh đang đợi nó để dọn bữa tối cho các vị khách của mình à?”

“Đợi nó á! Thế còn ngài Binet thì sao? Cứ đúng sáu giờ đánh chuông là anh sẽ thấy ông ấy bước vào, vì chẳng có ai trên đời này sánh kịp sự đúng giờ của ông ấy. Ông ấy lúc nào cũng phải ngồi đúng chỗ trong căn phòng nhỏ đó. Ông ấy thà chết chứ nhất quyết không chịu ăn ở bất cứ nơi nào khác. Mà ông ấy lại khó tính làm sao, lại còn cực kỳ xét nét chuyện rượu táo nữa chứ! Không giống như ngài Léon; thỉnh thoảng cậu ấy đến lúc bảy giờ, hoặc thậm chí bảy giờ rưỡi, và cậu ấy chẳng thèm nhìn xem mình đang ăn gì nữa. Thật là một thanh niên dễ mến! Chẳng bao giờ thốt ra một lời cay đắng!”

“Vâng, anh thấy đấy, có sự khác biệt rất lớn giữa một người có học thức và một lão cựu pháo thủ nay đã thành nhân viên thu thuế.”

Sáu giờ đúng. Binet bước vào.

Ông ta mặc chiếc áo khoác chùng màu xanh thẫm rủ thẳng đuột quanh thân hình gầy gò, và chiếc mũ da với những dải tai thỏ buộc thắt nút trên đỉnh đầu bằng một sợi dây, để lộ ra phía dưới vành mũ lật ngược một chiếc trán hói, bị làm phẳng bởi việc đội mũ bảo hiểm liên tục. Ông ta mặc một chiếc áo lê bằng vải đen, cổ áo bằng lông thú, quần xám, và quanh năm suốt tháng đều đi những đôi giày được đánh si đen bóng, có hai vết phồng song song do ngón chân cái cộm lên. Không một sợi tóc nào chìa ra khỏi đường viền đều đặn của bộ mai tóc vàng, thứ bao quanh quàm hàm, đóng khung theo kiểu viền luống hoa cho gương mặt dài và xanh xao của ông ta, với đôi mắt nhỏ và chiếc mũi khoằm. Giỏi tất cả các trò chơi bài, là một thợ săn cừu khôi và viết chữ rất đẹp, ông ta có một chiếc máy tiện ở nhà, và thích thú việc tiện những chiếc vòng khăn ăn, thứ mà ông ta chất đầy nhà, với sự ích kỷ của một gã thị dân và sự ghen tị của một nghệ sĩ.

Ông ta đi về phía phòng nhỏ, nhưng ba gã thợ xay phải được mời ra ngoài trước đã, và trong suốt khoảng thời gian cần thiết để dọn bàn ăn, Binet vẫn ngồi im lặng ở chỗ của mình gần lò sưởi. Sau đó ông ta đóng cửa lại và cởi mũ ra theo thói quen thường lệ.

“Hắn ta chẳng tốn chút nước bọt nào vì những lời lịch sự đâu,” viên dược sĩ nói ngay khi chỉ còn lại một mình với bà chủ quán.

“Ông ta chẳng bao giờ nói nhiều hơn thế,” bà đáp. “Tuần trước có hai vị khách du lịch buôn vải ở đây—những anh chàng thông minh tuyệt đỉnh kể những câu chuyện cười vào buổi tối hay đến mức tôi phải phát khóc vì cười; thế mà ông ta cứ đứng lì ở đấy như một con cá bơn và chẳng thề thốt hay nói lấy một lời.”

“Phải,” viên dược sĩ nhận xét; “chẳng có trí tưởng tượng, chẳng có sự dí dỏm, chẳng có bất cứ thứ gì làm nên phong thái của một người xã giao cả.”

“Tuy nhiên người ta vẫn bảo ông ấy có tài cán đấy chứ,” bà chủ quán phản bác.

