Cuộc Đời Charles Dickens, Trọn Bộ Tập I-iii

Lượt đọc: 826 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1842.

❊ ❊ ❊

Những bức thư và ghi chép miêu tả — Đại cương chuyến hành trình về phương Tây — Một thành phố như trong Nghìn lẻ một đêm — Lễ hội vận động phong trào ôn tuyền — Buổi tiệc tại nhà Thẩm phán Walker — Góc nhìn khác về buổi tiệc — Kết quả thảm hại của sự chán ngắt — Thiếu nữ miêu tả C. D. — Xuôi dòng Mississippi — Lắng nghe và quan sát — Cuộc tiếp tân tại St. Louis — Những lời khen ngợi — Sự xuất hiện của Lãnh chúa Ashburton — Trò chuyện với một vị thẩm phán về vấn đề nô lệ — Một người da đen bị thiêu sống — Tâm tư của chính những người nô lệ — Lời chứng thực của người Mỹ — Cảnh trí nhỏ xinh — Một người mẹ và người chồng — Đứa bé — Nhìn thấy St. Louis — Cuộc hội ngộ giữa vợ và chồng — Chuyến đi đến vùng thảo nguyên — Trên thảo nguyên lúc hoàng hôn — Đặc điểm chung của phong cảnh — Miêu tả về thảo nguyên — Sự thất vọng và niềm tận hưởng — Dạ tiệc tại khách sạn Planter's House — Đồ ăn thức uống thị soạn — Không có ai tóc bạc ở St. Louis — Đấu súng — Mrs. Dickens với tư cách là một người lữ hành — Từ Cincinnati đến Columbus — Buổi tiếp tân trông như thế nào — Từ Columbus đến Sandusky — Những lữ khách đơn độc — Một quán trọ nhà gỗ — Dọn dẹp cho gọn gàng — Một cơn khủng hoảng thoáng qua — Người Mỹ không phải là một dân tộc hài hước — Những hình thức giải trí duy nhất — Từ Sandusky đến Buffalo — Trên Hồ Erie — Sự đón tiếp và niềm an ủi từ ngài thị trưởng — Từ Buffalo đến Niagara — Tiệm cận thác nước — Thác Móng Ngựa — Tác động của Niagara đối với ông — Hồi ức xưa — Hướng về tương lai.

Bức thư tiếp theo miêu tả những trải nghiệm của ông ở Viễn Tây, quãng thời gian lưu lại St. Louis, chuyến viếng thăm một vùng thảo nguyên, hành trình trở về Cincinnati, và sau khi đi xe ngựa từ thành phố đó đến Columbus, chuyến đi tiếp theo đến Sandusky, rồi qua Hồ Erie để đến thác Niagara. Tất cả những chủ đề này đều xuất hiện trong tập Ghi chép, nhưng không có bất kỳ nội dung nào được in trong đó lại bị lặp lại trong các đoạn trích sắp được công bố dưới đây. Về những đoạn kết của chuyến hành trình khi ông rời Columbus để trở về nhà, câu chuyện lần đầu tiên được kể lại ở đây mang đậm phong cách đặc trưng nhất của ông; bản tường thuật về thảo nguyên có lẽ sẽ được yêu thích hơn những gì đã được thể hiện trong tập Ghi chép; những bức họa về Cincinnati rất đỗi dễ chịu; và ngay cả một đoạn miêu tả như về thác Niagara — thứ vốn được khắc họa rất nhiều trong sách — thì ở đây vẫn mang một nét mới lạ và sự tươi tắn độc lập. Sự sống động chân thực nhất nằm trong bức thư của ông. Tính tự nhiên của việc không liên tưởng bất kỳ hình ảnh hay cảm giác nào khác ngoài sự tĩnh lặng với một sự vĩ đại vô cùng mạnh mẽ và không gì lay chuyển nổi, được thể hiện một cách bất ngờ nhất; và chỉ trong vài lời ngắn ngủi, chúng ta đã nắm bắt được cả vẻ đẹp vật chất lẫn vẻ đẹp đạo đức của một khung cảnh có một không hai trên trái đất này. Ấn tượng tức thời hóa ra lại có giá trị hơn nhiều so với hồi ức đầy hùng biện.

Viên thuyền trưởng của con tàu từng đưa họ đến Cincinnati rồi đi St. Louis đã ở lại thành phố sau cho đến khi họ có thể hội quân và cùng ông quay trở về; do đó, bức thư này mang dòng đề từ: "Lại ở trên tàu Messenger. Đi từ St. Louis trở về Cincinnati. Thứ Sáu, ngày mười lăm tháng Tư năm 1842"; và đoạn đầu tiên của nó là dàn ý về những di chuyển mà ông sẽ miêu tả chi tiết ở phần sau. "Chúng tôi đã ở lại Cincinnati trọn vẹn một ngày sau thời điểm của bức thư trước, và rời đi vào sáng thứ Tư, ngày mùng 6. Chúng tôi đến Louisville ngay sau nửa đêm cùng ngày và ngủ lại ở đó. Ngày hôm sau, lúc một giờ, chúng tôi xuống một chiếc tàu thủy khác và hành trình cho đến tối chủ nhật, ngày mùng 10; khi ấy chúng tôi đến St. Louis vào khoảng chín giờ. Ngày hôm sau chúng tôi dành trọn để tham quan thành phố. Ngày tiếp theo, thứ Ba, ngày 12, tôi khởi hành cùng một nhóm đàn ông (tổng cộng chúng tôi có mười bốn người) để đi xem thảo nguyên; trở về St. Louis vào khoảng trưa ngày 13; tham dự một buổi dạ tiệc và khiêu vũ — không phải là tiệc tối — được tổ chức để vinh danh tôi vào tối hôm đó; và vào lúc bốn giờ chiều hôm qua, chúng tôi đã quay đầu hướng về quê nhà. Tạ ơn Chúa!

"Cincinnati mới chỉ năm mươi tuổi, nhưng là một thành phố rất đẹp; tôi nghĩ đây là nơi xinh đẹp nhất mà tôi từng thấy ở đây, ngoại trừ Boston. Nó nhô lên từ chốn rừng hoang như một thành phố trong Nghìn lẻ một đêm; được quy hoạch ngăn nắp; vùng ngoại ô được trang hoàng bởi những biệt thự xinh xắn; và hơn hết thảy — bởi đây là một đặc điểm rất hiếm thấy ở Mỹ — thành phố này có những thảm cỏ mượt mà và những khu vườn được chăm sóc cẩn thận. Hôm đó tình cờ diễn ra một lễ hội ôn tuyền lớn; và đoàn diễu hành đã tập hợp dưới cửa sổ nhà chúng tôi rồi đi qua vào sáng sớm. Tôi đoán họ phải đông tới ít nhất hai mươi nghìn người. Một số biểu ngữ kỳ lạ và ngộ nghĩnh đủ điều. Chẳng hạn, những thợ đóng tàu trưng bày một bên lá cờ của họ hình ảnh con Tàu Ôn Tuyền tốt lành đang giương buồm lộng gió; mặt bên kia là Tàu thủy Rượu Mạnh đang phát nổ tung trời. Người Ireland thì chắc chắn có mang theo chân dung của Cha Mathew. Và chiếc cằm bạnh rộng của Washington (nhân tiện xin nói, Washington không có một khuôn mặt dễ coi) xuất hiện ở khắp mọi nơi trong các hàng ngũ. Tại một loại quảng trường ở vùng ngoại ô thành phố, họ chia thành các nhóm và được nghe các diễn giả khác nhau phát biểu. Tôi chưa từng nghe bài diễn văn nào tẻ nhạt hơn thế. Tôi thú nhận rằng tôi cảm thấy khá khó chịu khi nghĩ rằng họ chỉ có thể dùng nước lã để rửa trôi dư vị của nó khỏi miệng mình.

