Lời Tiên Tri Hắc Ám

Lượt đọc: 138 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4

❊ ❊ ❊

Apollo

4

Không một tòa nhà nào

Được giấu giếm Apollo

Hay thả gạch xuống thần

Cả hội không cần phải đi xa.

Dìu Calypso ở giữa, Leo và ta theo chân Emmie đến trước tòa nhà đồ sộ ở phía nam quảng trường. Đúng như ta đoán, đây từng là ga xe lửa. Khắc trên lớp đá hoa cương dưới ô cửa hoa hồng là dòng chữ GA LIÊN HIỆP.

Emmle bỏ qua cửa chính. Bà rẽ sang phải, dừng lại trước một bức tường. Bà vuốt ngón tay theo lớp gạch, vẽ thành hình một cánh cửa. Lớp vữa nứt ra, biến mất. Một cánh cửa mới toanh mở vào trong, để lộ đường ống hẹp như ống khói với những thanh kim loại xếp thành chiếc thang dẫn lên trên.

“Mánh hay quá,” Leo nói, “nhưng tình trạng của Calypso không leo tường nổi đâu ạ.”

Emmie cau mày. “Cháu nói phải.” Bà nhìn vào cánh cửa. “Ga Xép ơi, cho bọn ta xin một đường dốc được không?”

Mấy thanh kim loại biến mất. Tiếng rầm rập khe khẽ, bức tường bên trong đường ống nghiêng ra sau, những viên gạch tự xếp lại thành một con dốc thoai thoải dẫn lên trên.

“Oa,” Leo nói. “Bác vừa nói chuyện với tòa nhà sao?”

Nụ cười đọng nơi khóe miệng Emmie. “Ga Xép còn hơn cả một tòa nhà nữa đấy.”

Bỗng dưng ta không tha thiết lắm khi nhìn vào con dốc kia. “Đây là một công trình sống sao? Như Mê Cung ấy à? Và bà muốn bọn này vào trong đó?”

Cái lườm của Emmie đích thị là của một Thợ Săn. Chỉ có đám thuộc hạ của em ta mới dám lườm ta rách mắt như vậy. “Thưa Chúa tể Apollo, Ga Xép không phải là tác phẩm do Daedalus xây dựng. Nó vô cùng an toàn… chừng nào ngài còn là khách của chúng tôi.”

Giọng điệu bà ám chỉ sự hiện diện của ta còn ở trong giai đoạn thử thách. Phía sau, tiếng còi cứu thương mỗi lúc một gần. Calypso khó nhọc hít vào. Ta cho rằng cả bọn chẳng còn nhiều lựa chọn. Cả ba theo Emmie tiến vào tòa nhà.

Ánh sáng tỏa dọc hai bức vách, những ngọn nến vàng ấm áp chập chờn trên những cái đế đồng. Lên dốc chừng sáu thước, một cánh cửa mở ra bên tay trái. Ta nhìn vào trong, thoáng thấy một bệnh xá nhất định sẽ khiến cậu con Asclepius của ta lác mắt: Một chiếc tủ đựng đầy thuốc, dụng cụ phẫu thuật và nguyên liệu pha chế; một chiếc giường bệnh gắn màn hình, giao diện điều khiển đồ họa và võng nâng. Trên tường, hàng dài những chiếc kệ đặt các loại thảo dược khô, cạnh bên là chiếc máy chụp cộng hưởng từ cầm tay. Và ở cuối góc, một cái lồng kính nuôi cả bầy rắn độc kêu xì xì.

“Ôi chao,” ta nói. “Bệnh xá của bà đúng là tân tiến”

“Vâng,” Emmle đồng tình. “Ga Xép bảo rằng tôi phải chăm sóc cho cô bạn của ngài ngay lập tức.”

Leo đút đầu vào trong bệnh xá. “Ý bác là căn phòng này vừa mới xuất hiện ở đây sao?”

“Không” Emmie nói. “À thì phải. Nó đã luôn ở đây, nhưng… dễ tìm hơn khi chúng ta cần đến.”

Leo gật đầu thấu hiểu. “Thế Ga Xép có sắp xếp ngăn vớ lại giùm cháu được không vậy bác?”

Một viên gạch trên trần rơi bộp xuống chân Leo.

“Không đấy,” Emmle dịch. “Còn giờ, giao bạn cháu cho bác nào.”

“Ừm…” Leo chỉ vào cái lồng kính. “Đằng kia có rắn kìa bác. Nói vậy thôi.”

“Bác sẽ chăm sóc Calypso đàng hoàng,” Emmie hứa.

