Hỡi các nàng “Muse”, những nữ thần gây cảm hứng cho các nhà thơ, hãy tiết lộ với tôi - vì các nàng biết mà, và còn nhớ rõ những chuyện xa xưa - là làm sao mà cái đảo nằm giữa sông Tibre[1] đã tiếp nhận và cho thêm Esculape, con trai của Apollon và Coronis, vào số những đấng thần linh được sùng bái trong thành phố của Romulus này.
Ngày xưa một trận dịch hạch làm ô uế bầu không khí ở Latium, và người chết như rạ, xác nhợt nhạt, không còn máu, tàn phá bởi một chứng bệnh khủng khiếp. Rồi khi chán nản vì phải chôn cất người chết quá nhiều, người La Mã thấy những nỗ lực chăm sóc của con người cũng như tài nghệ chữa trị của các bác sĩ chẳng đưa đến đâu, bèn tìm kiếm sự giúp đỡ từ Trời; họ đi đến thành Delphes, điểm trung tâm của quả đất, nơi có sấm truyền linh thiêng của Apollon, khẩn cầu vị thần này ra tay cứu giúp họ thoát khỏi dịch bệnh và chấm dứt cái tai họa đang hủy hoại thành phố vĩ đại của họ. Rồi đền thờ, cây nguyệt quế và cái bao đựng tên mà Apollon mang trên người, tất cả đều rung lên cùng lúc, và cái thùng ba chân[2] đặt sâu phía trong đền thờ trả lời họ với những lời này khiến tâm can họ bất an vì sợ hãi:
“Hỡi những người La Mã, cái mà bọn ngươi tìm kiếm ở đây thì đáng lẽ bọn ngươi tìm kiếm nó ở chỗ nào gần hơn. Thậm chí bây giờ hãy tìm nó ở chỗ gần hơn đó, vẫn còn kịp mà. Bọn ngươi không cần Apollon cứu giúp để giảm bớt chết chóc đâu, nhưng cần con trai của Apollon cứu giúp. Hãy đi đi với những điềm lành, và tìm gặp con trai của ta”.
Khi viện nguyên lão La Mã, với sự khôn ngoan có thừa, được thông báo về những mệnh lệnh của thần Apollon, bèn tìm xem người con trai của ngài đang ở thành phố nào, và gởi một sứ bộ xuống thuyền đi đến vùng bờ biển Épidaure[3]. Ngay sau khi cập bến, họ vội vã đến gặp hội đồng nguyên lão Hy Lạp, khẩn cầu những vị này trao cho họ vị thần mà sự hiện diện ở La Mã của ông có thể chấm dứt những tai họa diệt vong của chủng tộc Ausonie; bởi vì bậc tiên tri ở thành Delphes đã ra lệnh rõ ràng như thế. Các vị nguyên lão không đồng thuận, mỗi người một ý. Vài vị cho rằng không nên từ chối giúp đỡ; nhưng phần đông nghĩ nên giữ lại vị thần, không để cho cái nguồn của cải riêng của họ ra đi cùng với ông.
Trong khi họ còn ngồi do dự thì hoàng hôn đã bắt đầu xua đuổi những tia nắng còn nấn ná và bóng tối lan tràn khắp thế gian. Rồi trong cơn mơ, người La Mã ơi, mi thấy Esculape, vị thần chữa bệnh, dường như đứng trước giường mi, y chang như ông được thấy ở đền thờ ông, tay trái cầm một cây gậy thô sơ, tay mặt vuốt bộ râu dài, và với giọng điềm tĩnh nói ra những lời này: “Đừng sợ! Ta sẽ đến, và ta sẽ rời đền thờ của ta. Chỉ nhìn con rắn quấn quanh cây gậy này thôi, ghi nhớ hình ảnh nó thật kỹ để có thể nhận ra nó sau này! Ta sẽ biến mình thành con rắn đó, nhưng lớn hơn, có vẻ lớn như những thân hình thần linh phải như thế khi họ biến thể.” Ngay lập tức tiếng nói im bặt, vị thần biến mất và cùng lúc giấc ngủ cũng chấm dứt và một ngày tốt lành rạng dần lên ngay khi giấc ngủ bỏ trốn.