"Vào buổi tối, chúng tôi đến dự một bữa tiệc tại nhà Thẩm phán Walker, và được giới thiệu riêng với ít nhất một trăm năm mươi kẻ tẻ nhạt hạng nhất, từng người một. Tôi được yêu cầu phải ngồi xuống với phần lớn bọn họ và trò chuyện! Trong đêm, chúng tôi được chơi nhạc dạo dưới cửa sổ (như thường lệ ở mọi nơi chúng tôi đặt chân tới), và phải thừa nhận là họ chơi rất hay. Nhưng chúng tôi đã hoàn toàn kiệt sức. Tôi thực sự nghĩ rằng khuôn mặt mình đã nhiễm một nét buồn bã cố định vì những cuộc quấy rầy liên tục và không gì cứu vãn nổi mà tôi phải chịu đựng. Những hội nhóm LL đã tước đi toàn bộ sự vui tươi của tôi. Có một nếp nhăn trên cằm tôi (ở bên phải môi dưới), bị khắc sâu không thể xóa nhòa bởi gã người New England mà tôi đã kể với bạn trong bức thư trước. Tôi có vết chân chim ở đuôi mắt trái, mà tôi quy cho các nhân vật văn chương ở các thị trấn nhỏ. Một lúm đồng tiền đã biến mất khỏi má tôi, mà tôi cảm thấy mình đã bị cướp mất vào lúc đó bởi một nhà lập pháp khôn ngoan. Nhưng mặt khác, tôi thực sự phải cảm ơn một trận cười ngoác miệng sảng khoái nhờ P.. E.., nhà phê bình văn học Philadelphia, và là chủ sở hữu độc quyền của tiếng Anh về mặt ngữ pháp và thuần khiết thành ngữ; chính P.. E.. với mái tóc chải thẳng mượt và chiếc cổ áo bẻ xuống, người đã chỉ trích tất cả chúng tôi, những nhà văn Anh quốc, một cách thẳng thừng và không khoan nhượng trên ấn bản, nhưng đồng thời lại nói với tôi rằng tôi đã 'khai mở một kỷ nguyên mới' trong tâm trí anh ta. . . .

"200 dặm cuối cùng của chuyến hải trình từ Cincinnati đến St. Louis nằm trên sông Mississippi, vì bạn phải xuôi dòng Ohio cho đến cửa sông của nó. Thật may cho nhân loại khi con sông Mississippi này, người cha vĩ đại của các dòng sông, lại không sinh ra những đứa con mang tính cách giống mình. Đó là con sông đồi bại nhất trên thế giới." . . . (Miêu tả của ông nằm trong tập Ghi chép.)

"Hãy tưởng tượng cảm giác lao vút xuống dòng sông này vào ban đêm (như chúng tôi đã làm tối qua) với tốc độ mười lăm dặm một giờ; va đập vào những khúc gỗ trôi nổi từng giây; và nơm nớp lo sợ một cú đâm trời giáng sau mỗi lần xóc nảy. Người cầm lái trên những con tàu này đứng trong một căn nhà kính nhỏ trên mái. Trên sông Mississippi, một người đàn ông khác đứng ngay mũi tàu, lắng nghe và quan sát hết sức tập trung; lắng nghe, bởi vì trong những đêm tối mịt, họ có thể nhận biết qua tiếng động khi có bất kỳ vật cản lớn nào ở gần. Người này cầm dây của một chiếc chuông lớn treo sát buồng lái, và bất cứ khi nào anh ta kéo chuông, động cơ phải dừng lại ngay lập tức và không được chuyển động cho đến khi anh ta rung chuông lần nữa. Tối qua, chiếc chuông này đã reng ít nhất năm phút một lần; và sau mỗi tiếng báo động lại là một cú va chạm mạnh suýt hất văng người ta khỏi giường. . . . Trong lúc tôi viết bản tường thuật này, ơn Chúa, chúng tôi đã vọt ra khỏi con sông gớm ghiếc ấy; hy vọng sẽ không bao giờ gặp lại nó nữa, trừ trong cơn ác mộng. Giờ đây chúng ta đang ở trên dòng sông Ohio êm đềm, và sự đổi thay ấy giống như bước chuyển từ nỗi đau sang sự thoải mái hoàn toàn.

"Chúng tôi có một buổi tiếp tân rất đông đúc tại St. Louis. Tất nhiên tờ báo đã có bài tường thuật về sự kiện đó. Nếu tôi làm rơi một bức thư trên đường phố, nó sẽ xuất hiện trên báo vào ngày hôm sau, và chẳng ai coi việc xuất bản đó là một hành động xúc phạm cả. Vị biên tập viên đã chê bai mái tóc của tôi vì không xoăn cho đủ độ. Ông ta thừa nhận tôi có một đôi mắt; nhưng lại chê tiếp trang phục của tôi là có phần phô trương, 'và quả thực có lẽ hơi lòe loẹt'. 'Nhưng những điều đó,' ông ta nhân từ bổ sung, 'chính là sự khác biệt giữa gu thẩm mỹ của người Mỹ và người Anh — có lẽ càng trở nên rõ rệt hơn bởi tất cả các quý ông khác có mặt đều mặc trang phục màu đen.' Ôi, giá mà bạn được nhìn thấy các quý ông khác! . . .

"Một phu nhân ở St. Louis đã khen ngợi Kate về giọng nói và cách phát âm của cô ấy, quả quyết rằng bà sẽ chẳng bao giờ ngờ cô ấy là người Scotland, hay thậm chí là người Anh. Bà ấy còn lịch thiệp nói thêm rằng bà có thể nhầm cô ấy là người Mỹ ở bất cứ đâu: điều mà hẳn (Kate) biết rõ là một lời khen ngợi rất lớn, vì ai nấy đều công nhận người Mỹ đã cải tiến ngôn ngữ tiếng Anh lên một tầm cao mới! Tôi không cần phải nói với bạn rằng ngoài Boston và New York ra, giọng điệu ê a mũi là phổ biến ở khắp mọi nơi, nhưng tôi cũng nên gợi ý thêm rằng ngữ pháp thị hành ở đây cũng đáng ngờ hơn thế; rằng những lối nói thông tục kỳ quặc nhất lại được tiếp nhận như những thành ngữ; rằng tất cả phụ nữ trưởng thành ở các bang nô lệ đều nói năng ít nhiều giống người da đen, do từ nhỏ đã luôn sống cùng các vú nuôi da đen; và rằng tầng lớp thời thượng nhất cùng quý tộc nhất (đây là hai từ được sử dụng rất nhiều), thay vì hỏi bạn sinh ra ở nơi nào, lại đi hỏi bạn 'xuất thân từ đâu.' ! !

"Lãnh chúa Ashburton đã cập cảng Annapolis cách đây vài hôm, sau chuyến hải trình hơn bốn mươi ngày trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Ngay lập tức, các tờ báo đưa tin dựa trên lời của một phóng viên 'chèo thuyền vòng quanh tàu' (tôi để bạn tự tưởng tượng tình trạng của con tàu), rằng nước Mỹ chẳng cần phải dè chừng sự vượt trội nào từ phía Anh quốc liên quan đến những bức tường gỗ của họ. Phóng viên ấy tỏ ra 'vô cùng hài lòng' trước tác phong thẳng thắn của các sĩ quan Anh; và ban ơn cho họ như thể họ là những người Anh chính hiệu nhưng đã khá tao nhã. Khuôn mặt tôi, giống như của Haji Baba, lộn ngược lại, và gan ruột tôi hóa thành nước, khi tôi bắt gặp những điều như thế và nghĩ về những kẻ viết và những kẻ đọc chúng. . . .

