Các tướng sĩ thủy sư Minh quân trên bảo thuyền trơ mắt nhìn nhau, đều hy vọng các quan trưởng của họ có thể đưa ra chỉ thị phải chăng, nhưng các võ quan cũng bàng hoàng không biết làm thế nào cho phải. Có một tên tướng sĩ theo bản năng đưa tay định với tới khẩu hỏa súng bên hông, liền bị Vương tham tướng trợn mắt hung hằn trừng trừng ngăn lại.
Tất cả mọi người đều không hiểu, mấy tháng trước khi họ xuất hải từ Tuyền Châu, cấp trên rõ ràng đã tuyên bố mục đích chuyến xuất hải lần này, một là bắt giữ khâm phạm triều đình cùng dư đảng của chúng, hai là bình định vùng biển mới khai phá ở Nam Hải. Nay Phá Quân – vị Ngụy vương Bồng Lai đang kiểm soát vùng biển Nam Hải đã ở ngay trước mắt, sao các quan trưởng lại không cho họ ra tay? Kỳ lạ hơn nữa là, Trịnh đề đốc lại bảo tất cả mọi người đứng lùi ra xa chỉ được đứng nhìn, còn bản thân ngài ấy lại cùng vị Ngụy vương kia cởi giày khoanh chân ngồi trên mũi bảo thuyền trò chuyện.
Quả thực, đừng nói Minh quân không hiểu, đến cả quan binh Bồng Lai cũng chẳng hiểu nổi đại sự của đại nhân nhà mình là thế nào nữa – phớt lờ cả chiến thuyền của hai quân đối trận, vừa chạm mặt với Trịnh đề đốc liền nhảy sang thuyền đối phương. Hai người này ngồi sóng vai trên mũi bảo thuyền ngắm hoàng hôn, lại còn gác cả chân ra ngoài mạn thuyền, cứ như đôi thiếu niên đánh cá trở về, nói dăm ba câu chuyện phiếm rồi ai nấy trở về nhà.
Ánh chiều tà nhuộm đỏ cả những đám mây hình vảy cá trên bầu trời, mặt trời cũng không còn chói lọi đến mức khiến người ta khó mà nhìn thẳng như ban ngày. Trịnh đề đốc và Phá Quân ngồi trên mũi thuyền, mặt mũi và thân thể đều được phủ lên một tầng sắc đỏ, tựa như đã xóa nhòa ranh giới giữa hai quân, cũng xóa nhòa đi những năm tháng bôn ba chốn hải ngoại. Chiếc ống điếu bằng đồng thau trong tay Phá Quân chớp lóe ánh lửa đang đốt lá thuốc, mặt hắn hưởng thụ vô cùng, tựa như làn khói trắng bốc lên nghi ngút đã đưa hắn vào chốn tiên cảnh.
Hắn rít hai hơi, đưa ống điếu cho Trịnh đề đốc, Trịnh đề đốc đón lấy rít hai hơi, lập tức ho sặc sụa. Phá Quân đứng một bên cười ha hả, Trịnh đề đốc cau mày dốc ngược ống điếu lại đưa cho hắn, nói: "Thứ này hút vào sặc chết đi được, cũng không biết ngươi quen kiểu gì."
"Thứ này gọi là lá thuốc, ta thuở ban đầu hút cũng khó chịu như ngươi vậy. Lâu dần, lại thấy tiêu diêu tự tại, sướng vô cùng." Phá Quân nhận lấy ống điếu, lại hút tiếp, "Trên biển hơi ẩm nặng, hút một ngụm, thấy toàn thân từ trong ra ngoài đều ấm áp."
"Nghe nói thứ này hút nhiều cực kỳ có hại cho cơ thể, khói thuốc ngấm sâu vào ngũ tạng, lâu ngày ngũ tạng sẽ hóa đen, sinh ra kịch độc, đợi đến khi tủy xương cũng chuyển đen, con người coi như hết cứu. Ta thấy ngươi ít hút thì hơn." Trịnh đề đốc không chịu nổi thứ mùi khét lẹt do lá thuốc cháy tỏa ra, không kìm được phải dùng tay che mũi miệng.
