Ta Muốn Làm Môn Phiệt

Lượt đọc: 3610 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1169
Sơ Lặc Hội Chiến (3)

❊ ❊ ❊

Đêm đã về khuya, Lý Lăng đứng trước đĩa đèn dầu, nhìn chằm chằm bức thư trong tay.

Bức thư này do thám tử người Hán dùng tên bắn tới chỗ kỵ binh Ổ Thoát mà ông phái đi.

Người viết thư là Thường Huệ, Lý Lăng nhìn qua, quả thực là nét chữ của Thường Huệ.

Nhưng nội dung bên trong lại khiến ông trằn trọc đến tận giờ phút này.

"Ta có con giọt máu lưu lạc trên đời sao?" Lý Lăng nhíu chặt lông mày, tâm tư khó mà bình tĩnh.

Ông nhìn ngọn đèn tù mờ, không khỏi nhớ tới mẹ già, vợ con, anh em cùng với cha ông quá cố.

Họ Lý vùng Lũng Hữu, vinh quang và danh dự từng có như hiện ra ngay trước mắt ông.

Một nhà hai Tướng quân, ông cháu đều là danh tướng!

Kể từ thời ông nội Lý Quảng cùng ông chú Lý Thái, thủ lĩnh tướng môn Lũng Hữu chính là thành Kỷ Lý thị, mà nổi danh nhất của thành Kỷ Lý thị chính là Phi tướng quân Lý Quảng.

Từ khi có ký ức đến nay, những gì ông thấy nghe được đều là sự tôn trọng và ủng hộ của phụ lão quê nhà.

Bất luận là ai, chỉ cần nhìn thấy ông đều sẽ nói: "Đó là cháu đích tôn của Phi tướng quân, hy vọng của người Lũng Hữu chúng ta đấy!"

Thế là, từ nhỏ ông đã gánh vác hy vọng của cả dòng họ Lý, thậm chí là cả thế gia tướng môn Lũng Hữu.

Và ông cũng không phụ sự kỳ vọng của quê hương cùng gia tộc.

Mười lăm tuổi được tuyển làm Lang quan, gia nhập Vũ Lâm vệ của Thiên tử; mười tám tuổi được phong làm Thị trung kiêm Kiến Chương Cung giám, trở thành thị vệ đại thần bên cạnh Thiên tử.

Để rồi đến năm hai mươi tuổi, ông dẫn tám trăm nhẹ kỵ thâm nhập sâu vào cõi lòng Hung Nô hàng ngàn dặm rồi trở về, thiên hạ chấn động!

Thế là được phong làm Kỵ đô úy, Thiên tử đích thân lệnh cho Thừa tướng và Thiếu phủ tuyển chọn năm ngàn đứa con nhà lành từ Giang Hạ, Hạ Phí giao cho ông huấn luyện.

Khi ấy, người trong thiên hạ đều tung hô ông.

Khi ấy, hầu như tất cả mọi người đều nghĩ tương lai ông nhất định sẽ trở thành thủ lĩnh quân phương Đại Hán, kế thừa và phát huy đại nghiệp của cha ông!

Đáng tiếc...

Trận chiến Tuấn Kê Sơn, quân tan tướng bại, năm ngàn kiện nhi Giang Hạ vùi xương nơi đại ngàn.

Ngay sau đó, tộc nhân của ông, bao gồm người mẹ già đã nuôi dưỡng, giáo dục ông khôn lớn, cùng người vợ tào khang thanh mai trúc mã, con cái, thê thiếp cho đến gia thần, đều bị nhà Hán tước đoạt tính mạng.

Lý Lăng mãi mãi ghi nhớ, khi tin tức dòng tộc bị bêu đầu truyền đến tai, ông đã gào khóc xé lòng suốt ba ngày ba đêm cho đến khi ngất đi.

Đến khi tỉnh lại, ông liền rút đao chém chết tên hàng tướng Lý Hứa — kẻ được cho là bị truyền nhầm thành ông.

Mười năm sau đó, dù ông đã cưới vợ sinh con mới ở Hung Nô.

Nhưng ông vẫn thường xuyên nằm mơ thấy quê hương thành Kỷ, mơ thấy mẹ già vợ hiền, mơ thấy cây đào cây lý trước cửa nhà cũ ở Trường An.

"Chẳng lẽ đây là lý do vì sao người nhà thường xuất hiện trong giấc mơ của ta??" Lý Lăng không kìm được mà suy nghĩ.

Đối với ông, đây là lời giải thích hợp lý duy nhất.

Ông có con nối dõi ở lại Trường An!

Cho nên, mẹ già và vợ hiền mới dồn dập hiện về trong mộng.

Ông mới liên tục mơ về quê hương bản quán, nhà cũ Trường An.

Chỉ là...

Nắm chặt thư, Lý Lăng lại dấy lên nảy sinh nghi ngờ.

"Liệu Thường Huệ có lừa ta không?" Suy ngẫm một hồi, ông tự cười giễu: "Không đến mức đó, Thường Huệ là bậc quân tử, sao lại làm chuyện tiểu nhân này?!"