Bà đón lấy Calypso, chẳng chút khó khăn bế gọn cô phù thủy lên. “Cả hai đi trước đi. Jo ở cuối con dốc ấy.”

“Jo?” Ta hỏi.

“Nhìn là thấy ngay,” Emmie bảo. “Bà ấy giải thích về Ga Xép dễ hiểu hơn tôi.”

Bà bế cô phù thủy vào trong bệnh xá. Cánh cửa khép lại sau lung.

Leo cau mày với ta. “Rắn sao?”

“Ồ, phải,” ta trấn an cậu. “Phải có lí do để con rắn quấn quanh cây gậy là biểu tượng của ngành y. Nọc độc rắn là một trong những phương thuốc chữa trị đầu tiên.”

“Hừ.” Leo nhìn xuống chân mình. “Anh nghĩ chí ít tôi có được giữ cục gạch này không?”

Hành lang rung lên.

“Là ta thì ta sẽ bỏ nó lại,” ta khuyên.

“Ờ, bỏ lại đây.”

Đi thêm vài thước nữa, một cánh cửa mở ra bên tay phải bọn ta.

Bên trong, ánh nắng hắt qua tấm rèm hồng đăng ten, đổ xuống mặt sàn gỗ của căn phòng trẻ em. Chiếc giường ấm cúng trải chăn, bày gối xốp mềm cùng một mớ thú nhồi bông. Bốn bức tường màu vỏ sò trang trí bằng những bức tranh chì màu, hình người que, cây cối, nhà cửa, động vật chạy tung tăng, chẳng rõ là chó, ngựa hay lạc đà. Ở bức tường bên trái, đối diện giường, ông mặt trời mỉm cười nhìn xuống cánh đồng hoa đủ màu. Giữa bức tranh, một cô bé người que đứng giữa hai người lớn. Cả ba nắm lấy tay nhau.

Bức tranh tường làm ta nhớ đến chiếc hang tiên tri của Rachel Elizabeth Dare ở Trại Con Lai. Cô đồng Delphi của ta ưa vẽ lên vách hang những gì cô thấy trong cảnh mộng… vâng, cho đến khi năng lực tiên tri của cô không còn hoạt động. (Ta không có lỗi gì đâu nhé. Đi mà bắt con rắn to xác Python chịu trách nhiệm.)

Hầu hết những bức vẽ trong căn phòng này xem ra đều là tác phẩm điển hình của một đứa bé chừng bảy, tám tuổi. Nhưng ở góc khuất của bức tường đầu giường, cô họa sĩ nhí đã quyết định trút xuống thế giới chì màu của mình một tai họa kinh hoàng. Đám mây bão xám xịt ùn ùn kéo tới. Những hình nhân nhăn mặt chĩa dao đe dọa bầy lạc đà. Những vệt chì đen xóa nhòa cái cầu vồng bảy sắc. Nguệch ngoạc trên thảm cỏ xanh là một vòng tròn to màu mực, tựa như một hồ nước đen… hay lối vào một cái hang.

Leo lùi lại. “Tôi không biết à. Chắc mình không nên vào đâu.”

Ta tự hỏi tại sao Ga Xép lại cho bọn ta xem căn phòng này. Ai sống ở đây? Hay đúng hơn… ai từng sống ở đây? Chiếc rèm hồng tươi tắn đấy, đám thú bông xếp trên giường ngăn nắp đấy, nhưng căn phòng lại mang dáng dấp bị bỏ không, gìn giữ như một viện bảo tàng.

“Đi tiếp thôi,” ta đồng tình.

Đi hết con dốc, bọn ta bước vào một đại sảnh rộng như thánh đường. Phía trên kia, mái trần gỗ chạm khắc uốn cong, những tấm kính nhuộm màu đặt ở trung tâm tạo nên những mảng màu xanh lục và vàng. Cuối phòng, ô cửa sổ hoa hồng ta nhìn thấy từ bên ngoài hắt xuống sàn xi măng chiếc bóng tựa như tấm bia phi tiêu. Hai bên trái phải, lối đi nâng cao viền lan can sắt, những chiếc đèn Victoria thanh lịch treo dọc tường. Phía sau lan can, một hàng những cánh cửa dẫn vào những phòng khác. Dăm ba chiếc thang dẫn lên gác lửng chạm khắc cầu kì nằm ngay chân mái, phần gờ nhô ra chất đầy rơm khô, tựa như ổ của bầy gà mái khổng lồ. Toàn bộ nơi này thoảng mùi động vật… nhưng nó làm ta liên tưởng đến chuồng chó hơn là chuồng gà.