“Tài cán á!” ngài Homais đáp; “ông ta mà cũng có tài cán ư! Trong lĩnh vực của hắn thì có thể,” ông nói thêm với giọng bình tĩnh hơn. Rồi ông tiếp tục—

“À! Việc một thương gia có nhiều mối quan hệ ngoại giao, một nhà tư vấn pháp luật, một bác sĩ, một dược sĩ, lại có lúcngẩn ngơ đã đành, việc họ trở nên kỳ cục hoặc thậm chí cáu kỉnh, tôi có thể hiểu được; những trường hợp như thế được ghi chép đầy trong lịch sử. Nhưng ít nhất đó là vì họ đang bận suy nghĩ điều gì đó. Bản thân tôi chẳng hạn, biết bao nhiêu lần tôi đã phải tìm cây bút trên bàn giấy để viết một nhãn dán, và rốt cuộc lại phát hiện ra rằng mình đã giấu nó đằng sau tai!”

Bà Lefrancois lúc đó bước ra cửa để xem xe “Hirondelle” đã đến chưa. Bà giật mình. Một người đàn ông mặc đồ đen đột ngột bước vào bếp. Dưới ánh hoàng hôn hắt lại cuối cùng, người ta có thể thấy khuôn mặt ông ta đỏ lựng và vóc dáng thì lực lưỡng.

“Tôi có thể giúp gì cho ngài đây, thưa ngài linh mục?” bà chủ quán hỏi, khi với tay lấy từ ống khói xuống một trong những chân nến bằng đồng được đặt xếp hàng cùng những cây nến của chúng. “Ngài dùng chút gì nhé? Một ngụm Cassis? Một ly rượu vang chứ?”

Vị linh mục từ chối một cách rất lịch sự. Ông đến để lấy chiếc ô mà ông đã để quên hôm trước tại tu viện Ernemont, và sau khi nhờ bà Lefrancois cho người gửi nó đến nhà xứ vào buổi tối, ông rời đi để đến nhà thờ, nơi chuông cầu nguyện buổi tối đang đổ.

Khi viên dược sĩ không còn nghe thấy tiếng giày của vị linh mục nện trên quảng trường nữa, ông ta liền cho rằng hành vi vừa rồi của vị linh mục thật là khó ưa. Việc từ chối mọi thức uống này đối với ông ta là sự đạo đức giả đáng ghét nhất; tất cả bọn linh mục đều lén lút uống rượu và đang cố gắng đưa thời kỳ nộp thuế thập phân quay trở lại.

Bs chủ quán lên tiếng bênh vực vị linh mục của mình.

“Hơn nữa, ngài ấy có thể quật ngã bốn người như ông qua đầu gối đấy. Năm ngoái ngài ấy đã giúp dân làng chúng ta mang rơm về; ngài ấy vác cùng lúc tận sáu bó rơm, ngài ấy khỏe lắm đấy.”

“Hoan hô!” viên dược sĩ nói. “Bây giờ cứ sai mấy cô con gái của bà đến xưng tội với những kẻ có thể trạng như thế đi! Tôi mà là Chính phủ, tôi sẽ cho bọn linh mục đi trích máu một tháng một lần. Vâng, thưa bà Lefrancois, mỗi tháng một lần—một cú trích máu thật tốt, vì lợi ích của cảnh sát và đạo đức.”

“Thôi đi, ngài Homais. Ông là một kẻ vô thần; ông chẳng có tôn giáo nào cả.”

Viên dược sĩ đáp: “Tôi có tôn giáo chứ, tôn giáo của riêng tôi, và tôi thậm chí còn có nhiều tôn giáo hơn tất cả những kẻ với đám nghi lễ rườm rà và trò tung hứng đó. Trái lại, tôi tôn sùng Thượng đế. Tôi tin vào Đấng Tối Cao, vào một Đấng Sáng Tạo, bất kể ngài là ai đi nữa. Tôi chẳng bận tâm đến việc ai đã đặt chúng ta đến chốn trần gian này để làm tròn bổn phận của những công dân và những người cha trong gia đình; nhưng tôi chẳng cần phải đến nhà thờ để hôn những chiếc đĩa bạc, và nuôi béo, bằng tiền túi của mình, một đám vô tích sự sống sướng hơn chúng ta. Bởi vì người ta có thể nhận biết Ngài ở trong rừng, ngoài đồng ruộng, hay thậm chí khi chiêm ngưỡng vòm trời vĩnh cửu giống như những người cổ đại. Chúa ơi! Chúa của tôi là Chúa của Socrates, của Franklin, của Voltaire, và của Beranger! Tôi đứng về phía bản tuyên ngôn đức tin của ‘Phó tế xứ Savoy,’ và những nguyên tắc bất diệt của năm 89! Và tôi không thể chấp nhận một lão Chúa già đi dạo trong vườn tay cầm gậy, nhốt bạn bè mình vào bụng cá voi, chết mà thốt lên một tiếng kêu, rồi sống lại sau ba ngày; những điều vô lý tự bản chất, hơn nữa lại hoàn toàn trái ngược với mọi quy luật vật lý, điều mà nhân tiện cũng chứng minh cho chúng ta thấy rằng bọn linh mục luôn chìm đắm trong sự ngu dốt tối tăm, thứ mà chúng tha thiết muốn kéo cả dân gian cùng chìm xuống theo chúng.”