"Họ không chịu để tôi yên về vấn đề nô lệ. Một vị thẩm phán nào đó ở St. Louis hôm qua đã đi xa đến mức tôi phải nổi giận với ông ta (trong sự kinh hoàng khôn tả của kẻ đã dẫn ông ta tới) và nói cho ông ta biết suy nghĩ thật của mình. Tôi nói rằng tôi rất ngại phải bàn về chủ đề này ở đây, và nếu có thể thì luôn cố né tránh; nhưng khi ông ta tỏ lòng thương hại trước sự thiếu hiểu biết của quốc gia chúng tôi về những sự thật của chế độ nô lệ, tôi buộc phải nhắc nhở ông ta rằng chúng tôi dựa trên những hồ sơ không thể chối cãi, thu được sau nhiều năm điều tra cẩn trọng và đánh đổi bằng mọi sự hy sinh thân mình, và tôi tin rằng chúng tôi đủ năng lực để phán xét về sự tàn bạo và kinh hoàng của nó hơn là một kẻ lớn lên giữa lòng chế độ ấy. Tôi bảo ông ta rằng tôi có thể cảm thông với những kẻ thừa nhận đó là một tệ nạn khủng điều, nhưng lại thẳng thắn thú nhận sự bất lực trong việc tìm ra phương kế loại bỏ nó; thế nhưng những kẻ coi nó là một phúc lành, là một điều hiển nhiên, là một trạng thái đáng khao khát thì đã nằm ngoài giới hạn của lý trí; và việc những kẻ đó nói về sự sự dốt nát hay thành kiến là một sự phi lý nực cười đến mức không đáng để tranh luận. . . .

"Chưa đầy sáu năm trước, ngay tại thành phố St. Louis này, một nô lệ khi bị bắt giữ (tôi quên vì tội gì), và biết rằng mình không có chút hy vọng nào về một phiên tòa công bằng, dù tội trạng có là gì đi nữa, đã rút dao găm và rạch một đường ngang bụng tên cảnh sát. Một cuộc ẩu đả bùng nổ, gã nô lệ tuyệt vọng dùng chính vũ khí đó đâm tiếp hai kẻ khác. Đám đông tụ tập xung quanh (trong số đó có những nhân vật có tên tuổi, giàu có và thế lực ở địa phương) đã áp đảo hắn bằng số lượng; lôi hắn đến một bãi đất trống ngoài thành phố; và thiêu sống hắn. Điều này, tôi xin nhắc lại, đã xảy ra chưa đầy sáu năm trước, giữa ban ngày ban mặt; tại một thành phố có các tòa án, luật sư, thị vệ, thẩm phán, nhà tù và đao phủ; thế mà cho đến tận ngày nay, chưa một cọng tóc nào trên đầu những kẻ đó bị tổn hại. Và xin bạn hãy tin tôi, chính sự độc lập khốn khổ, thảm hại trong những chuyện nhỏ nhặt, cái chủ nghĩa cộng hòa rẻ tiền — thứ né tránh việc phục vụ trung thực cho một con người lương thiện nhưng lại chẳng mảy may chùn bước trước mọi mưu mẹo, thủ đoạn và gian trá trong kinh doanh — đã khiến cho những người nô lệ này trở nên cần thiết, và sẽ tiếp tục duy trì điều đó cho đến khi sự phẫn nộ của các quốc gia khác giải phóng cho họ.

"Họ nói rằng những người nô lệ rất quý chủ của mình. Hãy nhìn bức tranh nhỏ xinh này (một phần tài liệu quen thuộc của một tờ báo) và đánh giá xem bạn sẽ cảm thấy thế nào, khi những kẻ nhìn thẳng vào mặt bạn kể cho bạn những câu chuyện như vậy trong khi tờ báo vẫn đang nằm trên bàn. Ở tất cả các vùng có nô lệ, các quảng cáo tìm nô lệ bỏ trốn cũng phổ biến như những thông báo về vở kịch buổi tối của chúng ta. Bản thân những con người khốn khổ ấy thực sự tôn sùng người Anh: họ sẵn sàng làm mọi thứ vì người Anh. Họ nắm rõ mọi diễn biến liên quan đến việc giải phóng nô lệ; và tất nhiên sự gắn bó của họ với chúng ta xuất phát từ lòng trung thành sâu sắc dành cho chủ nhân của họ. Tôi đã cắt bức minh họa này ra từ một tờ báo có bài xã luận đề cập đến học thuyết ghê tởm và địa ngục của phái Chủ nghĩa bãi nô — thứ vốn đi ngược lại mọi luật lệ của Chúa trời và Tự nhiên. 'Tôi biết chút ít,' một tiến sĩ Bartlett (một người rất uyên bác), từng là bạn đồng hành trên chuyến tàu của chúng tôi, đã nói thế — 'Tôi biết rõ sự quý mến của họ đối với chủ nhân. Tôi sống ở Kentucky; và tôi xin lấy danh dự của mình ra để khẳng định rằng, trong khu vực của tôi, việc một tên nô lệ bỏ trốn bị bắt lại, rút dao găm và rạch ruột chủ nhân của hắn ra cũng phổ biến chẳng kém gì việc bạn nhìn thấy một vụ đánh nhau vì say rượu ở London.'

"Cùng trên một con tàu, thứ Bảy, ngày 16 tháng Tư năm 1842.

"Để tôi kể cho bạn nghe, Forster yêu quý của tôi, trước khi tôi quên mất, về một cảnh trí nhỏ xinh mà chúng tôi chứng kiến trên con tàu giữa đoạn từ Louisville đến St. Louis, khi chúng tôi đang trên đường đến nơi đó. Nó không có gì to tát để kể, nhưng thực sự rất dễ chịu và thú vị khi được tận mắt chứng kiến."

Những nội dung tiếp theo đã được in trong tập Ghi chép, và theo quy tắc tôi đã đặt ra, không nên được nhắc lại ở đây. Thế nhưng, dù bản in có đẹp đẽ đến đâu đi nữa, nó vẫn không đạt được sự tinh tế như khi đổi thay một vài nét chấm phá và lược bỏ vài chi tiết trong bản thảo tươi mới đầu tiên — chính vì lý do đó, tôi vẫn lưu giữ nó ở đây — một trong những bức tranh chân thực nhất, đong đầy cảm xúc nhất về tính cách và tâm hồn từng sưởi ấm trái tim con người trong đời thực hay tiểu thuyết. Tôi nghĩ đó là đoạn văn yêu thích nhất của Jeffrey trong tất cả các tác phẩm của Dickens; và chắc chắn rằng, nếu ai muốn tìm hiểu bí quyết tạo nên sự nổi tiếng của họ, câu trả lời nằm ở khả năng quan sát và miêu tả sự việc nhỏ bé này.