Ánh lên ở một góc phòng là khu bếp rộng đủ để tổ chức cùng lúc vài cuộc thi nấu ăn cho người nổi tiếng. Những bộ ghế nệm thoải mái rải rác đây đó. Ngay giữa gian phòng đặt một chiếc bàn ăn to tướng bằng gỗ đỏ xù xì, đủ chỗ cho hai mươi người.

Bên dưới ô cửa hoa hồng, các thiết bị của đủ loại phân xưởng bày biện một cách khá tùy tiện: bàn cưa, máy khoan, máy tiện, lò nung, lò rèn, đe, máy in 3D, máy may, vạc đun và một số thiết bị công nghiệp nữa mà ta không biết tên. (Nhìn ta làm gì. Ta có phải Hephaestus đâu.)

Lom khom bên chiếc bàn hàn, người phụ nữ lực lưỡng đang áp cây đèn hàn xuống một mảnh kim loại, tia lửa bắn ra lẹt xẹt. Bà ta đeo tấm che kim loại, tạp dề da và găng tay.

Ta không biết làm sao bà ta phát hiện ra hai đứa. Có lẽ Ga Xép đã thả một cục gạch xuống lưng để báo hiệu. Dù sao đi nữa, bà nhìn sang hướng bọn ta, tắt cây đèn hàn đi rồi nhấc tấm che lên.

“Tôi sẽ bị nguyền rủa mất!” Bà ta cười phá lên. “Thần Apollo đấy ư?”

Bà ta cởi bộ đồ bảo hộ ra rồi nặng nề bước tới. Cũng như Emmie, người phụ nữ này trông độ sáu mươi, nhưng trong khi Emmie mang vóc dáng của một cựu vận động viên thể dục thì bà này lại chuyên nghề đấu vật. Đôi vai rộng, cánh tay rắn rỏi, nước da ngăm đen tương phản với chiếc áo thun cổ sơmi hồng đã bay màu khá nhiều. Cờ lê tua vít nhét đầy trong túi quần yếm. Mái tóc bạc cắt đầu đinh, trên nước da nâu ánh lên như sương giá.

Bà chìa tay ra. “Chắc thần Apollo không nhớ tôi đâu. Tôi là Jo. Hoặc Josie. Hoặc Josephine. Sao cũng được.”

Với mỗi một cái tên, bà ta lại siết tay ta mạnh thêm một cái. Ta sẽ không thách bà này chơi vật tay đâu (nhưng với mấy ngón tay múp míp kia, bà ta không có cửa chơi ghi ta giỏi bằng ta được, cho nên ha). Gương mặt chữ điền hẳn sẽ khá đáng sợ, nếu bỏ đi đôi mắt lấp lánh hồ hởi. Môi bà giần giật như thể đang nỗ lực hết sức để không phá lên cười.

“Ừ,” ta ré lên, rụt tay lại. “Ý ta là không. Ta e là mình không nhớ thật. Cho phép ta giới thiệu Leo nhé?”

“Leo!” Bà ta bóp vụn tay cậu trong niềm hào hứng. “Bác là Jo.”

Với cả đám người có tên tận cùng là o: Jo, Leo, Calypso, Apollo, ta bỗng thấy thương hiệu của mình đang dần mất chất. Tạ các thần, bọn ta không ở Ohio và con rồng không có tên là Festo.

“Có lẽ ta sẽ gọi bà là Josephine,” ta quyết định. “Một cái tên đáng yêu.”

Josephine so vai. “Tôi thì sao cũng được. Bạn ngài đâu rồi, Calypso ấy?”

“Khoan đã,” Leo nói. “Sao bác biết Calypso?”

Josephine nhịp nhịp thái dương trái. “Ga Xép báo tin cho bác.”

“Ồ…” Mắt Leo mở to. “Ngầu quá.”

Ta thì không chắc. Thường thì khi ai đó bảo rằng tòa nhà đang nói chuyện với họ, ta liền tránh xa kẻ đó càng nhanh càng tốt. Buồn thay, ta tin lời Josephine. Ta cũng có cảm giác cả bọn sẽ cần đến lòng hiếu khách nơi bà.

“Calypso đang ở trong bệnh xá,” ta đáp. “Gãy tay. Và chân.”

“À.” Tia sáng nhạt dần trong mắt Josephine. “Ừ, ngài thấy hàng xóm quanh đây rồi đó.”

“Bà muốn nói bọn blemmyae.” Ta hình dung đám hàng xóm ghé qua mượn mỏ lết, hoặc nhận đơn bánh cho hội Nữ Hướng Đạo, hoặc ám sát ai đó. “Ở đây có thường gặp rắc rối với chúng không?”

