Boulogne — Những chuyến thăm Pháp — Cư trú lần đầu — Khu phố ngư dân — Villa des Moulineaux — Ông Beaucourt — Chủ nhà và người thuê — Vật giá ở Pháp — Chuyến thăm Anh của Beaucourt — Chuẩn bị cho hội chợ — Bạn bè người Anh — Trại quân sự miền Bắc — Hoàng tử Albert đến thăm — Cuộc duyệt binh lớn — Sự phấn khích của Beaucourt — Hoàng đế, Hoàng tử và Dickens — Thủy thủ Anh — Ảo thuật đỉnh cao — Màn hóa phép của Dickens — Biến bài thành ác quỷ — Quay lại chốn cũ — Hồi kết của trại quân sự — Cuộc chiến trong nhà — Kẻ thù lông lá — Tình trạng giới nghiêm — Chuẩn bị cho lễ Giáng sinh — Gilbert A'Beckett.
Dickens ở Boulogne vào năm 1853, từ giữa tháng Sáu đến cuối tháng Chín, và trong ba tháng tiếp theo, như chúng ta đã thấy, ông ở Thụy Sĩ và Ý. Sang năm sau, ông lại đến Boulogne vào tháng Sáu, và ở lại đó cho đến tận sâu trong tháng Mười, sau khi hoàn thành tiểu thuyết Thời Khó Khăn. Vào tháng Hai năm 1855, ông có hai tuần ở Paris cùng ông Wilkie Collins; nhưng mãi đến mùa đông ông mới dọn đến ở lâu dài hơn. Từ tháng 11 năm 1855 đến cuối tháng 4 năm 1856, ông chọn thủ đô nước Pháp làm chốn dung thân, miệt mài sáng tác cuốn Dorrit Nhỏ suốt những tháng ngày ấy. Sau đó, trải qua một tháng nghỉ ngơi ở Dover và London, ông bắt đầu kỳ cư trú mùa hè thứ ba tại Boulogne — nơi các con nhỏ của ông đã đi thẳng từ Paris tới — và ở lại cho đến tháng Chín, rồi hoàn thành Dorrit Nhỏ tại London vào mùa xuân năm 1857.
Về chuyến thăm đầu tiên trong số này, một vài ghi chép sinh động đầy hài hước và khắc họa tính cách trích từ thư từ của ông sẽ kể lại câu chuyện một cách trọn vẹn. Chuyến thứ hai và thứ ba có nhiều điểm hấp dẫn hơn. Đó là những năm tháng của liên minh Pháp - Anh, của triển lãm tranh Anh quốc vĩ đại, của đoàn quân từ Crimea khải hoàn, và chuyến thăm của Hoàng tế tới Hoàng đế; sự quan tâm mà Dickens dành cho những vấn đề này hiện lên trong thư từ của ông với vẻ sống động quen thuộc, và câu chuyện về cuộc đời ông ở lục địa bộc lộ một cách vô cùng rõ nét qua những bức tranh nối tiếp nhau được khắc họa với biết bao sắc thái ấm áp. Một chương khác sẽ dành riêng cho Paris. Chương này chỉ bàn về Boulogne.
Cho kỳ cư trú mùa hè đầu tiên vào tháng Sáu năm 1853, ông đã thuê một ngôi nhà nằm trên vùng đất cao gần con đường đi Calais; một chốn kỳ lạ mang phong cách Pháp với những căn phòng và sảnh nhỏ đến lạ lùng, nhưng lại tọa lạc giữa một khu vườn rộng lớn, có rừng cây và thác nước, một nhà kính mở ra khóm hồng bạt ngàn, cùng những lối đi và cánh cổng dẫn một bên ra chiến lũy, một bên hướng ra biển. Hơn hết thảy, nơi đây có một chủ nhà kiêm chủ đất tuyệt vời, người chịu mọi chi phí duy trì khu vườn và khu rừng (mà ông gọi là khu rừng lớn), đồng thời cho người thuê toàn quyền sử dụng cả hai cùng toàn bộ hoa trái hoàn toàn miễn phí, bán hoa lợi trong vườn cho ông tùy theo nhu cầu, lại nuôi một con bò trong điền trang để cung cấp sữa cho gia đình. Dickens đã viết thế này: "Ước gì nơi này cách xa thêm ba trăm dặm nữa, người Anh sẽ phải phát cuồng vì nó biết nhường nào! Ta đoan chắc rằng ở chốn này có những con người, thị trấn và vùng thôn quê đẹp như tranh vẽ, hoàn toàn làm thỏa mãn tầm nhìn và trí tưởng tượng. Còn về những người dân chài (với trang phục dường như chẳng hề thay đổi về màu sắc lẫn kiểu dáng suốt bao nhiêu năm trời) cùng khu phố của họ với những tấm lưới nâu khổng lồ giăng mắc như mạng nhện ngang qua các con đường dốc hẹp, chúng chẳng kém gì Napoli cả đâu." Miêu tả của ông về cả ngôi nhà lẫn người chủ nhà — mà tôi từng kiểm chứng độ chính xác khi đến thăm ông — vẫn mang giọng điệu vui tươi quen thuộc; chẳng cần phải gắn kết với bản thân ông mới tạo nên sự thú vị, mà chính nhờ vẻ duyên dáng và sự tự nhiên khi mọi nét đẹp hay đặc trưng được hé lộ, nó đã thuộc về lĩnh vực nghệ thuật.