Phá Quân thấy Trịnh đề đốc cực kỳ khó chịu với mùi lá thuốc, liền như muốn đối chọi mà rít thêm hai hơi nữa, bấy giờ mới nói: "Ta mà chết, há chẳng phải đỡ cho ngươi phải nhúng tay dơ bẩn? Cũng đỡ bị người ta đàm tiếu rằng ngươi huynh đệ tương tàn, đem đầu của bạn bè đi đổi lấy mũ ô sa. Đến lúc đó ngươi phong quang đại táng cho ta một trận, rồi tiện thể thu thập luôn thủ hạ của ta, thế mới gọi là nhất tiễn hạ song điêu."
"Ngươi và ta mười mấy năm chưa từng gặp mặt, lần trùng phùng này, đã hẹn là không bàn chính sự, chỉ ôn chuyện cũ." Phá Quân vạch trần mục đích chuyến đi này của Trịnh đề đốc, Trịnh đề đốc lại chẳng hề hoảng hốt, trong giọng điệu ngược lại còn có chút trách cứ.
"Ngươi dẫn theo ngổn ngang binh mã thế này, ai nấy đều hổ hổ nhìn sang, ở lại lâu e rằng tên ham công nào đó sẽ lao lên một đao chém ngã ta, cầm thủ hiệu của ta đi lĩnh thưởng, khéo lại được phong vạn hộ hầu không chừng?"
Phá Quân quay người liếc nhìn các tướng sĩ Minh quân đang tụ tập trên boong tàu, cợt nhả nói, đoạn gõ sạch tàn thuốc của ống điếu lên mạn thuyền, đặt sang một bên. Hắn nhận ra Trịnh đề đốc ban nãy muốn nói lại thôi, rõ ràng là có lời muốn nói, bấy giờ mới tiếp tục: "Ngươi và ta đều chẳng phải trẻ con hồi trước, mỗi nhà đều có tâm sự riêng, sao không đem ra nói hết? Cứ ngập ngừng ấp úng, ngược lại trông không giống việc huynh đệ nên làm."
"Được thôi, đã nói đến đây, ta cũng nói thẳng vậy." Trịnh đề đốc thấy Phá Quân đã nói thẳng không kiêng dè, nếu còn không nói nữa ngược lại thành ra mình tiểu khí, bấy giờ mới mở lời, "Tiên đế đột ngột bệnh mất..."
"Bệnh mất? Không phải do ngươi giết đấy chứ?" Phá Quân cắt ngang lời Trịnh đề đốc, xích lại gần bên tai hắn, tay khẽ chém một đường hình dao trên cổ tay hắn, cười nói, "Chặt đay chém đay cho nhanh, gọn gàng sạch sẽ."
Sắc mặt Trịnh đề đốc lập tức tái mét, giọng điệu có chút ngượng ngùng: "Là... phải, tiên đế chết do tai nạn. Sau khi kim thượng kế thừa đại thống..."
"Là Yên vương."
Phá Quân lại một lần nữa cắt ngang lời Trịnh đề đốc, Yên vương mà hắn nhắc đến chính là hoàng đế đương triều. Ngôi vị này vốn dĩ nên để Kiến Văn ngồi, kể từ khi thái tử mất tích, các đại thần trọng thần đã cùng đề cử người chú trấn giữ Yên kinh của thái tử là Yên vương lên làm hoàng đế Đại Minh mới. Vị Yên vương này vốn là phiên vương trấn giữ Yên kinh ở miền Bắc, tính tình dũng mãnh hiếu chiến, thủ hạ binh cường mã tráng, lại kết giao rất nhiều với các quan lại trong triều. Việc hắn kế vị hoàng đế không dựa vào đức dày tài cao hay uy vọng rộng khắp, mà dựa vào đạo đại quân mười vạn người từ miền Bắc tiến kinh chịu tang mang theo. Văn võ bá quan khắp chều đề cử hắn lên làm đế vương, phần lớn đều là vì kiêng dè binh quyền của vị vương gia này.
