Tòa Tháp Đen

Lượt đọc: 167 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

Ban đầu cảm giác ấy không hề ảm đạm, nó chỉ có vẻ hoàn toàn khác thường. Mọi thứ dường như mất đi vẻ tự nhiên vốn có ngay khoảnh khắc sinh linh bé nhỏ mặc bộ đồ vải linon, cao chưa tới đầu gối anh, bịn rịn buông tay khỏi ống quần anh trong sự tiếc nuối. Cuộc chia tay này khiến Winn cảm thấy như thể có thứ gì đó sâu thẳm bên trong anh đang bị đối xử một cách bất công.

Ở cậu bé Peter chẳng có điểm tựa nào để anh có thể bấu víu lấy mà tìm thấy sự yên tâm, và thứ duy nhất mà Peter có thể bám vào chính là ống quần của anh—thứ mà người ta phải dùng vũ lực mới gỡ ra được khỏi đôi bàn tay bé xíu ấy.

Rồi sau đó, Peter sẽ sớm được dỗ dành bằng một con gấu bông hay chiếc chổi lò sưởi, nhưng Winn buộc phải đi trước khi đứa trẻ nguôi ngoai, và ra đi mà chẳng có lấy món đồ cứu tế nào như chiếc chổi lò sưởi bên cạnh.

Estelle khóc nức nở ngoài tiền sảnh, nhưng Winn chẳng mảy may bận tâm; từ lâu anh đã đi đến kết luận rằng Estelle có sở thích với những giọt nước mắt, cũng giống như việc có những người chuộng ăn trứng luộc vào buổi sáng. Anh chỉ đơn giản vỗ nhẹ lên vai cô và quay mặt đi chỗ khác trong lúc cô cúi xuống hôn tạm biệt.

Anh đã từng rất hào hứng khi khởi hành từ Charing Cross, ra oai với đám khuân vác và ném vào mặt gã nhân viên làm thủ tục hành lý những lời chê bai thẳng thừng, chẳng mảy may nể nang. Thế nhưng, ngay khi tàu thực sự lăn bánh, một cảm giác mới lạ bắt đầu dâng lên trong lòng anh. Nó ập đến khi anh vừa rời khỏi đất nước Anh quốc và vượt qua dải biển xám xịt, quen thuộc nhưng vô định ấy—bản thân vùng biển này trong tâm trí Winn vẫn luôn mang đậm chất Anh hơn là Pháp, đến mức anh cảm thấy bực bội khi phải đặt chân đến Boulogne và chịu cảnh bị đám khuân vác ngờ vực rằng bản thân có thể là một kẻ không biết kính sợ thần linh. Anh bắt đầu cảm thấy cô độc. Cho đến tận lúc này, con đường trước mắt anh luôn rõ mười mươi. Xung quanh anh bao giờ cũng có những chiến hữu cùng chung chí hướng và cả những chú chó trung thành; thậm chí hôn nhân, dẫu có phần rối rắm, cũng chưa từng đẩy anh vào cảnh bơ vơ. Anh có thể bị gò bó bởi nó, nhưng chưa từng bị quật ngã. Còn giờ đây, chuyện xảy ra giống như thể anh đã bị cắt đứt hoàn toàn khỏi mọi neo đậu. Chẳng còn trung đoàn nào, hay thậm chí một trường lục quân nào để mà nương bóng. Chẳng còn vết dấu nào để lần theo hay những con tuấn mã nào để thuần phục; ngay cả chú chó cưng của anh cũng phải để lại quê nhà vì những điều luật kiểm dịch động vật ngớ ngẩn.

Quả thực đó là một cảm giác khó chịu đến kỳ lạ, cứ như thể anh là một hồn ma vất vưởng lang thang trong một thế giới hoàn toàn mới và đầy rẫy những điều bất ngờ. Rất có thể anh sẽ chạm trán với đám người thô tục, vô giáo dục. Anh vốn luôn tìm cách tránh xa hạng người ấy, nhưng điều đó tương đối dễ dàng trong một thế giới mà ai nấy đều tuân thủ một bộ quy tắc ngầm bất di bất dịch. Nếu có kẻ nào không nắm bắt được lề lối, họ sẽ thấy tốt hơn là nên biến đi, và thỉnh thoảng Winn cũng từng giúp họ nhận ra sự lựa chọn hợp lý đó; thế nhưng giờ đây anhnghĩ rằng những kẻ vô lại hoàn toàn có thể xuất hiện mà chẳng sợ bị trừng phạt gì sất, bởi vì xét cho cùng, chính anh mới là kẻ rơi vào thế thiểu số. Anh có thể gặp những gã đàn ông chỉ giỏi ba hoa, những kẻ tóc dài, bí hiểm nhưng quá yểu điệu để có thể tung một cú đá, hoặc là những tên cấp tiến; dẫu vậy, nếu tình hình có trở nên tồi tệ nhất, anh vẫn tự nhủ bản thân luôn có một thứ vũ khí lợi hại là tỏ ra khó ưa.