"Ôi cơn mưa ngày hôm qua ở đây!" (Ngày 26 tháng Sáu.) "Một màn sương mù biển cuồn cuộn kéo vào, gió thổi lồng lộng, và mưa xối xả suốt cả ngày trời. . . . Ngôi nhà này nằm trên một sườn đồi lớn, tựa lưng vào những khu rừng non. Nó đối diện với Haute Ville cùng những bức thành lũy và nhà thờ chưa hoàn thành — khung cảnh tuyệt vời ấy nằm ngay trước các ô cửa sổ. Trên sườn dốc phía trước, dốc thốc xuống phía bên phải, toàn bộ Boulogne tụ hội và chồng chất lên nhau theo một cách vô cùng đẹp như tranh vẽ. Cảnh quan thật mê hồn — được khép lại ở phía xa bằng những đỉnh đồi trập trùng; và từ cửa nhà chỉ mất mười phút đi bộ là đến bưu điện, mười lăm phút là ra tới biển. Khu vườn được thiết kế thành các bậc thang sườn đồi, giống như một khu vườn Ý; những lối đi ở tầng trên nằm trong khu rừng đã nhắc đến ở trên. Phần đẹp nhất bắt đầu từ cao độ của ngôi nhà và chạy ngược ra phía sau, có lẽ cao khoảng hai trăm bước chân. Hiện tại có hàng vạn bông hồng quanh nhà, cùng vô số các loài hoa khác. Có năm nhà hóng mát lớn, và (tôi nghĩ là) mười lăm đài phun nước — nhưng chẳng có lấy một đài nào (theo phong cách Pháp muôn thuở) chịu hoạt động. Ngôi nhà giống như nhà búp bê nhiều phòng. Nó cao một tầng, với ba mươi tám bậc lên xuống theo kiểu khán đài để dẫn ra cửa trước: màn trình diễn mang đậm chất Pháp nhất mà tôi từng thấy. Đây là một ngôi nhà kép; và vì ở mặt trước chỉ có bốn cửa sổ và một lỗ châu mai, hẳn bạn sẽ đoán nó chỉ có chừng bốn phòng. Do được xây trên sườn dồi, tầng trên cùng của ngôi nhà ở phía sau — nơi có hai tầng — mở ra cao độ của một khu vườn khác. Ở tầng trệt có một sảnh đón rất xinh xắn, hầu như lắp toàn kính; một phòng ăn nhỏ mở ra nhà kính tuyệt đẹp, nơi cũng có thể nhìn xuyên qua một tấm kính trong suốt lớn gắn trên khung gương bên trên lò sưởi, y hệt như căn phòng của Paxton tại Chatsworth, một phòng ngủ phụ, hai phòng khách nhỏ thông nhau, các phòng ngủ gia đình, một phòng tắm, một hành lang kính, một sân trời, và một kiểu nhà bếp với hệ thống bếp lò và nồi hơi. Phía trên có tám phòng ngủ tí xíu cùng mở ra một gian phòng lớn dưới mái nhà, vốn ban đầu được định dùng làm phòng bida. Dưới tầng hầm có một nhà bếp tuyệt vời với mọi vật dụng cần thiết không thể tưởng tượng nổi, một hầm rượu tuyệt hảo, phòng và phòng đựng thức ăn cho nam gia nhân hạng nhất; nhà xe, chuồng ngựa, kho than và kho củi; còn trong vườn có một pavilion, chứa một phòng ngủ phụ xuất sắc ở tầng trệt. Việc bố trí những không gian này, những chiếc gương soi, đồng hồ, bếp lò nhỏ, đủ mọi loại phụ kiện, phải tận mắt chứng kiến mới có thể cảm nhận hết được. Nhà kính ngập tràn những loài hoa chọn lọc và đẹp đến hoàn mỹ."
Rồi đến phần hấp dẫn nhất của bức thư, phần miêu tả chủ nhà của ông, được phác họa nhẹ nhàng trên bản in là M. Devasuer-Loyal, nhưng ở đây lại được tô điểm bằng những nét vẽ thu hút nhất mà bàn tay trìu mến của ông có thể trao tặng. "Nhưng người chủ nhà — ông Beaucourt — thật kỳ diệu. Mọi người ở đây đều có hai họ (tôi không tài nào hiểu nổi tại sao), và ông Beaucourt, theo cách gọi thường ngày, đúng ra là M. Beaucourt-Mutuel. Ông ấy là một người đàn ông mập mạp, vui vẻ với gương mặt rộng rãi, cởi mở; sống ở ngọn đồi phía sau, ngay sát phía ngoài phần trên của khu vườn; từng là chủ tiệm vải trong thị trấn, nơi ông vẫn giữ một cửa hàng, nhưng người ta đồn rằng ông đã thế chấp công việc kinh doanh của mình và đang gặp khó khăn — tất cả cũng chỉ vì cơ ngơi này, thứ mà ông đã tự tay vun trồng; ngày ngày chăm sóc; và chưa bao giờ, dưới bất kỳ lý do gì, nhắc đến nó mà không gọi là 'Điền trang'. Ông cực kỳ được yêu mến ở Boulogne (những người bán hàng trong các cửa tiệm luôn bừng sáng khuôn mặt mỗi khi nhắc đến tên ông, và chúc mừng chúng tôi vì đã trở thành người thuê nhà của ông ấy), và thực sự ông xứng đáng với điều đó. Ông là một con người hào phóng đến mức tôi không nỡ đòi hỏi ông bất cứ điều gì, bởi vì bất kể là gì đi nữa, ông cũng lập tức đáp ứng ngay. Những việc ông đã làm đối với những chiếc giường ngủ và bàn rửa mặt vô lý đến mức tôi thấy đỏ mặt khi nghĩ đến. Mới hôm nọ, tôi quan sát thấy ở một trong những khu vườn bên — quanh nhà cũng có những khu vườn ở mỗi bên — một chỗ mà tôi nghĩ tên Chàng Nhà Quê Hài Hước" (cái tên mà lúc bấy giờ ông dùng để gọi cậu con trai út của mình) "chắc chắn sẽ vấp phải, và ngã nhào xuống một đoạn chừng mười hai thước. Thế là tôi nói: 'Thưa ông Beaucourt' — người ngay lập tức cởi mũ và đứng trần đầu — 'có mấy khúc gỗ thừa vứt gần chuồng bò, nếu ông có lòng đặt một thanh bắc ngang qua đây, tôi nghĩ sẽ an toàn hơn.' 'Ôi, lạy Chúa tôi, thưa ngài,' ông Beaucourt đáp, 'phải bằng sắt chứ. Đây không phải là phần điền trang mà ngài lại muốn nhìn thấy gỗ đâu.' 'Nhưng sắt đắt lắm,' tôi bảo, 'và thực sự thì không đáng...' 'Thưa ngài, xin ngài thứ lỗi cho tôi ngàn lần,' ông Beaucourt nói, 'nhất định phải là sắt. Chắc chắn và hoàn toàn phải bằng sắt.' 'Vậy thưa ông Beaucourt,' tôi nói, 'tôi rất sẵn lòng chi trả một nửa chi phí.' 'Thưa ngài,' ông Beaucourt thốt lên, 'Không bao giờ!' Rồi để chuyển đổi chủ đề, ông chuyển từ vẻ kiên quyết, nghiêm nghị sang giọng điệu trò chuyện tao nhã, và nói: 'Dưới ánh trăng đêm qua, những bông hoa trên điền trang, lạy Chúa, trông như đang đắm mình trong bầu trời. Ngài thích điền trang này chứ?' 'Thưa ông Beaucourt,' tôi đáp, 'tôi mê mẩn nó; tôi vô cùng hài lòng với mọi thứ.' 'Và tôi cũng vậy, thưa ngài,' ông Beaucourt nói, đặt chiếc mũ lên ngực và hôn nhẹ lên bàn tay — 'Tôi cũng thế!' Hôm qua, hai thợ rèn đã đến làm việc trong một ngày, và dựng lên một đoạn rãnh sắt đẹp đẽ, vững chắc, được khảm chặt vào lan can đá. . . . Nếu những điều kỳ lạ trong ngôi nhà thách thức mọi miêu tả, thì những hiện tượng kinh ngạc trong khu vườn chắc chắn chưa từng xuất hiện trong giấc mơ của bất kỳ ai ngoại trừ một người Pháp tôn sùng một ý tưởng duy nhất. Bên cạnh bức tranh vẽ ngôi nhà trong phòng ăn, còn có một sơ đồ điền trang ở sảnh. Trông nó có vẻ rộng bằng cả đất nước Ireland; và ứng với mỗi một trong những vật thể kỳ lạ ấy, đều có các mục chú thích kèm theo những cái tên vô cùng ghê gớm. Có tới năm mươi mốt mục chú thích như vậy, bao gồm Cúp-lê của Tom Thumb, Cầu Austerlitz, Cầu Jena, Am thất, Vòm cây của Đội cận vệ Già, Mê cung (tôi hoàn toàn không biết cái nào với cái nào); đồng thời có cả chỉ dẫn đến từng căn phòng trong ngôi nhà, cứ như thể nó là một công trình vĩ đại đến mức nếu không có tấm bản đồ chỉ đường ấy, bạn chắc chắn sẽ lạc lối, và có lẽ sẽ chết đói giữa phòng ngủ này với phòng ngủ khác."