Buổi sáng hôm sau đuổi đi những ngôi sao còn lập lòe trên trời khi các vị nguyên lão họp lại ở ngôi đền tráng lệ của vị thần mà người La Mã tìm kiếm; họ vẫn chưa biết phải làm gì nên đành khẩn cầu vị thần bộc lộ, qua các dấu hiệu linh thiêng, là ông muốn ở đâu. Họ vừa mới nói xong thì vị thần mang lại điều lành, dưới hình dạng một con rắn với cái mào cao[4], phát ra tiếng huýt gió báo hiệu sự có mặt của mình, và khiến cho bức tượng, các bàn thờ, các cánh cửa, sàn nhà bằng cẩm thạch, và mái nhà mạ vàng, tất cả đều rung lắc. Rồi ông dựng đứng thân hình tới ngang ngực ở giữa đền, đưa cặp mắt tóe lửa nhìn quanh. Đám đông sửng sốt đứng run rẩy tại chỗ vì khiếp sợ; nhưng ông thầy tế lễ, các lọn tóc thiêng được buộc bằng một dải khăn trắng, nhận ra vị thần và nói:
“Thần đó! Nhìn đi kìa, đây là thần của chúng ta đó! Hãy đứng im lặng giữ sự tôn kính, hãy nghĩ đến những điều thiêng liêng, hỡi tất cả những ai có mặt nơi đây. Ôi thần, mong sao sự xuất hiện của ngài ở đây mang đến lợi lạc cho chúng tôi và phù hộ cho những người thờ cúng này trong ngôi đền của ngài!” Mọi người có mặt đều tuân lệnh người thầy tế, đứng im chiêm bái vị thần hiện diện trước mắt họ, lập lại những lời cầu nguyện của ông, và những người La Mã cũng làm theo họ, miệng thầm thì với sự thành tâm. Vị thần gật đầu một cách ân cần với họ, và lúc lắc cái mào trên đầu, miệng huýt gió với cái lưỡi rung rinh, để họ yên tâm về sự ưu ái của mình.
Rồi ông trượt đi xuống các bực thang nhẵn bóng, và quay đầu nhìn lại hơi lâu những cái bàn thờ mà ông sắp sửa rời đi rồi chào ngôi nhà quen thuộc và ngôi đền, nơi ông đã trú ngụ rất lâu. Từ đó, con rắn to quá cỡ đó trườn mình di chuyển trên mặt đất có những bông hoa mà người ta ném lên người ông, khi uốn cong khi cuộn mình lại trong khi bò tới, băng qua trung tâm thành phố ra tới bến cảng được che chắn bởi một bờ kè uốn khúc. Đến đây thì ông dừng lại, và với vẻ mặt ân cần, ra vẻ muốn giải tán đám đông sùng bái đi theo sau mình, rồi ông xuống chiếc thuyền La Mã đậu sẵn đó. Cái sống thuyền cảm thấy gánh nặng thần linh và oằn sâu xuống dưới sức nặng của vị thần.
Những người La Mã thấy sung sướng vô hạn, và sau khi làm lễ hiến tế một con bò đực trên bãi biển, họ trang trí chiếc thuyền bằng các vòng hoa rồi rút dây và nhổ neo. Một ngọn gió nhẹ êm đưa thuyền đi; vị thần rướn mình lên cao, tựa đầu vào cái đuôi thuyền cong và nhìn đăm đăm màu nước biển xanh ngắt.
Nhờ gió thuận chiều, thuyền vượt qua biển Ionienne và vào sáng ngày thứ sáu thì đến Ý, đi ngang qua trước mặt bờ biển Lacinium nổi tiếng nhờ đền thờ bà Junon ở trên đó, rồi qua Scylacium, rồi bỏ lại đàng sau Iapygie, và tránh những tảng đá Amphrise ở phía bên trái và vách đá cheo leo Célennie ở phía bên phải, đi dọc theo bờ Rométhium, Caulon và Narycie; rồi đi qua biển Sicile và eo biển hẹp Pélore, và đi gần nơi ở của vua Éole, con trai của Hippotès, và các mỏ đồng Témèse, hướng đến đảo Leucosie và các vườn hồng ở Paestum có khí hậu dễ chịu. Tiếp đó, con thuyền đi men theo đảo Caprée, mũi đất Minerve, và những ngọn đồi Sorrente trồng nho trù phú, rồi các thành phố ven biển Hercule, Stabie, Parthénope, sinh ra để sống nhàn hạ, và từ đó hướng đến ngôi đền thờ bà Sibylle ở Cumes. Tiếp đến là thành phố Baïes có nhiều suối nước nóng, và Literne rợp bóng cây nhũ hương, và con sông Volturne kéo theo rất nhiều cát khi chảy xiết, Sinuesse với đông đúc chim bồ câu trắng như tuyết, và Minturnes có khí hậu hại sức khỏe, và Caiète, nơi được đặt theo tên và có ngôi mộ của bà vú của người anh hùng Énée; rồi ngôi nhà của Antiphate, và Trachas, nơi bị đầm lầy bọc quanh, rồi vùng đất của Circé, cuối cùng là bờ biển Antium vững chãi.