Anh thừa biết rằng khi phần tóc gáy dựng ngược lên như lông cổ của một chú chó sục bị khiêu khích, hai tay đút sâu vào túi quần và anh đăm đăm nhìn thẳng vào mắt đối phương, bọn chúng thường sẽ phải ngậm miệng lại.

Dĩ nhiên anh chẳng ngại làm thế nếu cần thiết; chỉ là nếu cứ phải đối phó với tất cả mọi người trong khách sạn bằng cách đó thì mọi thứ có lẽ sẽ trở nên thật tẻ nhạt, và anh mang trong mình một nỗi sợ mơ hồ rằng bệnh phổi vốn là căn bệnh dành cho hạng tiểu nhân.

May thay, anh đã mang theo đôi giày trượt băng của mình, và anh đoán ở đó thế nào cũng có xe trượt tuyết cùng ván trượt. Anh thà xuống hoàng tuyết còn hơn là phải chung bàn với bất kỳ kẻ nào.

Thật kỳ lạ làm sao khi một người có thể sống đến tuổi ba mươi sáu để rồi đột nhiên, giữa lúc chẳng có gì trong tay, lại bỗng dưng bùng lên cả một chuỗi cảm xúc hoàn toàn mới mẻ—những cảm xúc hướng về Peter, đứa trẻ rốt cuộc cũng chỉ vừa mới chào đời ấy, vậy mà dường như đã gắn bó với anh từ muôn thuở; rồi cả đôi phổi đang trở chứng của mình, cùng nỗi cô đơn bủa vây chẳng khác nào một nữ sinh nhớ nhà! Winn chưa từng cảm thấy cô đơn khi ở Trung Phi hay Tây Tạng, thế nên việc nuôi dưỡng một nỗi niềm ủy mị nhường ấy ngay trên một chuyến tàu hỏa vây quanh bởi toàn người Anh quả thực có phần ngớ ngẩn, nhất là khi nó chẳng hề dính dáng gì đến nơi mà anh vẫn coi là nhà của mình. Cảm giác của anh khi rời khỏi căn nhà ở Aldershot chỉ đơn thuần là: "Tạ ơn Chúa vì từ nay sẽ chẳng còn những bữa tối xã giao nào nữa!"

Dù sao đi nữa, sự thật vẫn là sự thật. Anh thực sự cảm thấy cô đơn; có lẽ đó chỉ là một trong những triệu chứng của chứng bệnh phổi mà bác sĩ Travers đã quên nhắc tới, cũng tựa như cái khao khát mới mẻ đến kỳ lạ muốn ngả người ra phía sau góc ghế và nhắm nghiền đôi mắt lại.

Xét về một mặt nào đó, anh vẫn ổn, các cơ bắp vẫn hoạt động tốt, anh hoàn toàn dư sức ném một gã thanh niên vạm vỡ có hàng lông mi trắng đang đi ngang qua hành lãng văng ra khỏi khung cửa sổ gần nhất; nhưng ẩn sau tất cả là một cảm giác mờ mịt, một sự bức bối khó tả cứ bám riết lấy anh, như thể có những lúc anh sẽ chẳng còn đủ sức để làm bất cứ điều gì nữa. Anh không thể giải thích rạch ròi điều đó; nhưng nếu cái cảm giác ấy thực sự bùng phát dữ dội vào một lúc nào đó sau này, anh quyết định sẽ tự kết liễu đời mình thật nhanh trước khi Peter kịp lớn khôn và biết bận lòng.