Vào ngày mùng 3 tháng Bảy, lại xuất hiện một nét tính cách tuyệt vời nữa của người chủ nhà tốt bụng. "Hãy tưởng tượng những gì Beaucourt đã kể với tôi tối qua. Khi ông ấy 'nảy sinh cảm hứng' trồng cây cho điền trang này mười năm trước, ông đã sang Anh để mua cây, thuê một ngôi nhà nhỏ trong khu chợ vườn ở Putney, sống ở đó ba tháng, tổ chức một buổi đàm đạo mỗi đêm với sự tham dự của các nhà làm vườn chính ở Fulham, Putney, Kew và Hammersmith (nơi ông gọi là Hamsterdam), và kết thúc bằng một bữa tiệc tối mà ở đó các nhà làm vườn chợ hoa đã đứng dậy, chạm ly và đồng thanh thốt lên (tôi trích nguyên văn lời ông ấy) Vive Beaucourt! Ông ấy từng là đại đội trưởng trong Lực lượng Vệ quốc, còn Cavaignac là tướng quân của ông. Viên đại đội trưởng Beaucourt dũng cảm! Cavaignac nói, anh phải nhận một huân chương. Thưa Tướng quân, Beaucourt đáp, Không! Chỉ cần tôi hoàn thành nhiệm vụ là đủ rồi. Tôi đi đặt viên đá đầu tiên cho ngôi nhà trên Điền trang tôi đang có — ngôi nhà ấy sẽ là huân chương của tôi. (Hãy ngước nhìn ngôi nhà đó đi!)" Bức tranh được tô điểm thêm bằng một bức thư đề ngày 24 tháng Bảy: với một cái nhìn kỳ thú về vở kịch Shakespeare tại nhà hát, và khu chợ bán lợn ngày thứ Bảy.
"Tôi xin được phép nhắc đến việc ngài Beaucourt vĩ đại hàng ngày lại thay đổi cách viết chính tả của nơi này. Giờ đây ông đã cố định nó bằng cách cho sơn dòng chữ bên ngoài cổng vườn: 'Entrée particulière de la Villa des Moulineaux.' Trên một chiếc cổng khác cao hơn một chút, ông cho sơn: 'Entrée des Ecuries de la Villa des Moulineaux.' Trên một chiếc cổng khác thấp hơn một chút (dành cho một trong vô số các công trình trong vườn), 'Entrée du Tom Pouce.' Trên chiếc cổng cao nhất trong số đó, dẫn thẳng đến nhà ông, 'Entrée du Château Napoléonienne.' Tất cả những dòng chữ khắc này bạn sẽ được chiêm ngưỡng bằng màu đen và trắng khi bạn đến đây. Bây giờ tôi ít gặp ông ấy hơn, vì mọi thứ đã 'bien arrangées' (được sắp xếp ổn thỏa), ông ngại xuất hiện. Vợ ông đã có chuyến đi du lịch về vùng quê trong suốt ba tuần qua, nhưng (như ông đã nói với tôi trong tay cầm chiếc mũ) ông cần phải ở lại đây, để luôn sẵn sàng phục vụ người thuê Điền trang. (Để làm việc này tốt hơn, ông liên tục tổ chức những bữa tiệc tối ồn ào mười lăm người mỗi ngày; và người phụ nữ già vắt sữa bò đã ngất lên ngất xuống trên sườn đồi dưới những gánh nặng champagne khổng lồ.)"
"Chúng tôi đã đến nhà hát tối qua để xem Giấc Mộng Đêm Hè — phiên bản của Opera Comique. Giờ đây đó là một nhà hát nhỏ rất đẹp, với một đoàn kịch xuất sắc; và sự ngớ ngẩn của vở kịch được thể hiện với một tinh thần khiến người ta phải kinh ngạc trong hoàn cảnh đó. Willy Am Shay Kes Peer; Sirzhon Foll Stayffe; Lor Lattimeer; và Nữ quan danh dự lừng danh của Nữ hoàng Elizabeth, Meees Oleeveeir — là những nhân vật chính."
