Chẳng bao lâu sau khi Lionel ra đi, Estelle nhận ra rằng giữa cô và biên giới Ấn Độ chẳng còn vướng bận gì ngoài chiếc ghế dài trong phòng khách. Cô bám chặt lấy chốn dung thân này chẳng khác nào loài hàu bám vào vách đá. Mọi người đều tỏ ra vô cùng tử tế và cảm thông, bản thân Winn cũng đã cải tà cở thiện. Anh dịu dàng, chu đáo với cô hơn, và ngỏ ý muốn đọc sách cho cô nghe vào mỗi buổi tối.
Không có gì lay chuyển nổi cô khỏi trạng thái ấy. Đứa bé chào đời, chẳng mang lại chút hiệu quả nào trong việc khích lệ sức khỏe của mẹ, lại càng không phải kiểu em bé mà Estelle từng tưởng tượng. Ngay từ những phút đầu tiên, thằng bé đã là một dòng họ Staines chính hiệu. Nó chưa bao giờ thích được ôm hôn, và luôn sốt sắng tự đứng trên đôi chân của mình càng sớm càng tốt. Lúc tám tháng tuổi, nó đã bò nhanh như chớp trên thảm với một chiếc hộp nhạc lớn tòng teng ở miệng nhờ quai xách; đến mười tháng tuổi nó đã biết đi. Nó làm rách bươm tất cả mấy chiếc áo đầm bằng vải linon của mình vào cờ lê của Winn, ré lên vì vui sướng mỗi khi nghe tiếng bước chân cha, và lúc nào cũng thích leo lên đầu gối hơn là ngồi trong lòng.
Thái độ chung của nó đối với phụ nữ là sự thù địch; nó coi họ là những chướng ngại vật đáng ghét trên con đường phiêu lưu, và sẽ tru tréo thảm thiết mỗi khi họ vuốt ve nó. Nó tỏ ra dễ dãi hơn chút ít với mẹ mình, người mà trong mắt nó chỉ là một vật dụng do Thượng đế ban ơn gắn liền với chiếc ghế dài, sinh ra là để cho nó trèo lên.
Bản năng làm mẹ của cô chỉ tiến xa đến mức cho phép nó trèo qua người mình một ngày hai lần trong những khoảng thời gian ngắn. Dù sao thì thằng bé cũng đã giúp cô kiếm thêm được hai năm.
Vào một buổi chiều mùa thu lúc bốn giờ, Estelle nằm trên ghế dài với đôi mắt nhắm nghiền kiên định. Cô nhận ra Winn đã bước vào, và đang đi lại nặng nề bằng đôi ủng dày một cách thiếu tế nhị. Anh hiếm khi bước vào phòng khách vào giờ này, và nếu có lỡ vào, anh cũng sẽ chuồn ra ngay khi thấy mắt cô đang nhắm lại.
Chắc hẳn anh định nói điều gì đó khủng khiếp về Ấn Độ; cô đã chờ đợi điều này từ lâu. Bản báo cáo về Tây Tạng đã hoàn thành, và anh có thể gác lại công việc ở bộ tham mưu bất cứ lúc nào anh muốn.
Anh đứng ở phía chân chiếc ghế dài và nhìn cô đầy tò mò. Estelle có thể cảm nhận được ánh mắt anh đang dán vào mình; cô tự hỏi liệu anh có nhận ra cô gầy đi thế nào, và đôi mi mắt cô mỏng manh ra sao. Từng tế bào trong cơ thể cô đều ý thức được niềm khát khao muốn gây ấn tượng với anh về sự yếu đuối của mình. Cô giương cao điều đó trước mặt anh như một lá cờ.
"Estelle," anh lên tiếng. Khi anh cất lời, cô khẽ giật mình.
"Vâng, anh yêu," cô thì thầm, gần như chỉ đủ nghe.