“Trước đây thì không.” Josephine thở dài. “Bản thân bọn blemmyae khá là vô hại, chỉ cần lịch sự với chúng là được. Đầu óc chúng đâu tổ chức nổi một cuộc đột kích. Nhưng từ năm ngoái…

“Để ta đoán,” ta nói. “Indianapolis có một hoàng đế mới?”

Làn sóng giận dữ lướt qua mặt Josephine, cho ta thấy một thoáng chuyện gì sẽ xảy đến nếu làm bà ta phật ý. (Gợi ý này: có rất nhiều đau đớn.)

“Tốt nhất hãy chờ Emmie và bạn ngài nhập hội rồi hẵng bàn về tên hoàng đế,” bà đáp. “Không có Emmle bên cạnh xoa dịu… tôi dễ nổi nóng lắm.”

Ta gật đầu. Không chọc Josephine nổi nóng nghe chừng là một kế hoạch tuyệt vời. “Nhưng chúng ta ở đây có an toàn không?”

Leo giơ bàn tay lên như kiểm tra xem có mưa gạch không. “Cháu cũng tính hỏi thế. Ý cháu là… bọn cháu đại để đã dẫn một đám đông giận dữ đến trước cửa nhà hai bác.”

Josephine xua tay, gạt nỗi bận tâm của bọn ta đi. “Đừng lo. Bọn lâu la của tên hoàng đế đã truy tìm các bác mấy tháng rồi. Ga Xép không dễ tìm đâu, trừ khi được các bác mời vào.”

“Hừm.” Leo nhịp nhịp chân xuống sàn. “Vậy là bác thiết kế ra nơi này à? Vì nó khá là ngầu đấy.”

Josephine cười khùng khục. “Ước gì được vậy. Một kiến trúc sư á thần tài năng hơn bác rất nhiều đã xây dựng nơi này. Ga Xép được xây từ hồi những năm 1880, những ngày đầu của đường sắt xuyên lục địa. Đây vốn là nơi trú ẩn cho á thần, thần rừng, Thợ Săn, nói chung là bất kì ai cần đến một nơi như vậy giữa miền trung đất nước. Emmie và bác chẳng qua chỉ may mắn làm người trông coi hiện thời thôi.”

“Ta chưa từng nghe tới nơi này,” ta cáu kỉnh nói.

“Bọn tôi khá… à, kín tiếng. Nữ thần Artemis đã ra lệnh. Chỉ ai cần mới được biết.”

Là một vị thần, ta chính là định nghĩa của chỉ ai cần mới được biết, nhưng giấu giấu giếm giếm kiểu này đúng là phong cách của Artemis mà. Con bé khoái chuẩn bị cho ngày tận thế lắm, giấu hết thứ này tới thứ nọ với các thần, nào là hàng tiếp tế, boong ke khẩn, rồi vài quốc gia nhỏ. “Ta cho rằng nơi này không còn là nhà ga nữa. Người phàm nghĩ nó là gì?”

Josephine cười tươi rói. “Ga Xép, vui lòng cho xem sàn trong suốt.”

Dưới chân bọn ta, mặt sàn xi măng ố màu biến mất. Ta nhảy vọt ra sau như đứng trên chảo nóng, nhưng mặt sàn không thật sự biến mất. Nó chỉ chuyển sang dạng trong suốt. Xung quanh, thảm, bàn ghế và mớ thiết bị phân xưởng nhìn như đang bay lơ lửng cách mặt sàn thật sự hai tầng lầu. Bên dưới kia, chừng hai mươi đến ba mươi cái bàn tiệc đang được bày ra cho sự kiện nào đó.

“Khu vực sinh sống của bọn tôi gồm phần trên đại sảnh” Josephine nói. “Khu vực bên dưới từng là phòng chờ chính của nhà ga. Ngày nay người phàm thuê lại để tổ chức đám cưới, tiệc tùng này nọ. Nếu họ nhìn lên…

“Phép ngụy trang thích ứng,” Leo đoán. “Họ nhìn thấy cái trần, nhưng không thấy chúng ta. Tuyệt!”

Josephine gật đầu, hài lòng ra mặt. “Hầu hết thời gian ở đây khá yên tĩnh, chỉ tương đối ồn ào vào cuối tuần. Nếu tôi còn phải nghe bài ‘Thinking Out Loud’ trong tiệc cưới thêm một lần nào nữa, có lẽ tôi sẽ thả một cái đe xuống mất.”