Có một điều anh đã đinh ninh quyết chí: anh sẽ cố gắng chữa khỏi bệnh nếu còn có thể, nhưng nếu không cứu vãn được, anh tuyệt đối không chấp nhận để ai phải chăm sóc mình. Chỉ riêng ý nghĩ đó thôi cũng đủ đẩy anh ra hành lang, nơi anh đã trải qua suốt đêm bằng cách đi qua đi lại không ngừng, hoặc ngồi trên chiếc ghế nhỏ vô cùng khó chịu cạnh ô cửa lùa gió lộng chỉ để tự chứng minh với bản thân rằng anh chẳng hề mệt mỏi chút nào.

Anh bắt đầu cảm thấy khá hơn một chút sau ly cà phê ở Basel, và dù bản thân vốn chẳng phải là tuýp người mặn mà gì với phong cảnh thiên nhiên thuần túy, những ngôi làng nhỏ ở Thụy Sĩ với những nhà thờ có tháp đồng hồ cao sơn màu hồng hoặc xanh biếc bỗng khiến anh thỉnh ước gì mình có thể gói gọn chúng vào một chiếc hộp, kèm theo một mảng sườn núi xanh ngắt phía sau, rồi gửi về cho Peter làm đồ chơi.

Qua khỏi Landeck, anh ngửi thấy mùi tuyết lạnh và đã thành công khi tranh biện với cả một toa tàu đang run lẩy bẩy về việc mở một ô cửa sổ. Mùi tuyết ấy khơi gợi trong lòng Winn những ký ức tuyệt đẹp về xứ Kashmir và những đêm một mình cô độc giữa những đỉnh núi cao chót vót trong một căn nhà nghỉ trên đèo.

Các thung lũng dần ngưng đọng tiếng thở, sắc màu ảm đạm của mùa thu chìm lỉm vào trong giấc trắng tinh khôi. Núi non sừng sững dựng đứng ở mọi hướng, từng đợt sóng bọt băng giá nối đuếp nhau vươn thẳng lên bầu trời cao vời vợi, trong vắt. Ánh sáng mờ ảo của buổi hoàng hôn đang buông rơi trùm lên mặt đất một tấm khăn voan dệt bằng ánh bạc và thứ hoàng kim đang lùi dần vào dĩ vãng.

Thung lũng chìm vào cõi tịch mịch, một sự tĩnh lặng lạnh buốt và thầm thì. Vầng trăng ẩn hiện đầy vẻ huyền bí sau hàng cây linh sam đen nhánh, phóng những tia sáng xanh ngắt vào lòng chảo sâu thẳm của các hẻm núi. Đây là thế giới của thi ca, Blake hay Shelley có thể đã kiến tạo nên nó, nhưng lại quá lạnh lẽo đối với Keats. Winn chưa từng đọc qua các nhà thơ ấy. Cảnh tượng này chỉ gợi cho anh nhớ đến một chuyến săn sơn dương cực kỳ thành công ngày trước, nơi anh đã hạ gục được một chú sơn dương đực tuyệt đẹp sau bốn tiếng đồng hồ trèo đèo lội suối và rình rập đầy gian khổ. Dãy núi lùi xa dần, và vạn vật hòa làm một trong cái hõm trắng xóa đặc quánh những bóng cây linh sam đen, xa hơn nữa là một hồ nước xanh thẳm tựa viên ngọc mặt trăng Ấn Độ, rồi từng ngọn đèn của các khách sạn hiện lên san sát, lấp lánh đầy bất ngờ như một bầy đom đóm bay vụt qua đêm tối. Chúng bừng sáng, xé toạc màn sương mù bí ẩn, thách thức cả núi non, hiên ngang và dõng dạc như chính nhịp đập của sự sống.

Con tàu dừng lại, và hành khách bên trong lục đục đổ ra sân ga với dáng điệu có phần lóng ngóng, cứng đờ. Lập tức, cái lạnh ùa đến ôm trọn lấy họ, không phải cái lạnh buốt âm ỉ, quỷ quyệt của những vùng đất thấp, mà là cái tát tươi mới, dứt khoát của dãy Alps. Nó bóp nghẹt lấy cổ họng và lồng ngực họ, làm tê rần đôi tai và chóp mũi; không có sự đe dọa nào trong đó, cũng chẳng hề có lấy một chút yếu đuối. Nó uy quyền và ép buộc chẳng khác nào một viên cảnh sát giữa chốn hỗn chiến đường phố.

Winn vừa bước chệch sang một bên để nhường chỗ cho một người phụ nữ đang lớn tiếng đòi gã khuân vác phục vụ mình thì anh chợt thấy một người đàn ông đang chật vật bước vào vầng sáng dưới cột đèn đường; hắn đang cẩn trọng ôm thứ gì đó trong vòng tay.