"Có một người phụ nữ nhỏ nhắn trên tàu, đi cùng một đứa bé nhỏ xíu; và cả hai mẹ con đều vui vẻ, ưa nhìn, mắt sáng ngời và rất đáng yêu. Người phụ nữ nhỏ bé ấy đã trải qua một thời gian dài chăm sóc người mẹ ốm đau ở New York, và đã rời bỏ ngôi nhà của mình ở St. Louis trong tình trạng mà những phu nhân thực sự yêu thương chồng đều mong muốn có được. Đứa bé được sinh ra tại nhà mẹ đẻ của cô, và đã mười hai tháng cô chưa gặp lại chồng mình (người mà cô đang trên đường trở về đoàn tụ): cô đã rời xa anh chỉ một hoặc hai tháng sau lễ cưới. Chà, quả thực chưa từng có người phụ nữ nhỏ bé nào lại tràn ngập hy vọng, dịu dàng, yêu thương và lo lắng đến thế; và cô cứ thế suốt cả ngày dài, tự hỏi không biết 'anh ấy' có ra bến tàu đón không; không biết 'anh ấy' đã nhận được thư của cô chưa; và không biết rằng nếu cô nhờ người khác bồng đứa bé lên bờ, thì 'anh ấy' có nhận ra nó khi vô tình chạm mặt trên đường phố hay không — xét đến việc anh chưa từng nhìn thấy mặt đứa bé lấy một lần trong đời, điều đó về mặt lý thuyết là khó xảy ra, nhưng đối với người mẹ trẻ thì lại hoàn toàn có khả năng. Cô ấy là một sinh linh ngây thơ làm sao; lại đang trong tâm trạng rạng rỡ, ngập tràn ánh nắng và hy vọng; và thổ lộ tất cả những tâm sự ôm ấp sâu kín trong tim một cách cởi mở đến mức tất cả các nữ hành khách khác đều hòa mình vào tâm trạng ấy cùng cô; và viên thuyền trưởng (người nghe hết mọi chuyện từ vợ mình) vô cùng tinh ranh, tôi xin đảm bảo với bạn: cứ mỗi lần chúng tôi gặp nhau ở bàn ăn là ông lại gặng hỏi xem cô có mong đợi ai đón ở St. Louis không, rồi đoán già đoán non rằng chắc cô không muốn lên bờ vào đêm tàu đến nơi, và tung ra vô số câu nói đùa khô khan khiến tất cả mọi người cười ngất, đặc biệt là các phu nhân. Có một bà cụ gầy gò, khô đét như quả táo tàu trong số họ, đã nhân cơ hội này để bày tỏ sự hoài nghi về lòng chung thủy của những ông chồng trong hoàn cảnh vắng vợ như thế; lại có một phu nhân khác (dắt theo một chú chó cảnh), đủ lớn tuổi để đưa ra những lời triết lý về sự phù phiếm của tình cảm con người, nhưng lại chưa già đến mức không thể thỉnh thoảng bồng bế đứa bé hoặc cười hùa theo những người khác khi người phụ nữ nhỏ bé gọi đứa bé bằng tên của bố nó, và đặt ra cho nó đủ thứ câu hỏi kỳ quặc liên quan đến anh trong niềm vui khôn tả của trái tim. Đó là một gáo nước lạnh đối với người phụ nữ nhỏ bé khi tàu chỉ còn cách đích đến hai mươi dặm và rõ ràng là phải cho đứa bé đi ngủ; nhưng cô đã vượt qua điều đó với cùng một sự hóm hỉnh, buộc một chiếc khăn tay nhỏ lên mái đầu nhỏ bé của mình, và bước ra boong tàu cùng mọi người. Khi ấy, cô bỗng trở thành một nhà thông thái về các địa danh! Và biết bao sự dí dỏm được các phu nhân có gia đình thể hiện! Và biết bao sự đồng cảm được những người độc thân bày tỏ! Và những tràng cười vang dội mà chính người phụ nữ nhỏ bé ấy (dù hoàn toàn có thể khóc òa ngay lúc đó) dùng để đáp lại mọi câu đùa! Cuối cùng, những ánh đèn của St. Louis đã hiện ra — và đây là bến tàu — và kia là những bậc thềm — và người phụ nữ nhỏ bé, lấy tay che mặt và cười, hay có vẻ như đang cười nhiều hơn bao giờ hết, đã chạy tọt vào khoang tàu riêng của mình và đóng sập cửa lại. Tôi chắc chắn rằng, trong sự mâu thuẫn đáng yêu của một sự phấn khích tột độ như thế, cô đã bịt chặt tai lại để không phải nghe thấy tiếng 'anh ấy' đang gọi tìm mình; nhưng tôi không tận mắt chứng kiến điều đó. Ngay sau đó, một đám đông lớn ùa lên tàu, dẫu cho con tàu vẫn chưa được buộc chặt và hãy còn đang tròng trành giữa những con tàu khác để tìm chỗ cập bến; và ai nấy đều ngóng tìm người chồng, mà chẳng thấy anh đâu; để rồi bất ngờ thay, ngay giữa đám đông ấy — Chúa mới biết làm thế nào mà cô ấy lại có mặt ở đó — chính là người phụ nữ nhỏ bé đang ôm chầm lấy cổ một anh chàng khỏe mạnh, bảnh bao! Và chỉ một khoảnh khắc sau, cô lại kéo anh ta lách qua cánh cửa nhỏ của căn buồng nhỏ để cho anh ngắm nhìn đứa bé đang say ngủ! — Thật tuyệt vời làm sao khi biết rằng rất nhiều người trong chúng ta sẽ vô cùng buồn rầu và thất vọng nếu người chồng ấy đã không xuất hiện!"

Ông sau đó quay trở lại mạch chính; nhưng trong phần tiếp theo, không có nội dung nào bị lặp lại so với những gì sẽ được tìm thấy trong bài miêu tả đã in của ông về chuyến đi đến vùng thảo nguyên gương:

"Nhưng nói về thảo nguyên — tôi phải thú nhận là nó không đặc sắc bằng cảnh này theo cách riêng của nó; nhưng tôi cũng sẽ kể cho bạn nghe tất cả về điều đó và để bạn tự phơi bày phán đoán. Ngày thứ Ba mùng 12 là ngày đã định; và chúng tôi sẽ khởi hành lúc năm giờ sáng — đúng giờ. Tôi thức dậy lúc bốn giờ; cạo râu và thay đồ; ăn chút bánh mỳ với sữa; rồi đẩy cửa sổ nhìn xuống đường phố. Chẳng có bóng dáng chiếc xe ngựa nào, và cũng chẳng có ai trong nhà có vẻ đã thức giấc. Tôi đợi cho đến năm rưỡi; nhưng ngay cả lúc đó cũng chẳng thấy có sự chuẩn bị nào, tôi bèn bảo Mr. Q. canh chừng rồi lại ngả mình lên giường. Tôi ngủ ở đó cho đến gần bảy giờ thì được gọi dậy. . . . Ngoại trừ Mr. Q. và tôi ra, nhóm của tôi có mười hai thành viên trong ban vận động: toàn là luật sư ngoại trừ một người. Ông ấy là một quý ông thông minh, điềm đạm, hiểu biết rộng bằng tuổi tôi — vị mục sư theo phái Unitarian của vùng đó. Cùng với ông ấy và hai người bạn đồng hành khác, tôi bước lên chiếc xe ngựa đầu tiên. . . .

"Chúng tôi dừng chân tại một quán trọ rất khang trang ở Lebanon với quyết định sẽ quay lại đó vào ban đêm nếu có thể. Thật khó mà tìm thấy một quán rượu thôn quê nào mang phong cách gia đình tốt hơn thế ở Anh quốc. Trong lúc dừng chân, tôi đi bộ vào làng và bắt gặp một ngôi nhà ở đang lao xuống dốc với một tốc độ khá nhanh, được kéo bởi khoảng hai mươi con bò! Chúng tôi nối lại hành trình ngay khi có thể và đặt chân lên vùng thảo nguyên gương vào lúc hoàng hôn. Chúng tôi dừng lại gần một ngôi nhà gỗ hiu hãnh để lấy nước; dỡ các giỏ đồ; dựng lều trại bằng những chiếc xe ngựa; và ăn tối.