"Em phiền lòng không nếu mở mắt ra?" anh gợi ý. "Anh có chuyện muốn bàn với em, và thú thật là anh chẳng thể trò chuyện nổi với một cánh cửa đang sập thẳng vào mặt mình."
"Em rất tiếc," cô đáp nhỏ nhẹ; "Em e rằng mình đã quá kiệt sức để nói chuyện, nhưng em sẽ cố gắng lắng nghe những gì anh muốn nói."
"Cảm ơn em," Winn nói. Anh khựng lại như thể, rốt cuộc thì, mọi chuyện chẳng dễ dàng gì để bắt đầu, ngay cả trước sự hưởng ứng này. Cô nghĩ trông anh khá kỳ lạ. Đôi mắt anh mang một vẻ ngớ ngẩn, thẫn thờ, như thể anh vừa uống say mèm hoặc như thể có ai đó vừa đá vào người.
"Nào," cuối cùng cô hỏi, "anh muốn bàn chuyện gì? Anh biết đấy, sự hồi hộp dưới bất kỳ hình thức nào đều rất có hại cho tim của em."
"Anh xin lỗi," anh nói. "Chỉ là anh nghĩ mình nên báo cho em biết rằng anh sắp đi Davos."
"Davos!" Cô mở trừng hai mắt nhìn chằm chằm vào anh. "Cái xứ tuyết đó á?" cô hỏi, "đầy những kẻ mắc bệnh lao ư? Thật là một ý tưởng kỳ quặc! Em chưa bao giờ có thể hiểu nổi tại sao mọi người lại thích đến đó để thể thao. Đối với em điều đó có phần tàn nhẫn; nhưng ngặt nỗi, em biết mình vốn rất nhạy cảm với những chuyện kiểu đó. Nỗi đau của người khác đè nặng lên tâm trí em lắm."
"Anh không nói là anh đến đó để thể thao," Winn đáp với cái giọng kỳ lạ đó. Anh ngồi xuống và bắt đầu nghịch chiếc dao cắt giấy trên đầu gối. "Thực ra thì, không phải vậy," anh nói tiếp. "Một bên phổi của anh đã hỏng rồi. Họ cho rằng anh bắt buộc phải đi. Thật là phiền phức hết sức."
Thật kỳ lạ cái cách anh cứ nhìn cô mãi, như thể anh đang mong đợi điều gì đó. Bản thân anh cũng chẳng thể nói chính xác mình đang mong đợi điều gì. Anh đang phải đối mặt với một hoàn cảnh hoàn toàn mới; anh không hẳn là sợ hãi, nhưng anh có cảm giác rằng mình rất muốn biết phải đối phó với nó ra sao. Anh đã từng ở rất gần cái chết—nhưng chưa bao giờ anh nghĩ đến chuyện chết chóc, lúc này anh cũng chẳng ở gần cái chết mà là đang ở điểm tận cùng của něu điều gì đó có thể rất khủng khiếp, đó sẽ là một quá trình lìa đời kéo dài. Anh hy vọng mình sẽ vượt qua được suôn sẻ và không làm ầm ĩ lên hay trở thành gánh nặng cho bất kỳ ai. Tất cả đến một cách đột ngột đến kỳ lạ. Anh đã đến gặp bác sĩ Travers hôm nọ vì khi con Polly lồng lên, anh thấy một cơn đau kỳ lạ ở ngực. Anh vừa bị ngã ngựa tuần trước, và anh cứ đinh ninh rằng mình bị gãy xương sườn; nhưng Travers bảo không phải vậy.
Travers đã gõ khắp người anh với vẻ mặt nghiêm nghị, vô cùng nghiêm nghị, và thốt ra vài điều rất khó chịu. Ông khăng khăng lôi tuột Winn lên thành phố để gặp một vị bác sĩ lớn, và vị bác sĩ lớn ấy đã phán: "Davos, và đừng chần chừ một phút nào." Ông chẳng nói gì thêm nhiều, chỉ khi Winn cất lời: "Nhưng khỉ thật, bác biết đấy, cháu khỏe như trâu ấy chứ," thì ông đáp lại: "Cậu sẽ cần đến từng chút sức lực mà cậu đang có đấy," và suốt cả quãng đường về nhà, Travers đã lên lớp anh một trận ra trò.