Ông ta dừng lời, đảo mắt tìm kiếm một cử tọa, bởi vì trong cơn cao hứng, viên dược sĩ đã có lúc tưởng tượng mình đang đứng giữa hội đồng thị trấn. Nhưng bà chủ quán không thèm chú ý đến ông ta nữa; bà đang lắng nghe tiếng bánh xe lăn từ đằng xa. Người ta có thể phân biệt được tiếng xe ngựa trộn lẫn với tiếng những chiếc móng ngựa lỏng lẻo nện xuống mặt đường, và cuối cùng chiếc xe “Hirondelle” đã dừng lại trước cửa.

Đó là một chiếc hộp màu vàng đặt trên hai bánh xe lớn, vươn cao tới tận mui xe, khiến hành khách không thể nhìn thấy con đường và làm bẩn cả vai áo của họ. Những ô cửa sổ nhỏ của khung cửa hẹp kêu lách cách trong các khung gỗ khi chiếc xe đóng kín, và chỗ này chỗ kia vẫn còn bám những vệt bùn giữa các lớp bụi dày cũ kỹ, thứ mà ngay cả những trận mưa bão cũng không thể rửa sạch hoàn toàn. Nó được kéo bởi ba con ngựa, con đi đầu dẫn đường, và khi xe xuống dốc, phần gầm xe lại va đập mạnh xuống mặt đường.

Một số cư dân của Yonville đổ ra quảng trường; tất cả bọn họ đều nói nhao nhao cùng một lúc, hỏi han tin tức, đòi giải thích, đòi bưu phẩm. Hivert chẳng biết phải trả lời ai trước. Chính anh ta là người đi làm các việc vặt trong thị trấn cho vùng này. Anh ta đi vào các cửa hàng và mang về những cuộn da cho người đóng giày, sắt vụn cho thợ móng ngựa, một thùng cá trích cho mụ chủ, mũ nón từ tiệm thợ may, khóa từ tiệm làm tóc và suốt dọc đường trở về anh ta phân phát những bưu phẩm của mình, thứ mà anh ta ném qua hàng rào các khoảng sân trong tư thế đứng thẳng trên ghế ngồi và hét lên bằng hết sức lực.

Một tai nạn đã làm anh ta chậm trễ. Con chó săn lông xám của bà Bovary đã chạy vụt qua cánh đồng. Người ta đã huýt sáo gọi nó suốt một phần tư tiếng đồng hồ; Hivert thậm chí còn quay ngược lại một dặm rưỡi với hy vọng có khoảnh khắc bắt gặp được nó; nhưng rồi họ buộc phải đi tiếp.

Emma đã khóc, đã nổi giận; cô đã đổ lỗi cho Charles về tai hoạ này. Ngài Lheureux, một chủ tiệm vải, tình cờ đi cùng chuyến xe với cô, đã cố gắng an ủi cô bằng rất nhiều dẫn chứng về những chú chó bị lạc đã nhận ra chủ nhân của chúng sau nhiều năm dài đằng đẵng. Ông ta kể rằng có một con, người ta đã kể lại, đã quay trở lại Paris từ Constantinople. Một con khác đã đi thẳng một trăm năm mươi dặm và bơi qua bốn con sông; và chính cha của ông ta cũng từng nuôi một con chó xù, sau mười hai năm xa cách, đã bất ngờ nhảy chồm lên lưng ông ta trên đường phố khi ông ta đang trên đường đi ăn tối trong thị trấn.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Gustave Flaubert

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.