Thiếu niên mười mấy tuổi vào cấm quân, nói là Phá Quân và Trịnh đề đốc đều là quân nhân tập sự, nhưng thực tế Thái tổ Cao hoàng đế đối đãi với những vị tiểu quân quan này gần như không khác gì nghĩa tử. Ngày thường họ đều cùng các vị tiểu vương gia đọc sách, luyện tập, nhận thưởng phạt. Vào thời điểm ấy, Phá Quân vô cùng không hợp với Yên vương, hai người thường xuyên đánh nhau, Yên vương mấy lần bị đánh khóc phải đi tìm Tổ hoàng gia mách tội, nhưng Tổ hoàng gia nghe xong chỉ cười xòa, chưa từng phạt Phá Quân lần nào. Nay, vị vương gia hay khóc nhè ấy lại soán vị lên làm hoàng đế, Phá Quân vô cùng khinh thường hắn, cho nên nhất quyết không chịu gọi hắn là "kim thượng" theo Trịnh đề đốc.
Thấy Phá Quân cứ nói câu nào là vặn lại câu ấy, Trịnh đề đốc cũng thấy khó xử, chỉ là hắn biết tính tình vị hiền đệ này không thể làm trái, đành phải thuận theo mà nói: "Phải phải, là Yên vương. Yên vương nay chưởng quản thiên hạ, bốn bể vẫn chưa quy phục, các tiểu quốc đứng ngoài quan sát, thế nên phải dùng uy lực áp chế bốn phương. Hiền đệ ngươi vốn là người được phái đến Nam Dương thủ hộ hải cương cho đất nước từ thời tiên đế, nay dải đất Nam Dương này tuy nói là do một tay ngươi khai phá, nhưng trong mắt Yên vương, Bồng Lai chẳng khác nào một cỗi phiên trấn vẫy vùng không dứt..."
"Phiên trấn?" Phá Quân ha hả cười lớn, trong tiếng cười toàn là vẻ khinh miệt, "Ta ban đầu làm quan là làm quan của Tổ hoàng gia, Tổ hoàng gia băng hà, chức quan của ta cũng coi như chấm dứt. Chỉ là, ta nhớ ơn nghĩa của Tổ hoàng gia, nên mới tự nguyện thay ngài ấy thủ hộ Nam Dương mà thôi, chứ có cầm lấy một đồng bạc ơn huệ nào của triều đình đâu. Còn vị Yên vương nhà ngươi mới chính là phiên trấn, ăn cơm triều đình, uống nước triều đình, đến lúc có việc lại quay đầu cắn ngược một cái, bản thân ngược lại còn làm hoàng đế. Ta không thừa nhận hắn là cái thá gì hoàng đế cả, ta chỉ công nhận hắn là Yên vương miền Bắc, Nam Dương này ta cũng là Tĩnh vương, đôi bên bình đẳng đều là vương cả, hà cớ gì kẻ nào phải nghe lệnh kẻ nấy?"
Phá Quân ăn nói thất lễ với hoàng đế đương triều, nếu đổi là người khác e rằng sớm đã rút dao ra, đại chiến ba trăm hiệp ngay trước mặt thủ hạ để tỏ lòng trung quân ái quốc rồi. Trịnh đề đốc lại chẳng giận cũng chẳng nộ, tiếp tục nói: "Vương hiền đệ nghe ta nói đây. Cái gọi là người ở dưới mái hiên, không thể không cúi đầu. Nay Đại Minh dưới thời kim... Yên vương, dưới sự thống trị của Yên vương, quốc lực ngày một lớn mạnh. Lần này phái vi huynh dẫn thủy sư nam hạ viễn chinh, chính là để dẹp yên biển khơi, tạo dựng uy danh muôn đời cho Đại Minh. Kỳ thực, thứ Yên vương muốn chỉ là thể diện, chứ cũng không nhất thiết phải cướp đoạt Bồng Lai của ngươi, chỉ cần Vương hiền đệ ngươi chịu cúi đầu xưng thần một chút, lại thêm thể diện của vi huynh đây, thì việc phong ngươi làm Chân Tĩnh vương, đời đời vững trấn Nam Dương cũng chẳng phải chuyện khó khăn gì..."