"Nói chung, thảo nguyên rõ ràng rất đáng để chiêm ngưỡng — nhưng phần lớn là để người ta có thể khoe rằng mình đã tận mắt thấy nó, hơn là vì bất kỳ vẻ uy nghi nào tự thân nó sở hữu. Giống như hầu hết mọi thứ, lớn hay nhỏ, ở đất nước này, bạn nghe về nó với những sự phóng đại đáng kể. Basil Hall thực sự hoàn toàn có lý khi chê bai cảnh quan chung nơi đây. Vùng Viễn Tây nổi tiếng xa gần thậm chí không thể so sánh được với những phần tẻ nhạt nhất của Scotland hay Wales. Bạn đứng trên thảo nguyên và nhìn thấy đường chân trời liền mạch ở mọi hướng. Bạn đang ở trên một vùng đồng bằng rộng lớn, trông giống như một đại dương không có nước. Tôi cực kỳ yêu thích phong cảnh hoang vắng và cô tịch, và tin rằng mình có khả năng cảm thụ sâu sắc đối với nó như bất kỳ ai đang sống trên đời này. Nhưng thảo nguyên thực sự thua xa những hình dung ban đầu của tôi. Tôi không hề có cảm xúc nào giống như khi vượt qua đồng bằng Salisbury. Sự bằng phẳng đến cùng cực của cảnh quan khiến nó trở nên ảm đạm nhưng lại đơn điệu. Sự vĩ đại chắc chắn không phải là đặc điểm của nó. Tôi tách khỏi phần còn lại của nhóm để tự chiêm nghiệm rõ hơn cảm xúc của chính mình; và nhìn quanh mọi hướng, hết lần này đến lần khác. Nó cũng khá đẹp. Xứng đáng cho một chuyến đi. Mặt trời đang lặn, rất đỏ và rực rỡ; và viễn cảnh trông giống như bức phác thảo ửng đỏ đó của Catlin từng thu hút sự chú ý của chúng ta (bạn còn nhớ chứ?); chỉ có điều là khoảng cách giữa người quan sát và đường chân trời không lớn như những gì ông ta miêu tả. Nhưng nếu nói (theo mốt ở đây) rằng cảnh tượng đó là một cột mốc trong cuộc đời một con người và đánh thức một loạt cảm giác mới mẻ, thì đó hoàn toàn là điều nhảm nhí. Tôi muốn nói với bất kỳ ai chưa từng thấy thảo nguyên — hãy đến đồng bằng Salisbury, vùng đất cao Marlborough Downs, hoặc bất kỳ vùng đất rộng lớn, cao ráo và lộng gió nào gần biển. Nhiều nơi trong số đó mang lại ấn tượng sâu sắc chẳng kém, và đồng bằng Salisbury thì rõ ràng là còn áp đảo hơn nhiều.

"Chúng tôi đã mang theo gà quay, lưỡi trâu, giăm bông, bánh mỳ, phô mai, bơ, bánh quy, rượu sherry, sâm-panh, chanh và đường để pha rượu punch, cùng vô số đá lạnh. Đó là một bữa ăn tuyệt ngon; và vì họ rất mong muốn tôi được vui lòng, tôi đã tự làm ấm bản thân lên trong trạng thái phấn khích tột độ; nâng ly chúc mừng từ trên nóc xe ngựa (được dùng làm ghế chủ tọa); ăn uống cùng những người hào hứng nhất; và tôi tin rằng mình đã trở thành một bạn đồng hành tuyệt vời cho một nhóm bạn vô cùng thân thiện và hòa hợp. Chỉ tầm một tiếng sau, chúng tôi thu dọn đồ đạc và lái xe quay trở lại quán trọ ở Lebanon. Trong lúc bữa tối đang được chuẩn bị, tôi đi dạo một vòng thư giãn cùng người bạn theo phái Unitarian của mình; và khi bữa ăn kết thúc (chúng tôi không uống gì ngoài trà và cà phê) thì đi ngủ. Vị mục sư và tôi có một căn phòng nhỏ cực kỳ sạch sẽ dành riêng cho mình; còn phần còn lại của nhóm được bố trí ở tầng trên. . . .

"Chúng tôi trở về St. Louis ngay sau mười hai giờ trưa; và tôi nghỉ ngơi trong suốt thời gian còn lại của ngày hôm đó. Buổi dạ tiệc diễn ra vào ban đêm, tại một phòng khiêu vũ rất đẹp ở khách sạn của chúng tôi — khách sạn Planter's House. Toàn bộ các khách mời đều được giới thiệu riêng với chúng tôi. Bạn có thể tin rằng chúng tôi vô cùng mừng rỡ khi được rời đi vào lúc nửa đêm, và đã hoàn toàn kiệt sức. Hôm qua, tôi mặc áo blouse. Hôm nay, tôi khoác áo lông thú. Thật là những sự thay đổi đầy thử thách!

"Cùng trên một con tàu,

"Chủ Nhật, ngày 16 tháng Tư năm 1842.

"Các quán trọ ở những góc khuất xó xỉnh này của thế giới sẽ khiến bạn phải kinh ngạc vì chất lượng tuyệt vời của chúng. Khách sạn Planter's House rộng lớn ngang ngửa Bệnh viện Middlesex, và được xây dựng phỏng theo mô hình bệnh viện của chúng tôi, với những dãy phòng dài được thông gió kỹ lưỡng cùng những bức tường quét vôi trắng giản dị. Họ có một ý tưởng tuyệt vời là vào giờ ăn sáng, họ mang lên những ly sữa tươi lớn kèm theo các khối đá lạnh trong suốt như pha lê. Bàn ăn của chúng tôi thực sự được cung cấp vô cùng thịnh soạn vào mọi bữa. Có một ngày khi Kate và tôi ăn tối một mình trong phòng riêng, chúng tôi đếm được mười sáu món ăn trên bàn cùng một lúc.

"Xã hội ở đây khá thô kệch và tự phụ đến mức không tài nào chịu nổi. Toàn bộ dân cư đều còn trẻ. Tôi không nhìn thấy một mái đầu bạc nào ở St. Louis. Có một hòn đảo nằm ngay gần đó, gọi là Đảo Máu. Đó là bãi đấu súng của St. Louis, và được gọi như vậy là do trận đấu súng định mệnh cuối cùng từng diễn ra ở đó. Đó là một cuộc đấu súng lục, ngực đối ngực, và cả hai bên đều ngã xuống chết ngay tại chỗ. Một thành viên trong nhóm đi thảo nguyên của chúng tôi (một thanh niên) từng làm người làm chứng (phút chót) ở đó trong vài cuộc đọ sức. Dịp gần đây nhất là một trận đấu súng trường ở cự ly bốn mươi bước, và trên đường về nhà, anh ta kể cho chúng tôi nghe cách anh đã mua cho người đấu cùng mình một chiếc áo bằng vải lanh xanh để mặc khi chiến đấu, vì vải len thường gây nguy hiểm chết người đối với vết thương do súng trường. Từ Thảo nguyên được phát âm theo nhiều cách khác nhau (chắc là theo nguyên tắc tinh tế nào đó): Paraarer; parearer; và paroarer. Tôi e rằng, bạn hiền của tôi, bạn sẽ gặp rất nhiều khó khăn để đọc hết toàn bộ đoạn văn bản ở trên. Tôi đã viết nó với rất nhiều sự nhọc nhằn trên đầu gối của mình; và động cơ thì cứ rung bần bật và giật cục như thể con tàu bị quỷ ám vậy.

"Sandusky,

"Chủ Nhật, ngày 24 tháng Tư năm 1842.

"Chúng tôi lên bờ ở Louisville vào tối Chủ nhật tuần trước — nơi tôi dừng bút ở hai dòng phía trên — và ngủ lại ở khách sạn nơi chúng tôi từng trọ trước đó. Vì tàu Messenger chạy chậm một cách đáng sợ, chúng tôi mang hành lý ra vào sáng hôm sau và tiếp tục khởi hành lúc mười một giờ trên con tàu thư tín Benjamin Franklin: một con tàu lộng lẫy với buồng lái dài hơn hai trăm feet cùng những cabin nhỏ mang lại sự tiện nghi tương xứng. Tàu cập bến Cincinnati vào lúc một giờ sáng hôm sau, khi ấy chúng tôi lên bờ trong bóng tối và quay trở lại khách sạn cũ. Trong khi chúng tôi dò dẫm bước đi trên mặt đường lở lởm, Anne ngã sóng soài ra đất nhưng không bị thương tích gì. Tôi không nhắc đến những rắc rối của Kate — nhưng bạn còn nhớ khuynh hướng của cô ấy chứ? Cô ấy cứ bước vào hoặc ngã ra khỏi mọi chiếc xe ngựa hay con tàu mà chúng tôi đặt chân lên; cào trầy da chân; làm bầm tím và sưng tấy bàn chân; mẻ cả xương mắt cá chân; và tự làm cho mình bầm tím khắp người. Tuy nhiên, quả thực kể từ khi vượt qua thử thách ban đầu là phải sống giữa những hoàn cảnh quá đỗi mới mẻ và mệt mỏi như vậy, cô ấy đã trở thành một nữ lữ hành vô cùng tuyệt vời về mọi mặt. Cô ấy chưa từng la hét hay biểu lộ sự hoảng sợ trong những hoàn cảnh đáng lý hoàn toàn có thể biện minh cho việc làm đó, ngay cả trong mắt tôi; chưa từng đầu hàng trước sự chán nản hay mệt mỏi, dẫu cho bây giờ chúng tôi đã liên tục hành trình qua một vùng đất rất hiểm trở trong hơn một tháng, và có những thời điểm, như bạn có thể dễ dàng đoán biết, vô cùng kiệt sức; luôn thích nghi một cách tốt đẹp và vui vẻ với mọi thứ; khiến tôi vô cùng hài lòng và chứng tỏ bản thân là một người thực sự bản lĩnh.