"Bên ngoài thị trấn cổ, một đội quân thợ thuyền đang (và đã từ khoảng một tuần nay rồi) làm việc tại một công trình khổng lồ mà tôi đoán có thể là một Pháo đài, hoặc một Tu viện, hoặc một Trại lính, hay thứ gì đó được thiết kế để tồn tại qua muôn đời. Tôi phát hiện ra nó được làm cho hội chợ thường niên, bắt đầu từ mùng năm tháng Tám và kéo dài trong hai tuần. Hầu như Chủ nhật nào chúng ta cũng có một lễ hội ngoài trời, nơi mọi người khiêu vũ, và những người đàn ông to lớn với bộ râu khủng khiếp quay cuồng trên những con ngựa gỗ nhỏ giống như chiếc bàn là Ý, trên thứ mà chúng ta những kẻ ở hải đảo gọi là vòng quay ngựa gỗ, kéo dài hàng giờ liền. Nhưng thực sự sự vui vẻ và tinh thần sảng khoái rất đáng yêu. Giữa những cảnh tượng khác của nơi này, có một khu chợ lợn vào mỗi thứ Bảy, vô cùng kỳ cục đến không thể chịu nổi. Một người nông dân Pháp đầy phấn khích, nam hay nữ, cùng một chú lợn con đầy quyết tâm, là cảnh tượng tuyệt diệu nhất. Tôi đã chứng kiến một Tiểu kịch được dàn dựng vào tuần trước, với sự hài hước hoàn hảo. Nhân vật: 1. Một thiếu nữ xinh đẹp mặc váy ngắn và đôi tất xanh gọn gàng, cưỡi một con lợn và hai cái giỏ trên lưng lừa. 2. Một lão nông mặc áo blouse, lùa bốn con lợn, điều khiển cỗ xe bốn con với chiếc roi khổng lồ — và bị kéo đâm vào tường hay những tiệm bán đồ hút thuốc bởi bất kỳ con nào trong số bốn con lợn. 3. Một chiếc xe bò, với một con lợn già (bị cùm) ngó đầu ra từ trong đó, làm cho sáu trăm năm mươi chú lợn con trong chợ hoảng sợ bởi tiếng ục ục kinh hoàng của nó. 4. Nhân viên thu thuế Octroi đội chiếc mũ sừng cừu khổng lồ, với dòng lũ lợn con chạy ngang dọc, ngày đêm, giữa đôi bốt quân đội của hắn khiến việc tính toán trở thành bất khả thi. 5. Kẻ bất kham, đối mặt với đám lợn già tỏa ra xung quanh, mỗi con bị buộc một chân vào cọc cắm trên mặt đất. 6. John Edmund Reade, nhà thơ, bày tỏ sự tận tụy và ngưỡng mộ vĩnh cửu đối với Landor, hoàn toàn không hay biết về chú lợn vừa sổng chuồng từ chiếc xe đẩy đang lao đến. 7. Các linh mục, nông dân, binh lính, v.v. v.v."
Trong khi đó, ông đã quy tụ những người bạn quanh mình. Frank Stone cùng gia đình sang ở ngôi nhà mà Dickens đã thuê giúp trên đường tới St. Omer, người sau đó cũng có sự góp mặt của vợ chồng ông Leech và ông Wilkie Collins trong lâu đài nhỏ. "Leech kể rằng khi ông bước xuống thuyền sau chuyến vượt biển đầy giông bão, ông đã được đám đông khán giả tụ tập chào đón bằng những tràng vỗ tay giòn giã như thể ông là kẻ trông thảm hại nhất, khốn khổ nhất và không thể diễn tả nổi từng xuất hiện trước đó. Tiếng cười vang lên náo động, và ông muốn bạn bè biết rằng tổng cộng ông đã đạt được một thành công vang dội." Những tháng mùa hè cứ thế trôi qua: những chuyến đi chơi cùng những người bạn này đến Amiens và Beauvais giúp xua tan căng thẳng trong công việc viết tiểu thuyết, và chuyến đi Ý, như đã miêu tả, nối tiếp ngay sau khi hoàn thành nó.
Vào tháng Sáu năm 1854, ông Beaucourt lại tiếp đón vị khách thuê nổi tiếng của mình, nhưng ở một ngôi nhà nhỏ hay lâu đài khác (với ông thì hai từ này đồng nghĩa) nằm trên điền trang vô cùng quý giá ấy, tọa lạc ngay trên đỉnh đồi với con đường riêng dẫn ra Cột đài, một nơi thực sự xinh xắn, phòng ốc rộng hơn ngôi nhà trước, tầm nhìn hướng biển tuyệt đẹp, phong cảnh xung quanh tuyệt hảo, khu vườn tốt tươi và bãi cỏ thoai thoải rộng thênh thang. Nơi đó được gọi là Villa du Camp de Droite, và tại đây Dickens đã ở, như tôi đã ám chỉ, cho đến tận trước thềm kỳ cư trú mùa đông ở Paris.
Việc thành lập Trại quân sự miền Bắc tại Boulogne bắt đầu vào tuần sau khi ông hoàn thành Thời Khó Khăn, và ông đã theo dõi tiến trình của nó, khi nó lớn dần và mở rộng dọc theo các vách đá hướng về phía Calais, với sự thích thú tột độ. Ban đầu, ông cảm thấy giật mình trước sự đột ngột khi binh lính tràn ngập các con đường, được phân bổ trú đóng ở mọi ngôi nhà, biến những chiếc cầu thành màu đỏ bởi sắc phục quần của họ, và "nhảy chồm lên cầu tàu giống như cải xoong và mù tạc kỳ quái khi các chuyến tàu đến, nhiều người trong số họ chưa từng nhìn thấy biển trước đó." Nhưng kỷ luật tốt của những người lính đã mang lại hiệu quả hòa giải, và sự khéo léo của họ làm ông vô cùng thích thú. Tốc độ họ dựng lên cả những dãy nhà bằng bùn đất, ít đẹp như tranh vẽ hơn lều trại, nhưng (như hầu hết những thứ không đẹp mắt) lại thoải mái hơn, giống như một câu chuyện Nghìn Lẻ Một Đêm. "Mỗi con phố nhỏ chứa 144 người, và mỗi cửa góc đều có số hiệu phố gắn trên đó ngay khi vừa dựng xong; và những người đưa thư có thể bắt tay vào việc dễ dàng như ở phố Rue de Rivoli tại Paris." Sự kiên nhẫn của ông lại một lần nữa bị thử thách khi thấy những chiếc xe chở hành lý cày nát các lối đi yêu thích của mình, và những người thổi kèn từng tốp hai ba người đang dạy dỗ các học viên thổi kèn mới tuyển mộ ở khắp các chốn hoang dã, làm cho những tiếng vang trở nên gớm ghiếc. Nhưng điều này cũng có sự thú vị riêng của nó. "Hôm nay tôi gặp một thanh niên da ngăm rám nắng gầy guộc đến từ miền Nam đội chiếc mũ shako quân đội khổng lồ, trông hắn giống như một loại hộp diêm quẹt, rõ ràng đang thở hổn hển dưới sự bảo trợ của hai sinh vật lạng lùng toàn tóc và phổi, với bề ngang vai rộng đến mức tôi không thể nhìn thấy cúc ngực của họ khi đứng đối diện."
