
15
Lái tàu lửa xanh
Tu tu! Hết đường bắt ta nhé
Oái!
Một cuộc tẩu thoát tốc độ chậm không nằm trong dự tính của ta.
Hai người bọn ta cùng nhảy vào băng ghế lái vốn chỉ đủ rộng cho một người, đoạn vừa xô đẩy nhau, vừa đạp bàn đạp và gạt bừa mấy cái công tắc.
“Ta nói rồi, để ta lái!” Ta hét lên. “Ta có thể lái được mặt trời thì ta cũng lái được thứ này!”
“Cái này không phải mặt trời!” Calypso giật chỏ vào sườn ta. “Nó là một chiếc xe lửa.”
Ta tìm được nút khởi động. Chiếc xe giật lên, lăn bánh. (Calypso quả quyết rằng cô ta mới là người tìm ra nút khởi động. Nói dối trắng trợn.) Ta xô Calypso xuống đất. Vì chiếc xe chạy với tốc độ chưa tới một cây số một giờ, cô đơn giản chỉ chống tay đứng dậy, phủi váy rồi bước đi song song với ta, trừng mắt.
“Tốc độ tối đa đó hả?” Cô hỏi. “Gạt mấy cái công tắc nữa đi!”
Đâu đó dưới cái mái hiên đổ nát phía sau vang lên một tiếng gào dữ dội. Đám dây thường xuân rung lên khi Lityerses cố tìm đường chui ra.
Nửa tá tên Germanus xuất hiện ở cuối sân ga. (Commodus nhất định mua đám này bằng giá sỉ hoàng gia.) Đám quân lính giương mắt nhìn đống cây cối gạch vụn biết gào thét, rồi đến bọn ta đang lăn bánh xa dần. Và thay vì đuổi theo, chúng bắt đầu bê mấy thanh gỗ và dọn mớ dây leo để cứu ông sếp. Dựa vào tốc độ của bọn ta, có lẽ chúng cho rằng mình có thừa thời gian đuổi kịp.
Calypso nhảy lên bậc để chân. Cô chỉ vào dàn điều khiển. “Thử cái bàn đạp xanh đi.”
“Bàn đạp xanh có bao giờ đúng đâu!”
Cô giơ chân đá nó. Bọn ta lao về trước với tốc độ gấp ba ban đầu, có nghĩa kẻ địch giờ sẽ phải chạy từ từ mới theo kịp.
Đường ray lượn sang bên trong khi đoàn tàu vẫn tiếp tục tăng tốc, bánh xe nghiến ken két xuống thanh sắt. Nhà ga biến mất sau hàng cây. Quang cảnh bên trái trải rộng ra, giới thiệu mấy cặp mông vương giả của đàn voi châu Phi đang sục sạo đống rơm. Nhân viên vườn thú cau mày nhìn bọn ta chạy ngang qua. “Ê!” Hắn kêu lên. “Ê!”
Ta vẫy tay. “Chào buổi sáng!”
Rồi đoàn tàu chạy vụt đi. Mấy toa xe lắc lư đến đáng sợ dưới tốc độ mỗi lúc một nhanh. Răng ta va lạch cạch. Bàng quang kêu óc ách. Phía trước mặt, gần như khuất sau rặng tre, đường ray tách làm hai với tấm bảng ghi dòng chữ La Tinh: BONUM EFFERCIO.
“Nó kìa!” Ta hét lên. “Những thứ hay! Chúng ta phải rẽ trái!”
Calypso nheo mắt nhìn bảng điều khiển. “Kiểu gì?”
“Phải có cái công tắc nào đó,” ta nói. “Thứ gì đó để bẻ ghi.”
Và ta đã nhìn thấy, nó không nằm trên bảng điều khiển, mà ở ngay trước mặt, bên cạnh đường ray. Một cái đòn bẩy kiểu cũ. Chẳng còn thời gian để dừng đoàn tàu, chẳng còn thời gian để chạy bộ tới rồi tự gạt cần.
“Cầm lấy, Calypso!” Ta ném gói khoai cho cô, rồi tháo cung ra. Ta lắp tên vào.
Đã có thời phát bắn thế này là trò trẻ con với ta. Giờ đây nó gần như không thể: bắn từ trên một chiếc xe lửa đang chạy, nhắm vào cái điểm đủ để tạo ra lực đẩy tối đa hòng gạt được cái cần.