"Thể diện của ngươi?" Phá Quân liếc mắt cũng không thèm nhìn Trịnh đề đốc, nói, "Ba triều nguyên lão, tự nhiên là có thể diện."
Trịnh đề đốc trải qua ba triều đại của Tổ hoàng gia, tiên đế và Yên vương, trước sau phò tá hai vị hoàng đế sau lên ngôi, Phá Quân nói hắn là ba triều nguyên lão, tự nhiên có ý châm chọc.
Trịnh đề đốc thở dài thườn thượt, dường như muốn trút hết nỗi uất ức phải chịu đựng sự đời ủy khúc cầu toàn, nơm nớp lo sợ chốn quan trường suốt mười mấy năm qua.
Hắn không nói tiếp nữa, hắn biết tính tình vị hiền đệ này của mình vô cùng cố chấp. Đến cả việc Yên vương là hoàng đế đương triều mà còn không chịu thừa nhận, muốn hắn cúi đầu thì lại càng khó khăn hơn gấp bội. Trầm mặc hồi lâu, Trịnh đề đốc lúc này mới mở lời lần nữa: "Ngươi vẫn không chịu quy phục Đại Minh sao?"
"Ta quen thói tiêu dao tự tại rồi, không chịu nổi cảnh có kẻ quản thúc trên đầu."
"Được rồi, chuyện này coi như bỏ qua. Ta trở về sẽ bàn bạc lại với Yên vương xem còn cách nào khác nữa không." Trịnh đề đốc đứng thẳng người dậy, nhìn sang phía đối diện giữa hai làn quân, đưa mắt nhìn Kiến Văn đang đứng trên chiến thuyền của Cẩm Y vệ ở phía xa ngóng về bên này, nói: "Đem đứa trẻ đó giao lại cho vi huynh mang về thì thế nào? Ta sẽ nói là do hiền đệ ngươi giao cho vi huynh, Yên vương cũng xem như giữ được thể diện, chuyện thảo phạt Bồng Lai cũng nhờ thế mà qua loa cho xong chuyện."
"Không cho." Phá Quân khoanh hai tay trước ngực, khom lưng, phủ nhận thẳng thừng đề nghị của Trịnh đề đốc.
"Được rồi." Trịnh đề đốc gật gật đầu, hai tay đặt lên đầu gối, nhìn về phía trước: "Còn nhớ lần đầu tiên chúng ta ra khơi không?"
"Ngươi nói lần quét sạch hải tặc ấy hả?"
"Chính là lần đó, ngươi và ta chỉ mang theo một trăm binh lính, hải tặc lại đông gấp mấy lần chúng ta. Vốn dĩ ta định tập kích ban đêm, hay cho ngươi đấy, không thèm tuân theo quân lệnh, xách dao lao ra ngoài. May mà ta dẫn binh đuổi kịp, kịch chiến suốt ba canh giờ mới giành được chiến thắng."
"Nói bậy," khóe miệng Phá Quân nhếch lên nụ cười mang theo chút ý đắc ý, "Ngươi là công tử bột, đi dẹp hải tặc mà cũng phải mặc kim giáp khôi giáp lấp lánh, dưới ánh nắng chói chang thì cách xa tám trăm dặm cũng nhìn thấy được, ta là sợ ngươi biến thành cái đích cho thiên hạ chĩa vào nên mới lao ra đấy chứ. Hắc, sau đó nếu không phải tự tay ta chém chết đầu sỏ giặc, thì đâu còn ngươi của ngày hôm nay? Rõ ràng là ta cứu ngươi, nay ngược lại ngươi lại nói là ngươi cứu ta à."
"Hừ, rõ ràng là ngươi lỗ mãng trước, sao bây giờ lại thành ra ta khoe khoang?" Trịnh đề đốc hừ một tiếng, cãi lại, "Làm đại tướng nếu ai cũng giống như ngươi, ngay cả giáp y cũng chẳng thèm mặc, ra trận chỉ mặc thường phục, thì làm sao lập uy trước mặt quân sĩ được?"