Winn không tài nào nhận ra ngay đó là vật gì, nhưng anh nhìn thấy khuôn mặt của người đàn ông và đọc được nỗi thống khổ tận cùng của cõi đời trong đôi mắt ấy; rồi anh phát hiện ra gánh nặng trên tay hắn chính là một người phụ nữ. Đôi bàn tay cô gầy guộc đến mức trông tựa như những cánh hoa dập nát phủ trên vai người đàn ông; khuôn mặt cô chỉ còn là một chiếc vỏ khô khốc; đôi mắt vẫn chuyển động nên Winn biết cô vẫn còn sống, và giữa bầu không gian tĩnh lặng đến rợn ngợp ấy, anh bắt trọn được giọng nói thì thầm, khô khốc của cô: "Em không thực sự mệt đâu, mình ơi," cô thì thào. Chỉ khoảnh khắc sau, họ đã biến mất. Winn thấy vô cùng khó hiểu trước việc con người ta có thể yêu nhau sâu đậm đến nhường ấy, hay việc một người phụ nữ cận kề cái chết lại có thể dùng chút sức lực cuối cùng để xua đi nỗi sợ hãi của chồng. Anh cảm thấy vô cùng thương cảm cho họ và đồng thời lại bực bội chính mình vì đã sinh ra lòng thương hại ấy. Suy cho cùng, anh đến Davos đâu phải để lang thang khắp nơi và rủ lòng trắc ẩn với những người xa lạ mà mình chưa từng quen biết. Điều buồn cười là anh không chỉ thương hại họ, mà còn thấy thương hại chính bản thân mình một chút. Liệu tình yêu có thực sự giống như thế chăng? Và anh đã bỏ lỡ nó rồi sao? À, dĩ nhiên là anh biết thừa mình đã bỏ lỡ, chỉ là anh chưa từng nhận ra nó lại mang một hình hài sâu sắc đến nhường ấy.

May thay, đúng lúc đó một gã khuân vác người Đức xuất hiện và ngay lập tức gợi lên trong lòng Winn một mối địch ý đơn thuần. Hắn là một kẻ tự mãn, và lại mang đến cho Winn nhầm chiếc vali.

"Nghe đây, bạn tôi," Winn điềm đạm cất lời, ẩn chứa bên trong câu nói là một sự cương quyết không mảy mượng nhượng bộ, "nếu anh không mau lẹ lên và mang lại cho tôi đúng những chiếc hộp có gắn nhãn xanh lá, tôi sẽ đá bay anh sang tận tuần sau đấy."

Thái độ này giúp tinh thần Winn phấn chấn trở lại nhanh hơn cả việc nhận lại đống hành lý. Chẳng có ai theo chân anh lên chiếc xe buýt nhỏ ngột ngạt đang lao vút đi về hướng đích đến. Khách sạn là một tòa nhà gỗ xấu xí có hình dáng như một chiếc tổ ong trổ đầy những ban công; nó gợi cho Winn liên tưởng đến một chiếc lồng chim khổng lồ được trang bị đầy đủ các bậc đậu. Lúc đó mới chỉ mười giờ đêm, nhưng tòa nhà tĩnh lặng tựa như những ngọn núi sừng sững phía sau nó.

Chủ khách sạn xuất hiện, dẫn Winn vào một căn phòng trống trải được thắp sáng rực rỡ và mời anh ăn thịt nguội.

Winn thốt ra những lời mà bất kỳ một người nhà Staines nào cũng cảm thấy mình buộc phải thốt lên khi đặt chân đến một nơi lạnh lẽo vào đêm muộn lại bị đối đãi bằng dĩa thịt nguội ngắt.

Gã chủ khách sạn thì thầm vài câu xin lỗi, rồi sau một hồi lâu chờ đợi cũng quay lại với món súp. Chẳng thứ gì, kể cả việc anh có tiếp tục dùng lời lẽ cay nghiệt đến đâu, có thể khiến gã thay đổi ý định ngoài chén súp ấy. Gã cứ lẩm bẩm rằng đã muộn và mọi người phải giữ yên lặng, gã dường như chẳng tin nổi Winn khi anh tuyên bố rằng mình lên đây không phải để tìm kiếm sự yên lặng. Bản thân Winn cũng dần trở nên điềm tĩnh hơn khi bước theo gã chủ nhà qua những hành lang dài dằng dặc trải thảm sơn dầu, nơi mỗi bước chân của anh vang lên âm thanh tựa tiếng sấm rền đục ngầu.