Sự quan tâm đạt đến đỉnh điểm khi chuyến thăm của Hoàng tế cận kề với những vinh quang đi kèm như sự kiện chiếu sáng rực rỡ và duyệt binh. Sự phấn khích của Beaucourt trở nên tột độ. Biệt thự Villa du Camp de Droite sẽ rực rỡ ánh hào quang vào đêm đoàn đến; Dickens — người đã mang theo lá cờ thiên thạch của Anh quốc và giương cao nó tung bay trên một đống cỏ khô ở cánh đồng của mình — giờ đây đã giوص lá cờ Pháp lên trên lá cờ Liên hiệp Anh để tôn vinh liên minh quốc gia; Hoàng đế sẽ lùi xuống vị trí của một sĩ quan tướng lĩnh, để mọi sự ăn mừng đều tôn vinh Hoàng tế; và sẽ có một cuộc duyệt binh ở vùng đồng bằng gần Wimereux, khi "tại một giai đoạn của các cuộc thao diễn (tôi quá phấn khích nên không thể đánh vần từ đó nhưng bạn biết ý tôi là gì mà)" toàn bộ một trăm ngàn quân trong trại phía Bắc sẽ được đặt trước mắt Hoàng tế, để cho ông thấy một sư đoàn quân đội Pháp như thế nào. "Tôi tin mọi thứ mình nghe," Dickens nói. Đó là tâm trạng của người quý ông vùng quê trong tác phẩm của Hood sau vụ hỏa hoạn ở Tòa nhà Quốc hội. "Beaucourt, với tư cách là một thành viên hội đồng thị trấn, nhận được trát hầu tòa để ra ngoài và tranh luận về điều gì đó, hoặc tiếp đón ai cứ mỗi năm phút. Bất cứ khi nào tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, hoặc bước ra cửa, tôi lại thấy một vật thể đen khổng lồ ở hiên nhà Beaucourt giống như một chiếc thuyền dựng ngược trên không với chiếc quần trắng phía dưới. Đó là chiếc mũ sừng cừu của một viên Huissier chính quyền, mới đến với trát đòi hầu tòa, ngả hẳn đầu ra sau khi đang uống rượu của Beaucourt." Cuối cùng ngày đó cũng đến, và toàn bộ Boulogne đổ ra đường đón kỳ nghỉ lễ; "nhưng tôi," Dickens viết, "lúc này đã nguội đi một chút, và dành sức cho màn iluminations (thắp sáng), tôi bỏ qua các yếu nhân và bắt đầu chuyến đi bộ đồng quê quen thuộc của mình. Hãy xem phần thưởng của tôi đây. Trên đường về theo hướng Calais, phủ đầy bụi bặm, tôi bất ngờ thấy mình đối mặt với Albert và Napoleon, thong thả cưỡi ngựa theo cách thoải mái nhất, đi phía trước một chút, trò chuyện cực lớn về phong cảnh, và được hộ tống bởi một đội ngũ rực rỡ gồm khoảng sáu bảy mươi kỵ sĩ, cùng đôi nhân viên hoàng yến mặc áo đỏ cưỡi ngựa trông khá kỳ lạ giữa các nhà thế phiệt. Tôi cởi chiếc mũ rộng Vành mà không dừng lại ngước nhìn, thế là Hoàng đế cởi chiếc mũ sừng cừu; và Albert (chắc là thấy đó là một người Anh) cũng cởi mũ. Sau đó chúng tôi đi theo những con đường riêng của mình. Ngôi ngực của Hoàng đế rộng hơn so với những ngày xưa khi chúng ta thường thấy ông ấy quá thường xuyên tại Gore-house, và vai còng hơn một chút. Quả thực vóc dáng của ông ở đó giống hệt Fonblanque." Ông miêu tả thị trấn là "một lá cờ khổng lồ" trong phần còn lại của chuyến thăm; và để góp phần vào sự thành công của màn thắp sáng, chính bản thân ông đã đi đầu rực rỡ với một trăm hai mươi cây nến sáp cháy rực ở mười bảy ô cửa sổ phía trước, có thể nhìn thấy từ độ cao lớn đó khắp nơi. "Trong lần bùng nổ đầu tiên, Beaucourt đã nhảy múa và hét lên trên bãi cỏ trước cửa; và khi bình tĩnh hơn, ông cùng phu nhân Beaucourt khởi hành đi ngắm ngôi nhà từ mọi góc độ có thể, và như ông nói, thu thập sự tán thành của những người đồng hương."
Tuy nhiên, sự tán thành của họ dường như lại hướng về một phía khác. "Thật kỳ diệu," Dickens viết, "khi chứng kiến trên các con đường những người lính dòng chính Pháp nhỏ thó túm lấy tay lính Cận vệ của chúng ta và ôm lấy họ. Thật kỳ diệu, khi nhìn thấy các thủy thủ Anh trong thị trấn bắt tay với mọi người và chung quy là nâng đỡ mọi thứ. Khi người dân không thể bắt gặp một người lính hay thủy thủ nào, họ vui mừng với những người hầu hoàng gia, và ôm chầm lấy họ. Tôi không nghĩ người dân Boulogne lại ngạc nhiên về điều gì nhiều bằng ba tiếng hoan hô mà thủy thủ đoàn của chiếc du thuyền cất lên khi Hoàng đế bước lên tàu ăn trưa. Âm lượng vang dội khủng khiếp của chúng, sự chuẩn xác, và việc không có lấy một gã lang thang theo ý mình trước hay sau đó, dường như khiến tâm trí chung ngập tràn kinh ngạc. Beaucourt nói nó giống như thi đấu quyền anh vậy." Điều đó được viết vào ngày 10 tháng Chín; nhưng chỉ vài ngày sau, Dickens miễn cưỡng bị thuyết phục rằng dù thiện chí với nước Anh có ra sao, cuộc chiến tranh với Nga hoàn toàn không được lòng dân. Ông đã có mặt khi tin đồn thất thiệt về việc chiếm được Sevastopol đến tai Hoàng đế và Hoàng hậu. "Tôi đã có mặt tại Lễ duyệt binh" (ngày 8 tháng Mười) "tuần trước, rất gần Hoàng đế và Hoàng hậu, khi việc chiếm được Sevastopol được thông báo. Đó là một buổi biểu diễn hoành tráng trong một ngày hoành tráng; và nếu có hoàn cảnh nào khiến nó trở nên đặc biệt, thì sự xuất hiện của bức điện tín hẳn là điểm chói lọi nhất mà người ta có thể tưởng tượng. Nó hoàn toàn làm tôi bối rối và hổ thẹn khi thấy đám đông hưởng ứng lời hô hào hô vang của các sĩ quan nhạt nhẽo, yếu ớt và thảm hại biết bao khi mỗi trung đoàn đi qua. Năm mươi người Anh phấn khích còn tạo ra âm thanh và tiếng vang lớn hơn cả một ngàn người này. . . . Hoàng hậu rất xinh xắn, và vóc dáng mảnh mai của bà ngồi cực kỳ uy nghi trên con ngựa xám. Khi Hoàng đế trao cho bà bức điện để đọc, mặt bà ửng đỏ và bừng sáng theo một cách rất dễ chịu, hôn lên nó với một sự thôi thúc tự nhiên đến mức bất kỳ ai cũng muốn chiêm ngưỡng."