Ta nghĩ đến Kayla, đứa con gái của mình ở Trại Con Lai. Ta hình dung cách con bé điềm tĩnh dẫn dắt ta qua bao nỗi bực dọc khi phải bắn cung như một con người. Ta nhớ đến lời động viên của những trại viên trên bãi biển vào cái ngày ta bắn phát tên hạ gục Người Khổng Lồ Nero.
Ta buông dây. Mũi tên đập vào cái đòn bẩy, khiến nó bật ra sau. Cái ghi quặt sang. Bọn ta lao vào đường ray phụ.
“Cúi xuống!” Calypso hét lên.
Bọn ta đâm xuyên qua rặng tre, lắc lư chạy vào đường hầm vừa đủ cho đoàn tàu. Ngặt nỗi đoàn tàu chạy quá nhanh. Chiếc xe lửa nghiêng sang bên, cạ vào vách hầm đến đánh lửa. Đến khi ra khỏi đường hầm, đoàn tàu đã hoàn toàn mất thăng bằng.
Chiếc xe lửa kêu rền rĩ, nghiêng hẳn đi, cảm giác quá quen thuộc bởi những lần cỗ xe mặt trời phải cua gấp để tránh phi thuyền hay một con rồng thần Trung Quốc. (Mấy thứ đó phiền ghê.)
“Nhảy!” Ta vật Calypso xuống. Vâng, một lần nữa. Đoạn nhào xuống phía bên phải đoàn tàu trong khi mấy toa phía sau đổ hết sang trái, trật khỏi đường ray với tiếng ầm nghe như một đội quân giáp đồng bị bàn tay khổng lồ đập bẹp. (Hồi xưa ta hình như có đập bẹp vài đội quân bằng cách đó thì phải.)
Điều tiếp theo ta nhận thức được là mình đang bò sấp trên đất, tai áp xuống như lắng nghe tiếng đàn bò, dù rằng chẳng biết tại sao.
“Apollo.” Calypso kéo kéo tay áo ta. “Dậy đi.”
Đầu ta đau buốt, chừng như phình to gấp mấy lần bình thường, nhưng người ngợm xem ra không gãy chỗ nào. Mái tóc Calypso xổ xuống quanh vai. Chiếc áo khoác bạc lấm cát bụi. Còn lại, cô vẫn nguyên vẹn. Có lẽ thể trạng cựu thần đã bảo vệ bọn ta khỏi chấn thương. Hoặc thế, hoặc bọn ta chỉ gặp may.
Bọn ta bị lật tàu ngay giữa một đấu trường hình tròn. Chiếc xe lửa nằm chỏng chơ trên bãi sỏi như một con sâu chết, chỉ cách nơi cuối đường ray chừng vài mét. Khoảnh đất được vây lại bởi những chuồng thú bằng kính chống đạn cắm sâu vào lớp đá. Vươn cao phía trên là ba hàng ghế ngồi kiểu sân vận động. Một tấm lưới ngụy trang tương tự như ở chuồng đười ươi giăng ngang phía trên đấu trường, nhưng ta đồ rằng tấm lưới này nhằm để ngăn mấy con quái vật có cánh bay mất.
Rải khắp mặt sân là những sợi dây xích gắn cùm, đầu dây cột vào mấy cây cọc nhọn. Một vài cái kệ gần đó bày đầy những món dụng cụ trông đến rợn người: roi điện, sào thòng lọng, roi da, lao móc.
Một khối nghẹn lạnh ngắt hình thành trong cổ họng ta. Ta còn tưởng mình đã nuốt phải mẩu điểu sư viên, có điều gói bánh vẫn còn vẹn nguyên một cách thần kì trên tay Calypso. “Đây là khu vực huấn luyện,” ta nói. “Ta từng thấy qua những nơi tương tự rồi. Những con thú này đang được chuẩn bị cho cuộc thi đấu.”
“Chuẩn bị?” Calypso nhăn mặt nhìn giá vũ khí. “Chính xác là sao?”
“Chúng bị chọc giận,” ta trả lời. “Bị nhử. Bị bỏ đói. Huấn luyện để giết bất cứ thứ gì chuyển động.”
“Quá tàn bạo.” Calypso quay sang cái chuồng gần nhất. “Chúng đã làm gì mấy con đà điểu tội nghiệp này thế kia?”