Phá Quân thấy tranh cãi mãi không xong, liền quay người gọi Vương tham tướng đang trấn áp những tên lính đang hừng hực khí thế cách đó mấy chục trượng: "Lão Vương, ngươi lớn tuổi rồi, đến làm chứng đi. Thuở ban đầu hai chúng ta xuất trận dẹp hải tặc, rốt cuộc là Trịnh đề đốc ngươi mặc đồ rực rỡ thu hút hải tặc tới, hay là ta lỗ mãng tranh công bứt dây động rừng?"
Trịnh đề đốc thấy Phá Quân vậy mà lại đi gọi Vương tham tướng đối chất, cũng không quay người lại, quát lớn về phía Vương tham tướng: "Ngươi nhớ cho kỹ vào, đừng có nói nhúng nói cuội."
Hóa ra, thuở Trịnh đề đốc và Phá Quân mới ra trận lần đầu, Vương tham tướng đã là tiểu đội quan đi theo hai người, sau này được Trịnh đề đốc cất nhắc suốt dọc đường, mới có thể leo lên đến chức tham tướng. Hắn đang mắng mỏ những tên lính đang đứng xem náo nhiệt, ngờ đâu Phá Quân và Trịnh đề đốc lại thình lình đặt câu hỏi, đáp cũng không xong mà không đáp cũng chẳng được, há hốc mồm ngượng ngùng vô cùng, chuỗi hạt sáp ong trong tay bị hắn vê đi xoa lại mấy vòng, lúc này mới nặn ra nụ cười lấy lòng đáp: "Thuở ấy Trịnh công khôi giáp sáng ngời, quân uy lừng lẫy, Vương công cũng thần dũng phi phàm, tự tay chém đầu thủ lĩnh giặc, hai vị đều xuất sắc cả."
Phá Quân thấy Vương tham tướng trả lời nước đôi khôn khéo, trong miệng phát ra tiếng "chậc" một cái, quay người không thèm nhìn hắn nữa. Trịnh đề đốc thừa biết Vương tham tướng là kẻ cáo già lõi đời, chẳng buồn đắc tội với ai, cười xòa rồi cũng không làm khó hắn nữa, quay người hỏi Phá Quân: "Nghe nói trên đảo của ngươi nuôi mấy vạn con mèo, lỡ như ngươi không còn nữa, đám mèo này xử trí thế nào, có cần ta giúp một tay không?"
"Xử trí thế nào ư? Chuyện này không phiền ngươi nhọc lòng đâu, ta tự có sắp xếp."
Trong lúc hai người đang trò chuyện trên bảo thuyền, mặt biển lúc này chỉ còn trông thấy nửa vầng mặt trời đỏ sậm, ánh chiều tà dần lịm tắt, tựa như đang giục giã những con người đang căng thẳng đối chất ngoài khơi mau chóng từ biệt. Một trận gió lạnh mang theo hơi nước và vị mặn lướt qua boong tàu, phần cổ để trần của Phá Quân rõ ràng cảm nhận được luồng gió này, hắn theo phản xạ kéo sát cổ áo chiếc áo choàng lông dê lại, cổ họng ngứa ngáy, không kìm được mà ho sặc sụa.
Nói đoạn, Trịnh đề đốc đứng phắt dậy, chân trần đứng trên boong tàu lạnh ngắt, cất giọng hỏi Vương tham tướng: "Hồ rượu của ta đâu?"
Vương tham tướng thấy Trịnh đề đốc hỏi, vội vàng tháo chiếc hồ rượu bằng bạc hình vuông to bằng bàn tay ở bên hông xuống. Trên hồ rượu khắc hình kỳ lân ngoảnh đầu và mây lành, nét chạm trổ tinh xảo, tròng mắt kỳ lân được cẩn hồng ngọc, nhìn qua là biết thủ pháp của thợ danh tiếng. Vương tham tướng hai tay dâng hồ rượu, cung kính tiến lên bước nữa, giao cho Trịnh đề đốc, Trịnh đề đốc lại đưa tận tay Phá Quân.