Thường Huệ, Tô Vũ bị Thả Đê Hầu Thiền Vu giam giữ, chịu đủ nhục nhã và sỉ vả nhưng vẫn giữ vững chí khí, chẳng những ông mà ngay cả người Hung Nô cũng hết sức kính trọng.

Nhân vật như vậy sao có thể làm trò tiểu nhân?

Hơn nữa, y làm vậy thì có ý nghĩa gì?

Chỉ đơn thuần muốn làm rối loạn tâm trí ông sao?

Lý Lăng lắc đầu.

Cho nên...

"Ta quả thực có giọt máu lưu lại Trường An..." Lý Lăng trở nên kích động: "Ta và thê tử vẫn còn hậu duệ trên đời!"

Bất hiếu có ba, không con nối dõi là lớn nhất!

Dù hiện tại ông đã gá nghĩa sinh con ở Hung Nô.

Nhưng đó dù sao cũng là sinh ra ở Hung Nô, lại do nữ nhân Hung Nô sinh ra, không có tư cách kế thừa nghiệp lớn của gia tộc.

Kẻ duy nhất có thể thay thế ông, kế thừa đại nghiệp cha ông, vinh quang gia tộc, chỉ có đứa trẻ kia!

Đứa trẻ cũng là giọt máu mồ côi cha giống như ông!

Nghĩ đến đây, Lý Lăng không kìm được nước mắt lã chã rơi.

Bởi vì ông nhớ tới bản thân mình.

Ông cũng là đứa con mồ côi cha!

Cha ông là Lý Đương Hộ, trước khi ông ra đời đã chét sớm vì bệnh tật, một tay mẹ nuôi dưỡng ông khôn lớn.

Mà giờ đây...

Đứa trẻ tội nghiệp kia lại đến cả mẹ cũng không còn.

Vừa ra đời đã côi cút một mình, thậm chí có thể còn không biết cha mẹ mình là ai.

Không chừng sẽ bị người ta ăn hiếp.

Không chừng sẽ bị người ta giễu cợt.

Không chừng sẽ bị người ta trỏ đầu mút tay mà chửi rủa.

"Con tôi! Con tôi! Đứa con tội nghiệp của tôi..." Lý Lăng thút thít nghẹn ngào, ôm đầu ngồi sụp xuống.

Giây lát sau, ông lau khô nước mắt, lại đứng thẳng dậy.

Ánh mắt ông kiên định, sắc mặt trang nghiêm, xiết chặt bức thư trong tay, thề với lòng mình: "Trận này, tuyệt đối không thể thua!"

"Ta bắt buộc phải đánh lui Hán quân!"

Phải!

Ông bắt buộc phải làm như vậy, cũng chỉ có thể làm như vậy!

Bởi vì ông phải khiến bản thân trở nên có tư cách hơn, có năng lực hơn, có sức nặng hơn!

Nếu không, họ Lưu nhà Hán sẽ không bao giờ để mắt tới ông.

Chỉ khi tự khiến mình trở nên quan trọng, tự khiến mình có sức nặng hơn, thậm chí có sức đe dọa.

Thiên tử nhà Hán và dòng họ Lưu mới không dám gây tổn hại cho con trai ông.

Ngay từ khi biết tin dòng tộc bị diệt tru di, Lý Lăng đã thấu hiểu.

Thế giới này là cá lớn nuốt cá bé.

Xưa nay vẫn là trộm móc đai thì bị bêu đầu, trộm nước nhà thì làm Chư hầu!

Thế nên, Lý Lăng biết trận này nếu thua, giá trị và sức nặng của ông trong mắt Trường An sẽ lao dốc không phanh.

Một khi Thiên tử Trường An biết ông có con rơi trên đời, e rằng sẽ chẳng thèm nể nang gì ông.

Chỉ có đánh lui trận này, tốt nhất là đánh bại vị Ưng Dương Tướng quân kia.

Thiên tử Trường An mới nhìn ông bằng con mắt khác.

Mới dù biết con trai ông cũng không dám tổn hại, thậm chí không chừng còn đối xử đãi ngộ theo lễ quốc tân.

Nhưng mà...

Phải làm thế nào mới đạt được mục đích đây?

Lý Lăng cầm đĩa đèn dầu, bước tới trước bức bản đồ treo trong trướng.

Đây là bản đồ quốc gia Sơ Lặc mà ông vừa mới vẽ xong, toàn bộ Sơ Lặc rộng lớn mấy trăm dặm thu hết vào tầm mắt ông.

Nhìn bản đồ, lông mày ông nhíu chặt, bởi vì ông biết mình bắt buộc phải chọn một chiến trường.

Một chiến trường có lợi cho ông, bất lợi cho Hán quân.

Thế nhưng, Sơ Lặc rộng lớn lại vô cùng khó tìm được một nơi thích hợp.

Bởi vì vương quốc Sơ Lặc một dải bằng phẳng, hầu như không có đồi núi, đối với kỵ binh mà nói, đây là chiến trường lý tưởng nhất.