Nghĩ lại mới thấy thật buồn cười, bởi vì chẳng có gì để nhìn thấy hay thậm chí để cảm nhận—ngoại trừ một cơn ho húng hắng—và hơi nóng người vào các buổi chiều, thế nhưng sau khi Travers mắng cho một trận tơi bời, Winn đã viết thư cho Lionel, lập di chúc và thầm tự hỏi không biết Estelle sẽ cảm nhận thế nào về điều đó. Anh không muốn làm cô buồn phiền. Anh đã chẳng làm cô buồn phiền. Cô trừng trô nhìn anh một lát; rồi cô nói:
"Thật kỳ cục! Trông anh hoàn toàn bình thường mà. Em chưa bao giờ tin tưởng Travers cả."
Winn nhắc đến tên của vị bác sĩ lớn kia.
"Nghe có vẻ ngớ ngẩn thật đấy," anh nói thêm với giọng phân trần. Anh vẫn chờ đợi. Estelle cựa quậy bồn chồn trên ghế dài.
"Nào," cô nói, "thế rốt cuộc em phải làm gì đây? Thật sự là phiền phức khủng khiếp. Chắc em sẽ phải về nhà bố mẹ đẻ vào mùa đông này trừ khi anh có đủ khả năng để cho em thuê một căn hộ ở London."
"Anh e rằng mình không đủ khả năng lo chuyện đó," Winn nói. "Anh nghĩ tốt nhất là em nên về nhà bố mẹ đẻ vào mùa đông này, trừ khi, tất nhiên là em thích về nhà bố mẹ anh hơn. Ngày mai anh sẽ xuống dưới đó; anh đã viết thư thông báo với họ rồi. Anh phải xin bố cho ít tiền thôi, tình hình tài chính thế này thì đúng là rắc rối chết tiệt."
"Em không thể về nhà bố mẹ anh được," Estelle lạnh lùng đáp. "Họ chưa bao giờ đối xử tử tế với em; hơn nữa, thể nào họ cũng dạy con trai em cách chửi thề cho mà xem." Rồi cô nói thêm, "Chắc là chuyện này đặt dấu chấm hết cho chuyến đi Ấn Độ của anh rồi nhỉ."
Winn cụp mắt xuống.
"Ừ," anh nói, "chuyện này đặt dấu chấm hết cho việc anh trở lại Ấn Độ từ nay cho đến hết thời gian này. Anh đã ra hầu hội đồng y tế; họ hoàn toàn đồng ý. Thực ra thì, họ đối xử với anh khá tử tế."
Estelle thở dài một hơi thật dài đầy nhẹ nhõm và biết ơn. Thật là phi thường làm sao khi cô đã được giúp đỡ để né tránh chuyến đi Ấn Độ. Cô không tài nào hiểu nổi tại sao Winn cứ ngồi ì ra đó mãi, hết ngây người nghịch chiếc dao cắt giấy.
Anh ngồi đó một lúc lâu, nhưng không nói thêm gì nữa. Cuối cùng anh đứng dậy và đi về phía cửa.
"Thôi," anh nói, "anh nghĩ mình cứ lên ngó thằng bé một cái."
"Tội nghiệp anh quá," Estelle nói, "dĩ nhiên là em vô cùng thương cảm cho anh, dẫu cho em không tin là nó đau đớn gì cho cam—mà nhân tiện đây Winn nhé, đừng quên là bệnh lao có tính truyền nhiễm đấy."
Anh khựng lại đột ngột như thể vừa bị ai đó đánh giáng một đòn. Rốt cuộc thì, anh chẳng đến phòng nuôi trẻ nữa; cô nghe tiếng anh bước dọc hành lang để hướng thẳng về phòng hút thuốc.