Qua tấm kính dày, bốn con đà điểu trong bầy đang giương mắt nhìn bọn ta, đầu giật sang bên như bị động kinh. Đà điểu vốn đã lạ mắt, nhưng những con này còn được trang bị thêm vòng cổ nạm đinh sắt, mũ giáp gắn gai nhọn phong cách Hoàng đế Wilhelm, và những sợi dây kẽm gai quấn quanh chân như dây đèn trang trí. Con chim gần nhất táp vào mặt ta, để lộ bộ răng thép lởm chởm gắn bên trong mỏ.
“Bầy đà điểu giác đấu của tên hoàng đế.” Ta có cảm tưởng một mái hiên vừa sập xuống ngay ngực mình. Cảnh ngộ của bầy thú này khiến ta chua xót… và càng chua xót hơn khi nghĩ đến Commodus. Những trò thi đấu lúc hắn còn là một vị hoàng đế trẻ đã gây nên không ít bức xúc, và giờ đây thậm chí đã biến tướng thành một thứ còn khủng khiếp hơn. “Trước đây hắn thích lấy chúng làm mục tiêu luyện tập. Chỉ bằng một mũi tên, hắn có thể bắn đứt đầu một con đà điểu đang chạy ở tốc độ tối đa. Một khi trò đó không còn hấp dẫn nữa…” Ta khoác tay ra mấy con đà điểu được nâng cấp.
Mặt Calypso vàng ệch đi. “Tất cả những con thú này sẽ bị giết sao?”
Ta suy sụp đến mức chẳng thể trả lời. Ta hồi tưởng lại Đại hý trường Flavian dưới thời Commodus, mặt cát ánh lên sắc đỏ, hàng ngàn những con vật quý hiếm nằm phơi thây, tất cả đều bị giết một cách tàn bạo để mua vui và thi đấu.
Bọn ta sang chuồng tiếp theo. Một con bò đỏ khổng lồ đi qua đi lại, cặp sừng và bốn móng ánh lên sắc đồng.
“Đó là một con bò Aethiopia,” ta nói. “Da chúng dày tới mức không một loại vũ khí nào đâm thủng được, giống như con sư tử Nemea ấy, có điều… ờ, to hơn nhiều, và có màu đỏ.”
Calypso lững thững bước ngang qua mấy cái chuồng nữa, có cái nhốt mãng xà có cánh Ả Rập, có cái nhốt một con ngựa có lẽ thuộc loại phun lửa ăn thịt. (Ta từng có ý định dùng chúng để đánh xe mặt trời, nhưng chăm sóc chúng cực quá.)
Cô phù thủy đứng khựng lại ở ô cửa kế tiếp. “Apollo, lại đây.”
Phía sau tấm kính là hai con điểu sư.
Emmie và Josephine nói đúng. Chúng quá đẹp.
Qua nhiều thế kỉ, với môi trường sống tự nhiên bị thu hẹp, loài điểu sư hoang dã dần trở nên gầy gò, nhỏ hơn và hung hãn hơn thời cổ đại. (Loài chồn ba mắt và lửng xì hơi khổng lồ sắp tuyệt chủng cũng tương tự.) Chỉ còn rất ít điều sư lớn đến mức có thể chở được người.
Cặp điểu sư đực cái trước mặt bọn ta đây lại lớn bằng đúng kích cỡ sư tử. Bộ lông nâu nhạt ánh lên như bộ chiến giáp. Đôi cánh đỏ nâu vương giả gấp dọc thân. Cái đầu chim ưng tua tủa những sợi lông vàng và trắng. Ngày xưa, một vị vua Hy Lạp phải trả cả một chiến thuyền chở đầy hồng ngọc mới mong có được một cặp điểu sư thế này.
Tạ trời đất, ta không thấy dấu hiệu bị hành hạ nào ở hai con vật. Tuy nhiên, chúng đều bị xích chân sau. Điểu sư trở nên rất cáu kỉnh nếu bị giam cầm hay bó buộc dưới mọi hình thức. Ngay khi con đực, Abelard, vừa nhìn thấy hai ta, nó liền táp tới, đập cánh kêu quang quác. Nó bấu móng xuống cát, giật mạnh sợi xích hòng rướn về phía bọn ta.