"Chúng tôi ở lại Cincinnati suốt ngày thứ Ba mươi chín và toàn bộ đêm hôm đó. Vào lúc tám giờ sáng thứ Tư ngày hai mươi, chúng tôi khởi hành trên chuyến xe ngựa chở thư đi Columbus: Anne, Kate và Mr. Q. ngồi bên trong; tôi ngồi trên nóc xe. Quãng đường dài một trăm hai mươi dặm; con đường được rải đá răm macadam; và đối với một con đường ở Mỹ thì được coi là rất tốt. Chúng tôi mất hai mươi ba tiếng đồng hồ để hoàn thành hành trình đó. Chúng tôi di chuyển suốt đêm; đến Columbus lúc bảy giờ sáng; ăn sáng; và đi ngủ cho đến giờ ăn tối. Buổi tối, chúng tôi tổ chức một buổi tiếp tân kéo dài nửa tiếng đồng hồ, và người ta kéo đến nườm nượp như thường lệ: mỗi quý ông kẹp một phu nhân dưới mỗi cánh tay, trông y hệt như dàn hợp xướng trong bài God Save the Queen. Ước gì bạn được nhìn thấy họ, để bạn biết sự so sánh này xuất sắc đến nhường nào. Họ mặc quần áo chính xác như những người trong dàn hợp xướng; và đứng — giả sử Kate và tôi đang ở trung tâm sân khấu, quay lưng về phía đèn chiếu chân — y hệt như cách mà đoàn kịch sẽ đứng vào đêm diễn đầu tiên của mùa diễn. Họ bắt tay y hệt phong cách của các khách mời tại một buổi khiêu vũ ở Adelphi hay Haymarket; tiếp nhận mọi câu nói đùa của tôi như thể có sẵn một chỉ dẫn sân khấu ghi 'tất cả cùng cười'; và gặp rắc rối nhiều hơn một chút trong việc 'rút lui' so với những quý ông cuối cùng mặc quần trắng, giày bóng loáng và găng tay vải thun thường thể hiện trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

"Sáng hôm sau, tức là vào thứ Sáu, ngày 22, đúng bảy giờ, chúng tôi tiếp tục hành trình. Vì tuyến xe ngựa từ Columbus đến nơi này chỉ chạy ba lần một tuần và không chạy vào ngày hôm đó, tôi đã mặc cả một chuyến 'xe riêng đặc biệt' kéo bốn con ngựa; và tôi phải trả bốn mươi đô-la, tương đương tám bảng Anh: ngựa sẽ được thay phiên dọc đường như chuyến xe tuyến thông thường. Để đảm bảo chúng tôi đi lại suôn sẻ, chủ xe đã cử một nhân viên ngồi trên nóc xe; và ngoài anh ta ra không còn ai khác đi cùng, ngoài một giỏ đầy đồ ăn thức uống, chúng tôi lên đường. Thật bất khả thi khi truyền tải cho bạn một ý niệm thỏa đáng về loại đường mà chúng tôi đã đi qua. Tôi chỉ có thể nói rằng, ở mức độ tốt nhất, đó cũng chỉ là một lối mòn xuyên qua khu rừng hoang dã, giữa những đầm lầy, vũng lầy và bãi lầy của vùng bụi rậm khô cằn. Phần lớn đoạn đường là thứ được gọi là 'đường khúc gỗ' (corduroy road): được làm bằng cách ném những khúc gỗ tròn hoặc cả thân cây xuống đầm lầy và để mặc chúng tự lún xuống đó. Lạy Chúa! Nếu bạn chỉ cần cảm nhận dù chỉ một trong số những cú xóc nảy nhẹ nhất khiến chiếc xe ngựa rơi từ khúc gỗ này sang khúc gỗ khác! Nó chẳng khác gì việc leo lên một cầu thang dốc đứng trên chiếc xe buýt hai tầng. Lúc thì chiếc xe hất văng chúng tôi thành một đống trên sàn, lúc thì đập đầu chúng tôi vào mái xe. Lúc thì một bên xe ngập sâu trong bùn lầy, và chúng tôi phải bám chặt lấy bên kia. Khi thì nó nằm ngửa trên đuôi đám ngựa, lúc lại ngửa bụng lên trời. Nhưng nó chưa bao giờ, chưa bao giờ ở trong bất kỳ tư thế, thái độ hay kiểu chuyển động nào mà chúng tôi quen thuộc trên xe ngựa; hay có lấy một chút sự tương đồng nào với trải nghiệm của chúng tôi về cách vận hành của bất kỳ loại phương tiện bánh xe nào. Dẫu vậy, thời tiết hôm ấy rất đẹp, không khí tuyệt vời, và chúng tôi chỉ có một mình; không có những bãi nước bọt thuốc lá hay những cuộc trò chuyện dài dòng vô tận về tiền bạc và chính trị (hai chủ đề duy nhất mà họ từng trò chuyện, hoặc có thể trò chuyện) làm chúng tôi chán ngấy. Chúng tôi thực sự tận hưởng nó; biến việc bị xóc nảy thành một trò đùa; và tỏ ra vô cùng vui vẻ. Đến hai giờ, chúng tôi dừng lại trong rừng để mở giỏ đựng thức ăn và ăn tối; chúng tôi nâng ly chúc sức khỏe những người thân yêu và tất cả bạn bè ở quê nhà. Sau đó chúng tôi khởi hành lại và đi liền mạch cho đến mười giờ đêm: khi ấy chúng tôi đến một nơi gọi là Lower Sandusky, cách điểm xuất phát sáu mươi hai dặm. Ba tiếng cuối của hành trình không mấy dễ chịu; bởi vì sấm chớp nổi lên dữ dội — mỗi tia chớp đều rất rõ, rất xanh và rất dài; và vì khu rừng quá rậm rạp đến mức các cành cây ở hai bên đường đập vào và gãy rắc quanh xe ngựa, đó thực sự là một khu vực khá nguy hiểm để đi giữa cơn dông bão.