Đêm hôm đó, Dickens đến xem một vở kịch được biểu diễn tại một quán cà phê ở trại lính, và thấy mình là một phần của khán giả hoàn toàn bao gồm các sĩ quan và binh lính, chỉ có bốn phụ nữ trong số họ là vợ các sĩ quan. Những gương mặt kiên định, làm việc và đầy lý trí xung quanh ông tự kể câu chuyện của chính họ; "còn về sự tử tế và ân cần đối với những diễn viên nghèo, đó thực sự là lòng nhân ái." Một điểm thu hút khác tại trại lính là một ảo thuật gia, người từng được mời biểu diễn hai lần trước phái đoàn hoàng gia, và người mà Dickens sau đó luôn nhắc đến như bậc thầy ảo thuật hoàn mỹ nhất mà ông từng thấy. Bản thân ông không phải là một tay mơ về lĩnh vực này, khi chính ông với những dụng cụ sẵn có cũng là một nhà ảo thuật cừ khôi; nhưng gã người Pháp chẳng mọc màng sự trợ giúp nào, đứng giữa đám đông mà không có bất kỳ dụng cụ nào, và chỉ bằng sức mạnh của sự nhanh tay cùng một trí nhớ đáng kinh ngạc, đã thực hiện những màn biểu diễn chẳng giống bất cứ thứ gì Dickens từng chứng kiến, và hoàn toàn không thể giải thích nổi trước những suy ngẫm cảnh giác nhất của ông. "Theo tôi biết, một thiên tài hoàn toàn nguyên bản, và điều đó thách thức mọi kiến thức về ảo thuật mà tôi từng tưởng tượng mình sở hữu." Bản tường thuật của ông chỉ đề cập đến hai chiến tích, dễ miêu tả nhất, và không dùng bài nên không phải là kỳ lạ nhất; vì ông cũng sẽ ca ngợi gã người Pháp này ở điểm biến những lá bài thành ác quỷ thực thụ. Ông chưa bao giờ thấy bàn tay con người nào chạm vào chúng theo cách đó, tung chúng đi kinh ngạc đến thế, hay thay đổi chúng trong tay hắn, tay mình, hay tay người khác với một kỹ năng không thể theo kịp.
"Bạn cần lưu ý rằng hắn ở cùng với đám đông, hoàn toàn không hề tách biệt khỏi họ; và chúng ta ngồi ở hàng ghế đầu. Hắn mang theo một ít giấy viết khi bước vào, và một cây bút chì đen; và hắn viết một vài từ lên những tờ giấy gấp đôi. Một trong những tờ giấy gấp đôi đó được gấp làm đôi, và đưa cho Catherine giữ. 'Thưa phu nhân,' hắn nói lớn, 'xin ngài nghĩ đến bất kỳ loại đồ vật nào?' 'Tôi đã nghĩ xong.' — 'Thuộc loại nào vậy, thưa phu nhân?' 'Động vật.' — 'Xin ngài nghĩ đến một loài động vật cụ thể, thưa phu nhân?' 'Tôi đã nghĩ xong.' — 'Loài động vật nào vậy?' 'Con sư tử.' — 'Xin ngài nghĩ đến một loại đồ vật khác, thưa phu nhân?' 'Tôi đã nghĩ xong.' — 'Loại nào vậy?' 'Hoa.' — 'Loài hoa cụ thể nào?' 'Hoa hồng.' — 'Xin ngài mở tờ giấy đang cầm trên tay.' Bà mở nó ra, và trên đó được viết gọn gàng và rõ ràng bằng bút chì — Sư tử. Hoa hồng. Hoàn toàn chẳng có gì dẫn dắt đến những từ này, và chúng là những thứ xa vời nhất có thể tưởng tượng được so với suy nghĩ của Catherine khi bước vào phòng. Hắn có một vài tấm bảng đen học sinh bình thường cỡ khoảng một foot vuông. Hắn mang một trong số đó đến chỗ một sĩ quan cấp chiến trường từ trại lính, đeo huân chương đủ kiểu, ngồi cách chúng tôi khoảng sáu người, bên cạnh là một người bạn trầm ngâm nghiêm nghị. 'Thưa Tướng quân,' hắn nói, 'xin ngài viết một tên lên tấm bảng này, sau khi bạn của ngài đã làm điều đó? Đừng cho tôi xem.' Người bạn viết một cái tên, và vị Tướng quân viết một cái tên. Nhà ảo thuật nhanh chóng giật lấy tấm bảng từ tay viên sĩ quan, ném mạnh xuống đất với mặt chữ úp xuống sàn, và yêu cầu viên sĩ quan đặt chân lên đó và giữ nguyên ở đó: ông ấy đã làm theo. Nhà ảo thuật suy nghĩ khoảng một phút, nhìn chằm chằm vào vị Tướng quân với vẻ mặt ma quái: 'Thưa Tướng quân,' hắn nói, 'bạn của ngài đã viết Dagobert, lên tấm bảng dưới chân ngài.' Người bạn thừa nhận điều đó. — 'Và ngài, thưa Tướng quân, đã viết Nicholas.' Vị Tướng quân thừa nhận điều đó, và mọi người cười vang và vỗ tay. — 'Thưa Tướng quân, xin ngài tha lỗi cho tôi, nếu tôi đổi cái tên đó thành một cái tên biểu thị sức mạnh của một quốc gia vĩ đại, trong liên minh hạnh phúc với lòng dũng cảm và tinh thần của nước Pháp sẽ làm rung chuyển cái tên đó đến tận gốc rễ?' 'Chắc chắn tôi sẽ tha lỗi.' — 'Thưa Tướng quân, hãy nhấc tấm bảng lên và đọc.' Vị Tướng quân đọc: Dagobert, Victoria. Cái đầu tiên bằng chữ viết của bạn ông; cái thứ hai bằng một nét chữ mới. Tôi chưa từng thấy bất cứ điều gì giống như thế này; hoặc bất cứ điều gì tương tự với sự chắc chắn tuyệt đối, sự quen thuộc, nhanh chóng, không có bất kỳ cỗ máy nào, và sự công bằng trực diện, tay đôi giữa nhà ảo thuật và khán giả khi nó được thực hiện. Tôi không hề có chút manh mối nào về bí mật đó. — Thêm một điều nữa. Hắn bị bịt mắt bằng mấy chiếc khăn ăn bàn, rồi một tấm vải lớn được quăng lên người và đầu hắn, khiến giọng nói của hắn vang lên cứ như thể hắn đang ở dưới gầm giường. Có lẽ nửa tá ngày tháng được viết trên một tấm bảng. Hắn cầm tấm bảng trong tay, và ném mạnh xuống sàn như trước, im lặng một phút, có vẻ như trở nên kích động, và thốt lên thế này: 'Cái gì thế này mà ta thấy? Một thành phố lớn, nhưng với những con đường hẹp và những ngôi nhà cổ kính, nhiều trong số đó bằng gỗ, đang biến thành những hoang tàn! Tại sao nó lại đổ nát thế này? Nghe kìa! Ta nghe thấy tiếng nách nắc của một đám cháy lớn, và ngước nhìn lên, ta thấy một đám mây khói và lửa khổng lồ. Mặt đất cũng ngập tràn than hồng, và mọi người đang chạy trốn ra đồng và cố gắng cứu tài sản của họ. Đám cháy lớn này, ngọn gió lớn này, tiếng gầm rú này! Đây chính là trận đại hỏa hoạn ở London, và ngày tháng đầu tiên trên tấm bảng phải là một, sáu, sáu, sáu — năm mà nó đã xảy ra!' Cứ thế với tất cả các ngày tháng khác. Nào! Bây giờ, nếu bạn chịu bắt taxi và truyền đạt những bí ẩn này cho Rogers, tôi rất vui lòng được biết ý kiến của ông ấy về chúng." Rogers từng thử thách lòng tin của chúng ta bằng một số trải nghiệm ngoại cảm kỳ diệu của chính ông ở Paris, và giờ đây lại có một sự tương đồng ở đây!