Con cái lùi vào chỗ tối, kêu rù rù như một con chó hoảng sợ. Nó lắc lư qua lại, cái bụng xệ xuống gần sát mặt đất như thể
“Ôi không.” Ta e rằng quả tim người trần yếu ớt của mình sẽ vỡ tung mất. “Hèn gì Britomartis lại nhất quyết đòi cứu chúng.”
Calypso như bị mê hoặc bởi cặp thú. Cô khó khăn lắm mới tập trung sang ta được. “Anh nói sao?”
“Con cái đang mang trứng. Nó cần làm tổ ngay lập tức. Chúng ta mà không kịp đưa nó về Ga Xép…”
Sắc mặt Calypso đanh lại, sắc như răng đà điểu. “Liệu Helolse có bay khỏi đây nổi không?”
“Ta… ta nghĩ vậy. Em gái ta rành về động vật hoang dã hơn, nhưng ừ.”
“Một con điểu sư sắp sinh chở người nổi không?”
“Chúng ta đâu còn lựa chọn nào khác, đành thử thôi.” Ta chỉ lên tấm lưới phía trên đấu trường. “Đó là đường ra nhanh nhất, giả sử chúng ta mở được khóa cho cặp điểu sư
và gỡ được cái lưới. Vấn đề là Heloise và Abelard sẽ không xem chúng ta là bạn đâu. Chúng bị xiềng xích. Chúng bị cầm tù. Chúng sắp có con. Chúng sẽ xé xác hai ta ngay khi đến gần.”
Calypso khoanh tay. “Thế còn âm nhạc? Hầu hết động vật đều thích âm nhạc.”
Ta nhớ lại cách mình dùng tiếng hát để mê hoặc đàn kiến myrmeke ở Trại Con Lai. Nhưng ta thật sự không muốn hát về những thất bại của mình lần nữa, nhất là trước mặt bạn đồng hành.
Ta liếc ra sau đường hầm. Vẫn không thấy bóng dáng Lltyerses hay lũ thuộc hạ, nhưng không vì thế mà ta thấy khá hơn. Đúng lí chúng phải đến đây rồi…
“Chúng ta phải nhanh lên,” ta nói.
Vấn đề đầu tiên quá dễ: tấm kính chống đạn. Ta lí luận rằng phải có công tắc ở đâu đó để hạ tấm kính xuống hòng thả mấy con thú ra. Ta leo lên hàng ghế khán giả với sự trợ giúp của bậc thang mang tên Calypso, tìm thấy bảng điều khiển đặt cạnh chiếc ghế duy nhất có lót đệm trong toàn đấu trường, rõ ràng là dành riêng cho tên hoàng đế những khi hắn muốn kiểm tra tiến độ huấn luyện bầy quái thú.
Tiện thay, mỗi cái cần gạt đều dán băng keo giấy, trên ghi bằng bút lông. Một cái ghi: ĐIỂU SƯ.
Ta gọi Calypso đứng bên dưới, “Sẵn sàng chưa?”
Cô đứng ngay trước chuồng điểu sư, hai tay giơ ra như chuẩn bị chụp một trái trứng bay tới. “Trong trường hợp này thì chuẩn bị để làm cái gì đây?”
Ta gạt cần lên. Với một tiếng thịch nặng nề, tấm kính của chuồng điểu sư rút xuống, biến mất qua khe cửa.
Ta nhảy xuống cạnh Calypso, cô đang ngâm nga một bài hát ru. Hai con điểu sư chẳng hề ấn tượng. Heloise gầm vang, nép sát người vào vách tường cuối chuồng. Abelard giật mạnh sợi xích chân hơn nữa, cố nhào tới cắn đứt đầu bọn ta.
Calypso giao gói khoai cho ta. Cô hất cằm về phía cái chuồng.
“Cô giỡn đấy à?” Ta nói. “Ta mà tới gần cho chúng ăn là chúng ăn ta ngay đấy.”
Cô thôi ngâm nga. “Không phải anh là thần của những loại vũ khí tầm xa sao? Cứ ném viên khoai đi!”
Ta ngẩng đầu nhìn trời cao sau tấm lưới, tiện thể mà nói là một ẩn dụ vô duyên và hoàn toàn thừa thãi về cảnh lưu đày khỏi Olympus của ta. “Calypso à, cô có biết chút gì về loài thú này không vậy? Để lấy được lòng tin của chúng, cô phải cho chúng ăn bằng tay, cho ngón tay vào trong mỏ chúng. Điều đó nhấn mạnh rằng thức ăn đến từ chính cô, với tư cách chim mẹ.”