"Quán trọ nơi chúng tôi dừng chân là một ngôi nhà gỗ thô sơ. Mọi người đều đã lên giường đi ngủ, và chúng tôi phải đánh thức họ dậy. Chúng tôi có một căn phòng ngủ kỳ lạ nhất, có hai cửa đối diện nhau: cả hai đều mở thẳng ra vùng hoang dã đen ngòm bên ngoài và chẳng có cái khóa hay chốt nào. Hiệu quả của hai cánh cửa đối diện này là cánh cửa này luôn thổi cánh cửa kia bật mở: một sự phát minh tài tình trong nghệ thuật xây dựng mà tôi không nhớ là mình từng gặp trước đây. Lẽ ra bạn phải nhìn thấy tôi, trong chiếc áo sơ mi, đang dùng những chiếc va-li để chặn chúng lại và tuyệt vọng nỗ lực dọn dẹp căn phòng cho gọn gàng! Nhưng việc chặn cửa thực sự là vô cùng cần thiết, vì trong hộp đựng đồ trang điểm của tôi có khoảng 250 bảng Anh bằng tiền vàng; và chỉ với số tiền ở con số ở giữa của khoản tiền hiếm có đó, không ít kẻ ở miền Tây sẵn sàng sát hại cả cha ruột của chúng. Nhân tiện nói về kho báu bằng vàng này, hãy thong thả ngẫm nghĩ về trạng thái kỳ lạ của sự việc ở đất nước này. Nó không có tiền; thực sự không có tiền. Tiền giấy ngân hàng không thể lưu hành; các tờ báo đầy rẫy những quảng cáo từ các tiểu thương buôn bán theo hình thức đổi hàng lấy hàng; và vàng Mỹ thì không thể kiếm được hoặc mua được. Lúc đầu tôi đã mua đồng vàng chủ quyền, đồng vàng chủ quyền của Anh; nhưng vì tôi không thể mua được đồng nào ở Cincinnati cho đến tận ngày nay, tôi buộc phải mua vàng Pháp; những đồng tiền 20 franc; và tôi đang du hành với chúng cứ như thể mình đang ở Paris vậy!

"Nhưng hãy quay lại Lower Sandusky. Mr. Q. đã lên giường ngủ ở đâu đó trên gác mái của ngôi nhà gỗ, nhưng bị rệp cắn dữ dội đến mức chỉ sau một tiếng anh ấy đã phải vùng dậy nằm trên xe ngựa, . . . nơi anh buộc phải chờ cho đến giờ ăn sáng. Chúng tôi ăn sáng, cả người đánh xe nữa, trong cùng một căn phòng chung. Căn phòng được dán tường bằng những tờ báo cũ và là một nơi thô sơ bậc nhất. Lúc bảy rưỡi chúng tôi lại khởi hành, và đến sáu giờ chiều hôm qua thì tới Sandusky. Nó nằm bên Hồ Erie, cách Buffalo hai mươi bốn giờ đi tàu thủy. Chúng tôi không tìm thấy con tàu nào ở đây, và cũng chẳng có chiếc nào từ đó đến nay. Chúng tôi đang chờ đợi, với mọi thứ đã được đóng gói sẵn sàng để khởi hành bất cứ lúc nào; và đang lo lắng ngóng chờ làn khói ở đằng xa.

"Có một cụ ông ở quán trọ nhà gỗ tại Lower Sandusky, người chuyên đàm phán với người da đỏ thay mặt cho chính phủ Mỹ, vừa mới ký kết một hiệp ước với người da đỏ tộc Wyandot tại nơi đó để di dời vào năm tới đến một vùng đất được chuẩn bị sẵn cho họ ở phía tây sông Mississippi, cách St. Louis một đoạn ngắn. Ông ấy đã miêu tả lại cuộc đàm phán của mình và sự miễn cưỡng muốn rời đi của họ một cách vô cùng xuất sắc. Họ là một dân tộc tuyệt vời, nhưng đã bị tha hóa và suy sụp. Nếu bạn có thể nhìn thấy bất kỳ người đàn ông hay phụ nữ nào của họ trên một đường đua ngựa ở Anh, bạn sẽ chẳng thể nhận ra họ khác biệt gì so với những người Digan.

"Chúng tôi đang ở trong một ngôi nhà nhỏ ở đây, nhưng rất thoải mái, và mọi người cực kỳ niềm nở. Tác phong của họ ở những vùng nông thôn này luôn cau có, sầm sì, ngốc nghếch và khó chịu. Tôi nghĩ trên bề mặt trái đất này không có dân tộc nào hoàn toàn thiếu đi sự hài hước, sự hoạt bát hay khả năng tận hưởng cuộc sống đến thế. Thật là điều đáng kinh ngạc nhất. Tôi hoàn toàn nghiêm túc khi nói rằng tôi đã không được nghe một trận cười sảng khoái nào trong suốt sáu tuần nay, ngoại trừ tiếng cười của chính mình; cũng chẳng nhìn thấy gương mặt vui vẻ nào trên bờ vai của bất kỳ ai ngoại trừ người da đen. Đi dạo vẩn vơ không mục đích; lãng phí thời gian ở các quán rượu; hút thuốc; nhổ nước bọt; và ngả ngớn trên vỉa hè ngồi ghế bập bênh bên ngoài cửa hàng: đó là những hình thức giải trí duy nhất. Tôi không nghĩ sự khôn vặt mang tính quốc gia này vượt quá khỏi người dân xứ Yankees; nghĩa là những người miền Đông. Phần còn lại đều nặng nề, đần độn và dốt nát. Chủ nhà trọ của chúng tôi ở đây là một người miền Đông. Ông ấy là một anh chàng ưa nhìn, niềm nở và lịch sự. Ông ấy bước vào phòng mà vẫn đội mũ; nhổ nước bọt vào lò sưởi khi đang nói chuyện; ngồi phịch xuống ghế sofa mà vẫn đội mũ; lôi báo ra đọc; nhưng tôi đã quen với tất cả những điều đó rồi. Ông ấy rất muốn làm vui lòng khách — và thế là đủ.

"Chúng tôi đang rất mong ngóng một chuyến tàu thủy; vì chúng tôi hy vọng sẽ nhận được thư của mình ở Buffalo. Đã là một giờ rưỡi; và vì chẳng có con tàu nào trong tầm mắt, chúng tôi đành miễn cưỡng (bất đắc dĩ vô cùng) phải gọi một bữa tối sớm.

"Thứ Ba, ngày 26 tháng Tư năm 1842.

"Thác Niagara!!! (Về phía nước Anh.)

"Tôi không biết mình có thể viết dài bao nhiêu từ Sandusky, người bạn yêu dấu của tôi, nếu một chiếc tàu thủy không xuất hiện ngay lúc tôi vừa hoàn thành trang giấy khó đọc cuối cùng! (Ôi! mực ở những vùng này!): lúc đó tôi buộc phải thu dọn hành lý tươm tất, nuốt vội một bữa ăn qua loa để gọi là ăn tối, và vội vã thúc giục đoàn tùy tùng lên tàu với tất cả tốc độ có thể. Đó là một con tàu hơi nước tuyệt đẹp, trọng tải bốn trăm tấn, mang tên Constitution, chở rất ít hành khách và có tiện nghi vô cùng rộng rãi, sang trọng. Nói gì thì nói về Hồ Erie, chứ nó không dành cho những ai dễ bị say sóng đâu. Tất cả chúng tôi đều say sóng. Về mặt đó thì nó tệ chẳng kém gì Đại Tây Dương. Những con sóng rất ngắn và cứ liên tục ập đến một cách khủng khiếp. Chúng tôi đến Buffalo lúc sáu giờ sáng nay; lên bờ ăn sáng; gửi thư đến bưu điện ngay lập tức; và nhận được — ồ! ai hay điều gì có thể nói được với niềm vui sướng nhường nào và sự phấn khích không thể thốt nên lời! — những bức thư từ Anh quốc của chúng tôi!

"Chúng tôi đã neo đậu suốt đêm Chủ nhật tại một thị trấn (và là một thị trấn vô cùng xinh đẹp) tên là Cleveland, nằm bên Hồ Erie. Mọi người đổ xô lên tàu đông như kiến cỏ vào lúc sáu giờ sáng thứ Sáu để nhìn ngắm tôi; và một nhóm 'quý ông' thậm chí còn cắm rễ ngay trước cabin nhỏ của chúng tôi, dòm ngó qua cửa ra vào và cửa sổ trong lúc tôi đang rửa mặt còn Kate đang nằm trên giường. Tôi tức giận đến mức độ ấy, lại thêm một tờ báo nào đó được phát hành ở thị trấn đó mà tôi tình cờ đọc được ở Sandusky (tuyên truyền chiến tranh đến cùng với nước Anh, nói rằng nước Anh phải 'bị đánh cho tơi bời một trận nữa', và hứa hẹn với tất cả những người Mỹ chân chính rằng trong vòng hai năm họ sẽ được hát bài Yankee Doodle ở Công viên Hyde và bài Hail Columbia tại các sảnh đường Westminster), thế nên khi viên thị trưởng lên tàu để đến ra mắt tôi theo phong tục, tôi đã từ chối gặp ông ta và bảo Mr. Q. nói cho ông ta rõ lý do sự tình. Ngài thị trưởng đón nhận điều đó một cách rất bình thản, lui ra phía trên bến tàu với một khúc gậy lớn và một con dao gọt gỗ, ông ta cặm cụi gọt đẽo khúc gậy đó một cách hăng hái (vừa làm vừa trừng trừng nhìn vào cánh cửa đóng kín của cabin chúng tôi) đến mức trước khi con tàu rời đi, khúc gậy lớn ấy đã chẳng còn to hơn một chiếc cọc chơi bài cribbage!