Bà chỉ xuống sàn, ngay lập tức nó trở về dạng xi măng đục. “Giờ mong hai người không phiền, cái dự án tôi đang làm còn một phần phải hoàn tất. Không nên để kim loại nguội đi mà chưa được hàn kĩ. Sau đó…”

“Bác là con của thần Hephaestus phải không ạ?” Leo hỏi. “Thật ra là nữ thần Hecate.”

Leo chớp mắt. “Không thể nào! Cái phân xưởng tuyệt vời của bác…”

“Bác có sở trường chế tạo thần vật,” Josephine nói. “Cha bác, người cha phàm trần ấy, là một thợ máy.”

“Hay quá!” Leo nói. “Mẹ cháu cũng là thợ máy! À này, nếu cháu có thể dùng mấy dụng cụ của bác, cháu có bỏ con rồng lại ở trụ sở bang và…”

“A hèm,” ta xen vào. Dù rất muốn lấy lại Festus, ta vẫn không cho rằng một cái vali kiên cố chẳng có mấy người mở được lại gặp phải nguy hiểm tức thời nào. Ta cũng e rằng nếu Leo và Josephine cứ tiếp tục chuyện trò, chẳng mấy chốc họ sẽ kết thân với nhau qua sự màu nhiệm của bù lon con tán, còn ta sẽ chết vì chán. “Josephine này, bà đang nói sau đó…?”

“À phải. Cho tôi vài phút. Rồi tôi sẽ dẫn hai người đến phòng cho khách và ừm, chắc là tìm cho Leo đây vài bộ đồ. Dạo này bọn tôi có nhiều phòng trống lắm, buồn thay.”

Ta tự hỏi buồn chỗ nào. Thế rồi ta nhớ đến căn phòng trống của cô gái nhỏ lúc nãy đi ngang qua. Linh tính mách bảo ta tốt nhất đừng có hỏi về chuyện đó.

“Bọn ta rất trân trọng sự giúp đỡ của bà,” ta nói. “Nhưng ta vẫn không hiểu. Bà nói Artemis biết về nơi này. Bà và Emmie là… đã từng là Thợ Săn sao?”

Cơ cổ Josephine thít lại sau cổ áo hồng. “Đúng là vậy.”

Ta cau mày. Ta đã luôn cho rằng đám thuộc hạ của em mình là một dạng mafia trinh nữ. Một khi đã gia nhập là không bao giờ rời đi, trừ khi rời đi trong một cỗ quan tài bạc xinh xắn. “Nhưng…”

“Chuyện dài lắm,” Josephine ngắt lời ta. “Để Hemithea kể đi vậy.”

“Hemithea?” Cái tên đập vào ta như một cục gạch của Ga Xép. Mặt ta cơ hồ chảy xuống tận ngực, phong cách blemmyae. Bỗng dưng ta nghiệm ra tại sao Emmie lại quen mắt vậy. Hèn gì ta cứ thấy bồn chồn mãi. “Emmie. Nói tắt của Hemlthea. Hemithea ấy sao?”

Josephine đảo mắt qua lại. “Ngài thật sự không biết à?” Bà chỉ tay ra sau lưng. “Vậy giờ… tôi hàn tiếp đây. Đồ ăn thức uống ở trong bếp. Cứ tự nhiên như ở nhà.”

Bà ta nhanh chóng trở về phân xưởng.

“Mèn ơi,” Leo lẩm bẩm. “Bác ấy ngầu quá.”

“Hừm.”

Leo nhướng mày. “Bộ anh và bà Hemithea hồi xưa là một cặp hay sao thế? Lúc nghe tên bà ấy, nhìn anh cứ như vừa bị ai đó đá ngay giữa háng vậy.”

“Leo Valdez, trong suốt bốn ngàn năm, chưa từng có ai cả gan đá vào giữa háng ta. Còn nếu cậu muốn nói ta có vẻ hơi sốc, đó là vì ta biết Hemithea khi bà ấy còn là một nàng công chúa trẻ ở Hy Lạp cổ. Bọn ta không phải là một cặp. Tuy nhiên, chính ta đã trao cho bà ấy sự bất tử.”

Mắt Leo dõi về phía phân xưởng, nơi Josephine đang đứng hàn. “Tôi tưởng tất cả Thợ Săn đều trở thành bất tử một khi phát thệ trước Artemis chứ.”

“Cậu hiểu nhầm rồi,” ta nói. “Ta biến Hemithea thành bất tử trước khi bà ấy trở thành Thợ Săn. Đúng hơn, ta đã biến bà ấy thành thần.”

Người dịch: Nguyễn Mỹ Ngọc
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.