Khắp nơi tỏa ra một thứ cảm giác kỳ lạ về sự sạch sẽ tuyệt đối và tĩnh mịch, thoang thoảng mùi thuốc khử trùng và hình ảnh những cánh cửa bọc nỉ xanh dày cộp.

Khi Winn bị bỏ lại một mình trong căn phòng trông như một nhà giam sáng choang, trống hoác ngập tràn ánh đèn điện, với thêm một cánh cửa bọc nỉ xanh dẫn thông sang căn phòng bên cạnh, anh chợt nhận ra có một thứ âm thanh rất khẽ phát ra từ phía bên kia cánh cửa. Nó tựa như tiếng sủa của một chú chó bị nhốt trong căn hầm tối tăm ở mãi tận đâu; điều đó lý giải vì sao những cánh cửa lại phải được bọc đệm kỹ càng đến vậy.

Trong suốt những tháng ngày sau đó, Winn không bao giờ thoát khỏi âm thanh ấy, dù ở gần hay ở xa; nó luôn hiện hữu bên cạnh anh, hiếm khi chói tai hay gắt gỏng, nhưng lúc nào cũng vang lên tựa như có thứ gì đó đang bị bẻ vụn dần dần, từng chút một, bị lắc tung thành từng mảnh bởi một sức mạnh vô hình nào đó đang ngấm ngầm phá hủy.

Winn vung tay đẩy mạnh khung cửa sổ dài đối diện chiếc giường. Nó dẫn ra một ban công nhỏ riêng tư—nếu đã phải tá túc ngoài ban công, tất nhiên anh phải đảm bảo đó là ban công riêng—và phóng tầm mắt bao quát toàn bộ Davos.

Những ngọn đèn giờ đây đã vơi đi gần hết. Chỉ còn lác đác hai ba đốm sáng lấp lánh trong một vòng tròn hẹp trên tấm thảm tuyết; ẩn sâu phía sau chúng là hình thù mơ hồ của những dãy núi sừng sững, mang theo vẻ xa lạ khôn cùng và chìm trong giấc ngủ bình yên.

Một hồi chuông vang lên giữa bầu không gian tĩnh mịch với âm hưởng trầm đục, vang vọng. Đó là một âm thanh vừa mang lại cảm giác an tâm lại vừa trang nghiêm, tựa như thể chỉ riêng chiếc chuông ấy mới gánh vác trách nhiệm đối với nhân loại, đối với tất cả những linh hồn đang chen chúc trong thung lũng nhỏ bé này, đang oằn mình tranh đấu cho những cuộc đời mong manh, rời rạc và chẳng có lấy một cái kết trọn vẹn của riêng họ.

Winn tự lẩm bẩm trong đầu: "Thật là một nơi kỳ quặc—Davos. Mình chẳng hề ngờ nó lại thế này. Cứ như sự pha trộn giữa một buổi dã ngoại và một nghĩa địa vậy!"

Và rồi bỗng nhiên, có tiếng ai đó cười vang. Âm thanh ấy cất lên từ sườn núi phía sau khách sạn, và giữa màn đêm tĩnh mịch, đôi tai thính nhạy của Winn bắt trọn tiếng động của một vật thể đang lao vút qua lớp tuyết mềm. Chắc hẳn có ai đó đang trượt tuyết ngoài kia, một kẻ còn rất trẻ, vui tính và mang niềm vui phơi phới không gì lay chuyển nổi. Winn thầm hy vọng sau này cậu bé Peter cũng sẽ có tiếng cười sảng khoái nhường ấy. Đó là một tiếng cười đúng chất con trai, trầm ấm, ẩn chứa sự tinh nghịch, đầy phấn khích và vô cùng dễ mến.

Anh thầm mong đứa trẻ sẽ không bị ai bắt phạt vì tội đi chơi khuya và gây náo động. Anh mỉm cười khi nghĩ rằng chủ nhân của giọng nói kia, dẫu có bị tóm cổ đi chăng nữa, chắc chắn vẫn sẽ tìm ra cách thoát khỏi rắc rối; và đến khi trèo lên giường đi ngủ, trên môi anh vẫn nở nụ cười.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.