"Chưa bao giờ trong đời tôi lại rơi vào trạng thái phấn khích như khi đi từ Buffalo đến đây vào sáng nay. Bạn di chuyển bằng đường sắt, và mất gần hai tiếng đồng hồ trên đường. Tôi đã ngóng tìm những làn bọt nước và lắng nghe tiếng gầm thét, ở một khoảng cách xa ngoài sức tưởng tượng giống như khi vừa đặt chân đến Liverpool mà lại đi lắng nghe âm thanh giọng nói ngọt ngào của bạn ở Lincoln's Inn Fields vậy. Cuối cùng, khi đoàn tàu dừng lại, tôi nhìn thấy hai đám mây trắng lớn dâng lên từ lòng đất — chẳng có gì hơn thế. Chúng dâng lên chậm rãi, nhẹ nhàng, uy nghi vào bầu trời. Tôi kéo Kate lao xuống một con đường dốc và trơn trượt dẫn đến bến phà; mắng mỏ Anne vì tội đi quá chậm; đổ mồ hôi hột ở từng lỗ chân lông; và cảm thấy, thật không biết diễn tả thế nào, khi âm thanh ngày càng vang dội bên tai tôi mà vẫn chẳng thể nhìn thấy gì ngoài một màn sương mù.

"Có hai sĩ quan Anh đi cùng chúng tôi (chà! họ mới lịch thiệp làm sao, những nhà quý tộc thực thụ của tự nhiên), và họ vội vã chạy đi cùng tôi; để mặc Kate và Anne trên một mỏm băng; rồi cùng tôi leo qua những tảng đá dưới chân Thác Nhỏ trong lúc người lái phà đang chuẩn bị thuyền. Tôi không hề thất vọng — nhưng tôi chẳng thể nhận ra điều gì. Trong chớp mắt, tôi bị lóa mắt bởi những làn bọt nước và ướt sũng từ đầu đến chân. Tôi nhìn thấy dòng nước cuồn cuộn lao xuống từ một độ cao khủng khiếp, nhưng không thể hình dung nổi về hình dáng, vị trí hay bất cứ thứ gì ngoài một sự vĩ đại mờ ảo. Thế nhưng khi chúng tôi đã ngồi xuống thuyền, và đang băng qua ngay sát chân ngọn thác — khi ấy tôi bắt đầu cảm nhận được nó thực sự là gì. Ngay khi thay xong quần áo ở quán trọ, tôi lại bước ra ngoài, dắt theo Kate, và vội vã tiến đến Thác Móng Ngựa. Tôi đi một mình xuống tận vũng nước bên dưới. Sẽ thật khó để một con người có thể đứng gần Chúa hơn thế ở nơi đó. Có một chiếc cầu vồng rực rỡ nằm ngay dưới chân tôi; và từ đó tôi ngước nhìn lên — lạy Chúa vĩ đại! ngước nhìn một dòng thác nước xanh tươi rực rỡ biết bao! Dòng nước rộng, sâu và hùng vĩ dường như lụi tàn trong chính khoảnh khắc rơi xuống ấy; và từ ngôi mộ không đáy của nó trỗi dậy cái bóng khổng lồ của bọt nước và sương mù — thứ chưa bao giờ tan biến, và vẫn đang ám ảnh chốn này với sự trang nghiêm đầy kinh hãi — có lẽ từ thuở khai thiên lập địa.

"Chúng tôi dự định ở lại đây một tuần. Trong bức thư tới, tôi sẽ cố gắng phác họa cho bạn một vài ấn tượng của mình và kể cho bạn nghe chúng thay đổi như thế nào qua từng ngày. Hiện tại thì điều đó là bất khả thi. Tôi chỉ có thể nói rằng tác động ban đầu của cảnh tượng khủng khiếp này đối với tôi chính là sự bình yên trong tâm hồn — sự tĩnh lặng — những suy nghĩ lớn lao về sự nghỉ ngơi và hạnh phúc vĩnh hằng — không hề có chút sợ hãi nào. Tôi có thể rùng mình khi nhớ lại Glencoe (bạn thân mến, nếu Chúa cho phép, chúng ta phải cùng nhau đến thăm Glencoe), nhưng bất cứ khi nào nghĩ đến Niagara, tôi sẽ chỉ nghĩ đến vẻ đẹp của nó.

"Ước gì bạn có thể nghe thấy tiếng gầm đang vang vọng bên tai tôi lúc tôi viết những dòng này. Cả hai ngọn thác đều nằm ngay dưới cửa sổ của chúng tôi. Từ phòng khách và phòng ngủ, chúng tôi có thể nhìn thẳng xuống chúng. Chẳng có một bóng người nào trong nhà ngoài chúng tôi. Tôi sẵn sàng đánh đổi mọi thứ nếu bạn và Mac có ở đây để cùng chia sẻ những cảm xúc vào thời điểm này! Tôi vừa định nói thêm rằng, tôi sẵn sàng đánh đổi điều gì nếu cô gái thân thương có phần mộ nằm ở Kensal Green từng sống để có thể đồng hành cùng chúng tôi đến tận chốn này — nhưng chắc chắn cô ấy đã đặt chân đến đây rất nhiều lần, kể từ khi gương mặt ngọt ngào của cô phai mờ khỏi tầm mắt trần thế của tôi.

"Một lời về những bức thư quý giá trước khi tôi khép lại. Bạn nói đúng, bạn hiền của tôi, về các tờ báo; và bạn cũng đúng (tôi rất đau lòng khi phải nói điều đó) về con người ở đây. Tôi có nói đúng không? gã phù thủy hỏi. Đúng vậy! từ ban công, ghế chính diện cho đến các lô. Ban đầu tôi đã vô tình để lộ những điều đó, nhưng khi tôi kể cho bạn nghe tất cả — thôi nào; hãy cứ đợi — hãy cứ đợi — cho đến cuối tháng Bảy. Tôi không nói gì thêm nữa.

"Tôi thực sự nhận thấy một nhiệm vụ bị phân tách và chia nhỏ đến mức bối rối trong vấn đề viết sách du ký. Ồ! tinh hoa đã được thăng hoa của sự khôi hài mà tôi có thể chắt lọc từ những tư liệu mình đang có! . . . Bạn là một phần, và là một phần thiết yếu trong mái ấm của chúng ta, bạn thân mến ạ, và tôi vắt kiệt trí tưởng tượng của mình để hình dung ra hoàn cảnh mà tôi sẽ khiến bạn ngạc nhiên khi bước chân vào số 58, đường Lincoln's Inn Fields. Chúng tôi thực sự biết ơn Chúa vì sức khỏe và hạnh phúc của những đứa con vô cùng thương yêu cùng tất cả bạn bè của chúng ta. Chỉ một bức thư nữa thôi — duy nhất một bức nữa thôi. . . . Tôi cảm thấy mình vẫn chưa bày tỏ đủ một nửa tình cảm, nhưng có những tâm sự, bạn biết đấy, vốn sâu kín hơn cả ngọn ngôn từ."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.