“Hừm.” Calypso cắn môi. “Tôi nhìn ra vấn đề rồi. Anh là một con chim mẹ quá tồi.”
Abelard nhào tới, kêu quạc vào mặt ta. Ai cũng ưa chỉ trích.
Calypso gật đầu như vừa hạ quyết định. “Sẽ cần đến cả hai người chúng ta. Chúng ta sẽ song ca. Giọng anh nghe cũng được.”
“Giọng tạ…” Mồm ta cứng đờ vì sốc. Bảo ta, vị thần âm nhạc, rằng giọng ta nghe cũng được chẳng khác nào bảo siêu sao bóng rổ Shaquille O’Neal ném bóng không tồi, hay xạ thủ cự phách Annie Oakley bắn súng tương đối chuẩn.
Nhưng xét lại, ta chẳng phải là Apollo. Ta là Lester Papadopoulos. Hồi ở trại, vì đau khổ trước năng lực con người kém cỏi, ta đã thề trên sông Styx rằng sẽ không bắn cung hay chơi nhạc đến khi nào trở lại là thần. Ngay sau đó, ta đã phá vỡ lời thề bằng cách hát cho một đàn myrmeke, vì lí do chính đáng nhé, nói cho mà biết. Kể từ đó, ta đã sống trong sợ hãi, không biết bao giờ và bằng cách nào sông Styx sẽ trừng phạt mình. Có lẽ thay vì một khoảnh khắc trừng phạt hoành tráng, ta sẽ phải chết dần chết mòn bởi hàng ngàn lời sỉ nhục. Một vị thần âm nhạc có thể chịu được bao nhiêu lần câu giọng nghe cũng được trước khi rã thành một đống bụi tự ti đây?
“Được rồi.” Ta thở dài. “Chúng ta song ca bài nào? ‘Islands in the Stream’ nhé?”
“Không biết.”
“I Got You, Babe’?”
“Thua luôn.”
“Thần linh ơi, ta chắc chắn đã điểm qua mục văn hóa đại chúng thập niên 1970 cho cô rồi mà.”
“Cái bài Zeus hay hát là gì ấy nhỉ?”
Ta chớp mắt. “Zeus… hát sao?” Khái niệm đó khá là dễ sợ. Cha ta nổ sấm. Cha ta trừng phạt. Cha ta quát mắng. Cha ta quắc mắt như một nhà vô địch. Nhưng cha ta không bao giờ hát.
Ánh mắt Calypso lộ nét mơ màng. “Trong cung điện trên đỉnh Othrys ấy, lúc làm người hầu rượu cho Kronos, Zeus thường mua vui cho triều thần bằng những bài hát.”
Ta bứt rứt cựa người. “Ta… lúc đó ta chưa ra đời.”
Tất nhiên ta biết Calypso lớn tuổi hơn mình, nhưng ta chưa từng xét kĩ xem điều đó có ý nghĩa thế nào. Hồi những Titan còn cai trị vũ trụ, trước khi những vị thần nổi dậy và Zeus trở thành vua, Calypso không nghi ngờ gì từng là một cô bé vô tư, một đứa con của tướng Atlas, tung tăng chạy khắp cung điện và chọc phá những gia nhân vô hình. Lạy các thần. Calypso lớn đến mức có thể làm bảo mẫu cho ta ấy chứ
“Chắc hẳn anh biết bài đó.” Calypso bắt đầu cất tiếng hát.
Luồng điện râm ran sau gáy ta. Ta có biết bài này. Kí ức xa xưa quay về, với Zeus và Leto cùng hát giai điệu này khi ông đến thăm hai đứa con nhỏ trên đảo Delos, Artemis và ta.
Cha và mẹ, bị định mệnh chia lìa bởi Zeus là vị thần đã có vợ. Họ đã hát cùng nhau trong hạnh phúc. Mắt ta nhòa lệ. Ta đảm nhận đoạn thấp hơn trong bản tình ca.
Đó là một bài hát xưa hơn cả những vương triều, nó hát về đôi tình nhân chịu cảnh xa cách luôn mong ngóng được về bên nhau.