Khi rời Paris cho chuyến thăm thứ ba đến Boulogne vào đầu tháng Sáu năm 1856, ông vẫn chưa viết lấy một chữ cho chương chín của cuốn sách mới của mình, và không kỳ vọng rằng trong một tháng nữa sẽ "nhìn thấy đất liền từ biển văn chương Dorrit Nhỏ đang chảy xiết." Ông đã lấy lại ngôi nhà đầu tiên mình từng ở, ngôi nhà nhỏ hay biệt thự "des Moulineaux," và sau khi lang thang quanh khu vườn của mình vài ngày với sự chăm chỉ đáng ngạc nhiên trong bộ dạng trang phục nông dân Pháp gồm áo blouse xanh, thắt lưng da, và chiếc mũ quân đội mà ông đã đội như "thứ duy nhất mang lại sự thoải mái hoàn toàn," ông viết cho tôi rằng ông đang "Giờ đây lại làm việc — làm việc! Câu chuyện đang hiện ra trước mắt tôi, tôi hy vọng, mạnh mẽ và rõ ràng. Không dễ dàng gì để kể; nhưng không có gì thuộc loại đó là dễ dàng làm được theo như tôi biết." Khi làm việc, thói quen của ông là thức khuya, rồi hoãn chuyến đi bộ quen thuộc sang ban đêm, ngả lưng giữa những khóm hồng đọc sách cho đến tận sau giờ trà ("Tình yêu tuổi trung niên mặc áo blouse và thắt lưng"), rồi mới đi xuống cầu tàu. "Cái cầu tàu đó vào buổi chiều là một khía cạnh của nơi này mà chúng ta chưa từng thấy, và tôi hầu như chẳng biết gì. Nhưng tôi chưa bao giờ chứng kiến những mẫu mực thanh thiếu niên của đất nước tôi, nam lẫn nữ, tràn ngập nơi đó như vậy. Quả thực, trong sự thô tục và xấc xược của họ, chúng thật nản lòng làm sao. Người ta cảm thấy vô cùng xấu hổ vì họ, và chúng đối lập một cách rất tồi tệ với những người dân bản địa." Ông Wilkie Collins lại là bạn đồng hành của ông trong những tuần mùa hè, và sự hiện diện của Jerrold trong phần lớn thời gian đã mang lại cho ông rất nhiều niềm vui.
Hồi kết của trại quân sự giờ đã cận kề. Nó chỉ còn một tiểu đoàn binh lính, và vài ngày nữa sẽ tiễn họ đi. Ban đầu thời tiết thật khủng khiếp, "những cơn bão gió, những đợt mưa rào, những trận cuồng phong, không khí lạnh buốt, sương mù biển, tiếng cửa chớp đập thình thịch, cửa ra vào vỗ phần phật, và hàng trăm khóm hồng bị quật ngã; nhưng rồi lại đến một tuần tuyệt vời giữa những cánh đồng ngô và đậu, và sau đó là hồi kết. Trông nó thật kỳ lạ và thê lương. Vì đất là cát, và cỏ đã bị giẫm nát suốt hai năm qua, gió từ biển thổi cát vào các kẽ hở và gờ của tất cả các cửa sổ cửa ra vào, làm nghẹt thở chúng; — y hệt như thể chúng thuộc về những túp lều của người Ả Rập trong sa mạc. Một số hạ sĩ quan đã làm những chiếc ghế dài bằng cỏ tranh bên ngoài lều của họ, và có những dàn nhạc cỏ tranh để các ban nhạc biểu diễn; tất cả những thứ đó đang nhanh chóng bị cát vùi lấp theo một cách thức vô cùng Ai Cập. Hội chợ đang diễn ra, dưới những bức tường của haute ville ở phía bên kia. Tại một buổi biểu diễn bình dân, Malakhoff bị chiếm cứ cứ nửa giờ một lần từ 4 giờ đến 11 giờ. Những vụ nổ vang trời thông báo mọi chiến thắng của quân đội Pháp (người Anh chẳng liên quan gì đến nó); và trong những khoảng nghỉ ngơi, một kẻ bên ngoài thổi còi xe lửa — thẳng vào phòng ăn. Bạn có biết rằng những người lính Pháp gọi huy chương của Anh là 'Huy chương Trục vớt' — ngụ ý rằng họ đạt được nó vì đã cứu quân đội Anh? Tôi không nghĩ có tới một nghìn người trên toàn nước Pháp tin rằng chúng ta đã làm gì ngoài việc được người Pháp giải cứu. Và tôi tin chắc rằng kết quả con số không của cuộc điều tra quý giá ở Chelsea của chúng ta đã củng cố một cách tuyệt vời niềm tin này. Không ai ở quê nhà có được ý tưởng thỏa đáng nào, tôi vô cùng chắc chắn, về những gì mà hội Barnacles và Cục Vòng vo (Circumlocution Office) đã làm cho chúng ta. Nhưng bất cứ khi nào chúng ta vướng vào chiến tranh lần nữa, mọi người sẽ bắt đầu nhận ra."