Khi những người thủy thủ quay mũi thuyền về phía Antium có đền thờ Apollon này, buồm giăng hết cỡ vì biển động, thì vị thần duỗi mình dài ra và bò qua nhiều hốc núi, nhiều con dốc quanh co, cuối cùng vào được bên trong đền của cha mình nằm gần bờ biển cát vàng. Khi biển lặng trở lại, vị thần bảo trợ cho thành Épidaure ở Hy Lạp rời bàn thờ của cha mình sau khi vui hưởng sự tiếp đãi nồng hậu của vị thần cùng máu mủ, trườn mình như cày trên bãi cát với những cái vảy kêu rin rít, rồi leo lên cái bánh lái, ngã đầu tựa lên trụ đuôi thuyền cao, cho tới khi đến Castrum rồi vào thành phố thiêng Lavinium, rồi vào cửa sông Tibre.
Tại đây đông đảo dân chúng từ khắp nơi lũ lượt kéo đến để gặp ông, các bà mẹ, các ông cha, và các trinh nữ chăm sóc các ngọn lửa của bà, hỡi nữ thần Vesta[5] đến từ Troie, và họ chào đón vị thần với những tiếng la hét mừng rỡ. Khắp nơi ở hai bên bờ sông mà con thuyền từ cửa biển đi ngược về La Mã, người ta thắp hương trên các bàn thờ nghe nổ lét đét, không khí đầy khói thơm. Khắp nơi những con thú bị hiến tế làm ấm những lưỡi dao với máu của chúng.
Bây giờ thì chiếc thuyền đi vào thành La Mã, kinh đô của thế giới. Con rắn đứng thẳng người, và tựa đầu vào đỉnh cột buồm, đưa mắt nhìn qua, nhìn lại tìm xem chỗ nào thích hợp để ở. Con sông Tibre rẽ làm hai nhánh ở đây, nước chảy quanh một nơi được gọi là Đảo[6]; ở mỗi bên nó dang hai cánh tay bằng nhau ôm lấy mảnh đất đó. Ở địa điểm này Esculape, con rắn - con trai của Apollon, lên bờ từ chiếc thuyền của người La Mã, lấy lại hình hài thần linh trước đó của mình, và chấm dứt được những tai họa mà dân chúng đã phải chịu đựng; sự hiện diện của ông đã mang lại sức khỏe cho thành phố.
❀ ❀ ❀
[1] Đảo nằm giữa sông Tibre: đảo mang tênTibérine (tên tiếng Ý: Isola Tiberina), nằm ngay trung tâm Roma hiện nay, khá nhỏ bé nhưng nổi tiếng nhờ có đền thờ Esculape (thần Hy Lạp của thuật chữa bệnh) được dựng lên vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên.
[2] Nguyên văn tiếng Anh: “the tripod”, trang 305. Thời cổ đại, tripod là một vật dụng (bàn, ghế, hay lọ) có ba chân. Ở thành Delphes, Pythie, người đàn bà chủ tế ở đền Apollon, thường ngồi trên cái thùng có ba chân bằng đồng để nói ra những lời sấm truyền.
[3] Épidaure: thành phố nằm ở phía Đông Bắc bán đảoPéloponnèse (Hy Lạp), nổi tiếng từ thời cổ đại nhờ có đền thờ Esculape (có từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên), thần của thuật chữa bệnh.
[4] Một số rắn có đầu như đầu con gà, với đầy đủ mào và yếm thịt, thường được gọi là Crowing crested cobra. Xem bài nghiên cứu trên báo khoa học Scientic American:https://blogs.scienticamerican.com/tetrapod-zoology/the-crowing-crested-cobra/.
[5] Vesta: nữ thần Lửa, con gái của Saturne. Mỗi nhà đều có lửa (bếp, lò sưởi) do các trinh nữ (the Vestal Virgins) thay mặt Vesta chăm sóc. Ở đây, Vesta được cho là “đến từ Troie” là vì Énée khi rời thành Troie đi lưu vong thì có mang theo các thổ công hay gia thần của mình.
[6] Tức đảo Tibérine nhỏ bé nằm ở giữa sông Tibre chảy ngang thành La Mã.