Calypso nhích về phía cặp điểu sư. Ta theo sau, không phải vì ta sợ đi đầu nhé, nói cho mà biết. Ai ai cũng biết khi tiến vào nơi nguy hiểm, giọng nữ cao luôn đi đầu. Họ là đội bộ binh, trong khi giọng nữ trầm và nam cao là kị binh, còn giọng nam trầm là pháo binh. Ta đã giải thích cho Ares đến cả triệu lần, nhưng hắn vẫn chả hiểu tí gì về âm luật.
Abelard thôi giật dây xích. Nó lẳng lặng đi qua đi lại, rỉa rỉa lông, kêu cục cục như một con gà trong ổ. Giọng Calypso nghe sao mà ai oán và đậm những u sầu. Ta chợt nhận ra cô cảm thông sâu sắc với những con vật này. Bị giam cầm, bị xiềng xích, mong mỏi một bầu trời tự do. Có lẽ, ta nghĩ, có lẽ thôi nhé, hình phạt lưu đày ra đảo Ogygla của Calypso thật kinh khủng hơn tình cảnh ta lúc này. Chí ít ta còn có bạn bè cùng chia sẻ hoạn nạn. Ta thấy hối hận vì đã không đồng ý thả cô khỏi đảo sớm hơn, nhưng giờ ta có xin lỗi, cô cũng đâu việc gì phải tha thứ cho ta? Tất cả đã là sông Styx trôi qua cổng vào Erebos. Chẳng còn gì để nói nữa.
Calypso đặt tay lên đầu Abelard. Con vật có thể dễ dàng ngoạm đứt tay cô, nhưng nó chỉ cúi người, dúi đầu tới như một chú mèo. Calypso quỳ xuống, rút ra một cây kẹp tăm nữa và bắt đầu mở cùm chân cho con điểu sư.
Trong lúc cô hí hoáy mở khóa, ta cố gắng giữ ánh mắt Abelard nơi mình. Ta hát ở mức được nhất có thể, truyền tải nỗi buồn cùng cảm thông vào lời ca, hy vọng Abelard nhận ra ta cũng là kẻ đồng chung cảnh ngộ.
Calypso mở được khóa. Với một tiếng canh, cái cùm sắt rơi khỏi chân Abelard. Calypso tiến về phía Heloise, một nhiệm vụ khó nhằn hơn nhiều, lại gần một bà mẹ sắp sinh. Heloise gầm lên nghi ngại, nhưng không tấn công.
Bọn ta tiếp tục hát, giọng đạt đến độ cao hoàn hảo, quyện lấy nhau trong một khúc giao hòa trọn vẹn. Cùng tạo nên một điều gì đó vĩ đại hơn cả sự kết hợp đơn thuần giữa hai cá nhân.
Calypso cởi xích cho Helolse. Cô lùi lại, đứng vai kề vai với ta và cùng nhau kết thúc câu cuối: Ngày nào các vị thần còn tồn tại, ngày đấy đôi ta còn yêu nhau.
Cặp điểu sư nhìn bọn ta chòng chọc. Giờ chúng có vẻ hứng thú hơn là tức giận.
“Khoai,” Calypso nói.
Ta đổ nửa gói khoai ra lòng bàn tay cô.
Ta không thích ý tưởng mất hết hai tay. Tay là bộ phận có ích. Tuy nhiên, ta vẫn chìa bàn tay đổ đầy khoai viên bọc vàng cho Abelard. Con vật nhích tới, hít hít. Nó há mỏ, ta đưa tay vào trong, đặt chỗ khoai viên lên chiếc lưỡi ấm nóng. Như một quý ông thực thụ, nó chờ ta rút hẳn lại rồi mới nuốt chỗ thức ăn xuống.
Lông cổ nó xẹp xuống, nó quay ra kêu quác với Heloise, Ừ, đồ ăn ngon. Tới đây đủ!
Calypso cho Heloise ăn. Con điểu sư mái dụi đầu vào người cô phù thủy, một cử chỉ trìu mến thấy rõ.
Trong thoáng giây, ta không khỏi nhẹ nhõm. Phấn chấn. Bọn ta đã thành công. Thế rồi sau lưng bọn ta, tiếng vỗ tay vang lên. Đứng ngay cửa chuồng trong bộ dạng đẫm máu và sây sát, song vẫn sống nhăn răng, chính là Lityerses.
“Tốt lắm,” gã kiếm sĩ nói. “Hai ngươi đã tìm được nơi an táng lí tưởng cho mình.”