Hộ gia đình của chính ông cũng đã vướng vào một cuộc chiến tranh nhỏ, với tổng tư lệnh là người hầu nam "French," lực lượng tham chiến chủ yếu là các con của ông, và những kẻ xâm lược là hai chú mèo. Công việc đưa ông đến London khi chiến sự nổ ra, và khi ông trở về sau vài ngày, câu chuyện về cuộc chiến đã được kể lại. "Dick," cần phải nói thêm, là một chú chim hoàng yến rất được Dickens và cô con gái lớn yêu quý, kẻ đã thuần hóa trái tim hoang dã nhỏ bé của nó bằng bàn tay trìu mến đến mức nó trở thành người bạn đồng hành ngoan ngoãn nhất. "Điều duy nhất mới mẻ trong khu vườn này là chiến tranh đang bùng nổ chống lại hai con mèo đặc biệt hổ báo và đáng sợ (chắc là từ nhà máy xay), cứ lườm nguội trong các góc tối, nhòm ngó chú chim Dick kỳ diệu nhỏ bé của chúng ta. Giữ ngôi nhà mở toang ở mọi hướng, không thể ngăn chúng lại, và chúng trốn tránh theo cách khủng khiếp nhất: treo mình sau các tấm vải rèm, như loài dơi, và rơi xuống vào giữa đêm sâu với những tiếng mèo kêu gào thảm thiết. Ngay lập tức, French mượn khẩu súng của Beaucourt, nhồi đạn đến tận nòng, bắn hai phát liền vô ích và ngã ngửa ra sau vì sức giật, y hệt như một gã hề. Nhưng cuối cùng (trong khi tôi đang ở thành phố) hắn nhắm vào con mèo đáng yêu hơn trong hai con, và bắn chết tươi con vật ấy. Trở nên kiêu ngạo đến không thể chịu nổi bởi chiến thắng này, giờ đây hắn bận rộn từ sáng đến tối trốn sau các bụi cây để ngắm bắn con mèo còn lại. Hắn chẳng làm bất cứ việc gì khác ngoài việc đó. Tất cả bọn trẻ đều cổ vũ hắn và canh chừng kẻ thù — khi chúng xuất hiện, chúng phát ra tín hiệu báo động ngay lập tức đóng vai trò như lời cảnh báo cho sinh vật ấy, khiến nó chạy mất dép. Ngay lúc này đây (đã mặc quần áo sẵn sàng đi lễ nhà thờ) chúng đều đang nằm sấp trên bụng ở các khu vực khác nhau trong khu vườn. Những tiếng còi ghê rợn phát tín hiệu cho khẩu súng biết nó phải tiếp cận điểm nào. Tôi sợ không dám bước ra ngoài, kẻo bị bắn trúng. Cậu bé Plornish đọc lời cầu nguyện vào ban đêm bằng tiếng thì thầm, kẻo con mèo nghe thấy và cảm thấy phật ý. Những người bán hàng la oai oái khi họ đi lên đại lộ: 'Me voici! C'est moi — boulanger — ne tirez pas, Monsieur Franche!' Giống như sống trong tình trạng giới nghiêm; và cách thức kỳ diệu mà con mèo vẫn giữ vững đặc điểm là kẻ duy nhất không bị làm phiền mấy bởi sự mãnh liệt của nỗi ám ảnh cố chấp này, thật là lố bịch nhất." (Ngày 6 tháng Bảy.) . . . "Khoảng bốn cân thuốc súng và nửa tấn đạn đã được (ngày 13 tháng Bảy) bắn vào con mèo (và công chúng nói chung) trong suốt tuần qua. Điều tuyệt vời nhất là ngay sau khi tôi nghe thấy tay thợ săn cao quý đó nổ súng vào nó ở khu vườn phía trước, tôi nhìn ra cửa phòng mình vào phòng khách, và hầu như chắc chắn sẽ thấy nó thong thả bước vào bắt chim từ ô cửa sổ phía sau theo cách bình đẳng nhất. Thông tin đã được đưa đến cho tôi từ một nguồn đáng tin cậy rằng French vừa nảy sinh âm mưu tồi tệ là dụ dỗ nó vào nhà xe bằng thịt và sự ân cần, rồi từ một chiếc va li cao cấp trên đó, thổi bay đầu nó. Tôi kiên quyết định cấm tịt điều này, và sẽ thực hiện điều đó ngay hôm nay như một việc làm phước đức."
Bên cạnh công việc nghiêm túc hơn mà ông và Wilkie Collins đang bận rộn thực hiện trong những tháng này, và nhờ đó tờ Household Words chủ yếu thu lợi, một số vấn đề nhẹ nhàng hơn đã chiếm trọn thời gian rảnh rỗi của cả hai. Vào dịp Giáng sinh, sẽ lại có các buổi biểu diễn sân khấu tại Tavistock House; nơi bọn trẻ, với sự giúp đỡ của cha mình và những người bạn khác, tiếp nối thành công của vở The Lighthouse bằng cách một lần nữa thể hiện xuất sắc như những diễn viên trưởng thành, và ông Collins đang bận rộn chuẩn bị cho chúng một vở kịch mới mang tên The Frozen Deep, trong khi Dickens đang phác thảo một vở kịch hề để ông Lemon điền vào. Nhưng công việc thú vị này đã vấp phải sự ngắt quãng đột ngột và đau buồn.
Một dịch bệnh bùng phát trong thị trấn, ảnh hưởng đến con cái của một số gia đình quen biết với Dickens, trong đó có gia đình người bạn của ông là ông Gilbert A'Beckett; người vừa từ Paris đến, và phát hiện đứa con trai nhỏ yêu quý của mình đổ bệnh nguy hiểm, bản thân ông cũng quỵ ngã vì căn bệnh mà ông đang phải chịu đựng, và qua đời hai ngày sau đứa trẻ. "Ông ấy đã thể hiện các triệu chứng hồi phục trong ba ngày, và chúng tôi có chút hy vọng về sự bình phục của ông; nhưng ông đã kiệt sức và qua đời, thậm chí không bao giờ biết rằng đứa trẻ đã ra đi trước mình. Một câu chuyện buồn, buồn làm sao." Trong khi đó, Dickens đã gửi các con của mình về nhà cùng vợ, và những người còn lại sớm theo sau. Tội nghiệp ông Beaucourt không thể nguôi ngoai. "Sự hoang vắng của nơi này thật thảm hại. Khi Mamey và Katey ra đi, Beaucourt bước vào và khóc nức nở. Ông ấy thực sự gần như tan nát cõi lòng về điều đó. Ông đã trồng đủ mọi loại hoa cho tháng tới, và đã vứt bỏ chiếc xẻng, ngừng nhổ cỏ trong vườn, khiến nó trông giống như một chiếc lồng chim ủ rũ với đủ loại cỏ dại và rau sam đâm xuyên qua các thanh chắn và nằm ngập trong cát. 'Thật là một sự mất mát lớn,' ông nói, 'đối với Monsieur Dickens!' Rồi ông nhìn vào cửa sổ nhà bếp (có vẻ như đó là sự giải tỏa duy nhất của ông), và thở dài thườn thượt đi lên sườn đồi về nhà."
Khoảng thời gian cư trú tại Paris giữa hai chuyến thăm cuối cùng đến Boulogne này giờ đây sẽ được miêu tả.