Phá Quân vặn nút bít bằng gỗ bần ở miệng hồ, nhấp một ngụm nhỏ, đôi mắt dường như cũng trở nên sáng rực: "Là rượu cũ của tửu phường nhà họ Dương cạnh cửa Thông Tế ở Kim Lăng phải không?" Nói rồi, hắn ngửa cổ dốc cược hồ rượu lên, ngửa đầu uống cạn, yết hầu động đậy mấy cái, nuốt trọn cả bầu rượu vào bụng, chất rượu theo khóe miệng chảy tràn xuống tận cổ.
"Hừ, sao ngươi cứ thế là cắp lên uống luôn vậy, lỡ ta hạ độc trong rượu thì sao?"
Trịnh đề đốc chắp tay sau lưng, cười nhạt nhìn Phá Quân đang thèm thuồng ôm chặt lấy hồ rượu không chịu buông tay.
"Cho dù ngươi có tự tay chém tiên hoàng thêm lần nữa, thì cũng không phải là kẻ hạ độc trong rượu đâu." Phá Quân đáp lại Trịnh đề đốc một câu, rồi lại giơ hồ rượu lên, uống cạn mấy giọt cuối cùng đọng lại dưới đáy, bấy giờ mới lưu luyến không rời buông hồ rượu xuống, giang rộng hai tay hướng về phía ánh hoàng hôn: "Uống ngụm rượu này vào, toàn thân từ trên xuống dưới đều ấm lên cả. Ngươi vẫn nhớ ta thích uống rượu nhà hắn cơ à? Không biết lão Dương ở tửu phường giờ ra sao rồi."
"Lão Dương mất năm ngoái rồi, người tiếp quản tửu phường giờ là con trai hắn - tiểu Dương, may thay, mùi vị rượu vẫn không đổi, y hệt như lúc cha hắn còn sống. Biết ngươi thích món này, ở Nam Dương e là khó lòng mà uống được, trước khi xuất phát ta đã đặc biệt ghé qua thành Nam Kinh một chuyến."
"Thế đạo thay đổi, mùi vị rượu vẫn thế." Phá Quân mân mê hồ rượu, lầm bầm lầu bầu trong miệng.
Lẩm bẩm vài câu, hắn cũng đứng dậy, hỏi Trịnh đề đốc: "Rượu này chỉ mang có một hồ thôi sao?"
"Sao có chuyện đó được?"
Trịnh đề đốc vỗ "bốp bốp" hai tiếng, Vương tham tướng liền căn dặn trung quân quan vài câu, hai thân binh khiêng lên một vò rượu lớn, trên vò rượu dán giấy đỏ hình vuông, viết to đùng chữ "Dương" bằng mực đen.
"Ta bảo người khiêng qua thuyền cho ngươi."
Phá Quân mỉm cười gật gật đầu, Trịnh đề đốc cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ chốc lát, đoạn nói: "Mười hai canh giờ có đủ dùng không?"
Người Đại Minh quen tính một ngày theo mười hai thời thần, nhưng đồng hồ tự minh của Tây Dương quay mười hai vòng thì chỉ có sáu thời thần, thế nên người Đại Minh quen thói chia thời gian thành Đại thời thông dụng và Tiểu thời của đồng hồ tự minh. Mười hai canh giờ ở đây chính là nói đồng hồ tự minh quay mười hai lần, tức là mười hai tiếng đồng hồ. Người các nước trên biển trộn lẫn vào nhau, cho nên quen dùng tiếng đồng hồ hơn là thời thần.
Phá Quân thu lại nụ cười, liếc mắt nhìn Trịnh đề đốc, khẽ gật đầu.
"Vậy thì mười hai canh giờ nhé, ngươi già cả rồi, đừng hút thứ đó nữa, uống chút rượu rồi đi ngủ sớm đi." Trịnh đề đốc nhìn thấy mai tóc của Phá Quân cũng đã lấm tấm vài sợi tóc bạc, không kìm được mà dâng lên một nỗi xót xa.
"Đừng có ngốc nữa." Nụ cười khổ xẹt qua khóe môi Phá Quân, hắn cũng nhìn thấy thái dương của Trịnh đề đốc hầu như đã bạc trắng, trên đầu cũng lố bịm không ít sợi bạc, những ngày tháng vắt óc suy tính, đấu đá lẫn nhau chốn triều đình chắc hẳn chẳng dễ chịu gì cho cam, "Ngươi mới là người phải thế, tuổi tác thế này rồi, tay chân đâu còn được bằng người trẻ tuổi, tối nay đừng thức khuya đấy."
Nói đoạn, Phá Quân giơ hồ rượu bạc ra trước mặt Trịnh đề đốc, Trịnh đề đốc không nói gì, chỉ lắc lắc đầu. Phá Quân đút hồ rượu bạc vào trong ngực, lại kéo chặt áo choàng, khởi động bả vai một chút, lùi lại mấy bước, lấy đà rồi tung người bật nhảy, vượt qua khoảng cách rộng mấy trượng giữa bảo thuyền và chiến thuyền của mình, nhảy phắt sang thuyền của hắn.
Trịnh đề đốc cúi đầu phát hiện ống điếu bằng đồng của Phá Quân vẫn còn để lại trên thuyền, vội vàng nhặt lên, hét về phía bóng lưng Phá Quân trên chiếc thuyền đối diện: "Ống điếu của ngươi..."
Phá Quân không quay đầu lại, chỉ xua xua tay, ý bảo hắn không cần nữa. Trịnh đề đốc chần chừ giây lát, siết chặt ống điếu trong tay, nhắm nghiền hai mắt.
Mặt trời gần như hoàn toàn chìm hẳn xuống biển, sao Bắc Đẩu sáng ngời treo lơ lửng trên bầu trời phương bắc, nó là vị tinh quân bảo hộ cho những người đi biển, dẫu không có la bàn, chỉ dựa vào ngôi sao sáng này, người ta cũng có thể tìm được phương bắc. Trên bầu trời đêm xám xịt màu sắt, sao Bắc Đẩu lấp lánh tỏa sáng, lu mờ cả những vì sao xung quanh, nhưng lại cô độc vô cùng, y hệt như Trịnh đề đốc đang đứng trên mũi bảo thuyền.
Phá Quân vừa nhảy về thuyền của mình không lâu, mấy tên tiểu hiệu Minh quân đã dùng thuyền sam-panh chở vò rượu mà Trịnh đề đốc tặng tới.
Sắc mặt Phá Quân bình thản, áo choàng khoác hờ trên người, hai ống tay áo trống rỗng phấp phới trong cơn gió biển đang lớn dần, một tay thụt trong áo choàng mân mê hồ rượu bạc lấy từ chỗ Trịnh đề đốc. Chiếc thuyền sam-panh đưa rượu dưới sự điều khiển của tay chèo lướt về phía trận địa thuyền Minh quân đang thu gọn lại. Từ phía Minh quân vang lên tiếng chiêng trống trống trận dồn dập, chiến trận đang đổi hướng và quay đầu, rút lui khỏi vùng biển này.
"Hắn vẫn đề phòng ta, nằm trong tầm pháo chính của Bồng Lai thế này, e là hắn ngủ không yên giấc đâu." Phá Quân cười khổ nói với phán quan lang quân, người chẳng biết từ lúc nào đã chạy từ tàu Tẩu Giao sang thuyền của Phá Quân.
"Khi nào mở chiến?" Phán quan lang quân hỏi.
"Ngày mai, mười hai canh giờ sau, tức là..." Phá Quân bấm ngón tay tính toán bên trong lớp áo choàng, "Tức là sáng ngày mai, lúc mặt trời vừa ló rạng đi."
"Có nên tập kích bây giờ không? Bọn chúng vẫn nằm trong tầm pháo chính của Bồng Lai, nếu đánh ngay bây giờ, theo ta thấy đủ sức tiêu chuẩn một nửa."
Thủy sư Minh quân đang quay đầu, ai nấy đều biết, tàu thuyền lúc đang quay đầu là thời điểm yếu ớt nhất, cũng dễ xảy ra hỗn loạn nhất. Phá Quân biết phán quan lang quân nói không sai, thuyền thủy sư Bồng Lai của hắn ít hơn thủy sư Đại Minh rất nhiều, chất lượng lại càng khó mà sánh bằng, hơn nữa tàu thuyền của hắn còn phân tán ở hai mươi bốn vệ sở trên khắp vùng biển rộng lớn Nam Dương, muốn tập hợp lại hoàn toàn là chuyện bất khả thi. Hắn hỏi phán quan lang quân: "Mười hai canh giờ, tàu thuyền từ các vệ sở ở ngoài khơi có thể tụ tập về được bao nhiêu?"
Phán quan lang quân thầm tính toán trong lòng, đáp: "Chiếu theo khoảng cách mà tính, trong mười hai canh giờ có thể đến sáu chiếc, qua thêm ba canh giờ nữa có thể đến thêm sáu chiếc nữa. Tàu Thức Ngưu thì miễn cưỡng có thể đến kịp, còn Lôi Điểu và Bá Hạ thì..."
"Mười hai canh giờ mà đến được sáu vệ sở, cộng thêm tàu thuyền ở bổn đảo, chưa đầy hai trăm chiếc, vẫn chưa đủ..."
Phá Quân cúi đầu trầm ngâm, Minh quân đã thu gọn đội hình rời khỏi vùng biển này. Các tướng sĩ trên chiến thuyền của hắn bàn tán xôn xao, đều đang đứng nhìn kỳ cảnh kẻ địch bình an rời đi trước miệng pháo này.
"Cứ thế đi!" Phá Quân hạ quyết tâm, hắn ngẩng đầu nói với phán quan lang quân: "Ngày mai chúng ta sẽ dùng những chiến thuyền này để nghênh địch, ta tự có cách."
Phán quan lang quân ôm quyền hành quân lễ với Phá Quân, vừa định rời đi, Phá Quân bỗng lại gọi giật hắn lại, hỏi: "Chỉ huy sứ Trữ lại Bồng Lai cùng mấy tên thủ hạ của hắn phải tiếp đãi cho chu đáo, không được để chúng đi lung tung, cũng không được để chúng mang theo vũ khí."
Phán quan lang quân hiểu ý, vừa định rời đi, Phá Quân nhìn thấy chiếc hải thuyền của Cẩm Y vệ chở Kiến Văn ở đằng xa đang xoay mòng mòng giữa biển nước, có vẻ như có ý định bám theo thủy sư Đại Minh, liền gọi với lại nói: "Còn con tàu kia mang về đây cho ta, phái thêm nhiều thuyền canh chừng vào, đừng để hắn thừa cơ trốn thoát."
Phán quan lang quân lại lần nữa lĩnh mệnh, chẳng mấy chốc, chỉ thấy hơn mười chiếc thuyền nhanh như chớp ùa lên, bao vây kín mít chiếc hải thuyền của Cẩm Y vệ. Thẩm đề kỵ cực kỳ thức thời giơ cao hai tay, cũng gọi thủ hạ buông hết binh khí xuống, tỏ ý hoàn toàn không có ác ý. Dưới sự kèm cặp của đám đông thuyền chiến, bám theo đại hạm đội của Bồng Lai.
Phá Quân nhìn hải thuyền Cẩm Y vệ bị áp giải trở về giữa hạm đội, lúc này mới yên tâm. Hắn quay đầu lại nhìn vò rượu mà Trịnh đề đốc tặng, vò rượu này cực kỳ lớn, lượng rượu đựng bên trong phải lên tới hơn trăm cân. Chân hắn ngầm dồn lực, thình lình tung một cước đá văng vò rượu bay xa mấy trượng, bay thẳng đến mạn chiếc liêu thuyền đối diện, "Ầm" một tiếng va chạm nát bét. Thân liêu thuyền vì thế mà chao đảo dữ dội, gây ra một trận náo loạn. Nước rượu màu vàng lênh láng khắp mặt biển sực nức mùi rượu đậm đặc, cách xa tít tắp vẫn ngửi thấy, lâu ngày không tan.
Đêm hôm đó, Bồng Lai sương mù mịt mùng, đèn đuốc sáng trưng suốt đêm không tắt, từng đoàn chiến thuyền nối đuôi nhau chở đầy đại bác và binh lính từ ngoài khơi xa cập bến cảng Bồng Lai. Nhìn từ xa, trên mặt biển đốm sao lấm chấm, tựa như đàn đom đóm tụ tập bay về tổ.