Khai chiến ở đây, Lý Lăng nhắm mắt cũng có thể tưởng tượng ra đám tàn quân chư hầu yếu ớt dưới trướng ông sẽ bị kỵ binh Hán vờn cho ra nông nỗi nào?

Vì thế...

Tác chiến theo cách thông thường nhất định không xong!

Đó là tự sát!

Đại quân đông đúc của ông sẽ bị kỵ binh Hán triệt để lợi dụng, còn tinh nhuệ bản bộ của ông sẽ phải mệt nhòa dốc sức!

Nghĩ đến đây, trong mắt Lý Lăng đột nhiên lóe lên tia tinh mang.

"Người đâu! Mau lấy bút mực cho ta!" Lý Lăng lớn tiếng ra lệnh.

Tức thì có người bưng bút mực, lụa trắng tới trước mặt ông.

Lý Lăng bảo gã cầm đèn, còn mình thì quỳ ngồi xuống, vung bút trên dải lụa trắng, bắt đầu múa bút viết nhanh.

Bây giờ...

Cách duy nhất để ông có cơ hội tránh khỏi thất bại chỉ có thể là dụ Hán quân vào tròng, ép buộc họ phải từ bỏ những chiến thuật bất lợi cho Hung Nô.

Muốn làm được điều này, chỉ có thể đánh cược!

Đánh cược vị Ưng Dương Tướng quân kia còn cần sĩ diện!

Đánh cược hắn không dám từ chối chiến thư do Lý Lăng ông phát ra với danh nghĩa Nhiếp chính vương Hung Nô!

Nếu thành công, đó sẽ lại là một trận Thành Phục thứ hai!

---❊ ❖ ❊---

Hai ngày sau, thư của Lý Lăng thông qua một sứ giả đã được chuyển tới trước mặt Trương Việt.

Lúc này, Trương Việt đã dẫn quân tiến vào lãnh thổ vương quốc Sơ Lặc, hạ trại bên bờ Hồng Hà.

Trương Việt tiễn sứ giả đi, sau đó cầm thư của Lý Lăng lên xem.

"Nhiếp chính vương Hung Nô, Kiên Côn Vương, Hữu Hiệu Vương, cựu Kỵ đô úy nhà Hán là Lý Lăng dập đầu bái lạy kính gửi Ưng Dương Tướng quân Trương công húy Việttúc hạ: Kẻ này nghe nói xưa kia Khổng Tử muốn sang ở đất Cửu Di, đệ tử khuyên rằng: Nơi đó hẻo lánh lạc hậu, làm sao ở được? Khổng Tử đáp: Bậc quân tử ở đó thì có gì là hẻo lánh? Lời ấy thật đúng đắn thay! Nay ta tuy thẹn làm Nhiếp chính vương Hung Nô, nhưng không dám quên lời dạy của tiên hiền, đạo của Thánh vương, bởi thế mới hạ lệnh di phong dịch tục, thực hiện cái trị của bậc quân tử, từ đó dòng họ Thiền vu Loan Đề đổi thành họ Hạ; Hữu đại tướng Tu Bặc thị đổi thành họ Triệu; Tả đại đương hộ Hô Diễn thị đổi thành họ Chu... Từ đó trên dưới Hung Nô lượt lượt đổi họ thay trang phục, phong thái quân tử Trung Quốc từ từ thổi tới, đạo lý nhân nghĩa thi thư thấm dần vào lòng người!"

"Kẻ này nghe nói, vết chân của Vương giả tắt thì thơ "Thi" mất, thơ "Thi" mất rồi mới có kinh "Xuân Thu", Tướng quân là đệ tử đời thứ hai của Đổng tử, là người kế thừa đạo kinh "Xuân Thu" thời nay..."

"Tháng Mười ngày Quý Mùi, ngày âm dương giao hòa, ta dẫn quân ở bờ bắc Hồng Hà, nếu được công không chê, ta nguyện noi theo lễ nhà Vũ Vương, bày trận ở nơi đó, không nổi trống khi địch chưa xếp trận, không đánh kẻ đã bị thương, không bắt người tóc hoa râm, lấy trận chiến quân tử mà cùng công hội liệt ở Sơ Lặc..."

Trương Việt nhìn xem, khẽ mỉm cười, rồi đưa bức thư này cho các tướng hiệu xung quanh truyền tay nhau đọc.

Mọi người đọc xong, ai nấy đều hố hố cười lớn.

"Lý Thiếu Khanh ở Hung Nô lâu ngày đến cái đầu cũng hỏng luôn rồi sao?" Tục Tương Như chế giễu: "Từ sau Tương công, quân lễ nhà Chu đều bị vứt bỏ, từ đó binh bất yếm trá!"

"Hơn nữa, Lý Thiếu Khanh lẽ nào chưa từng đọc 《Chiến tranh luận》 của Tướng quân sao?"

Những người khác cũng hùa theo cười rộ lên.

Trong mắt họ, Lý Lăng quả thực đã đưa ra một quyết định sẽ bị người đời cười chê muôn đời!

Bây giờ, cách trận Mộc Dã đã tám trăm năm, cách trận Tống Tống Hồng Hà cũng đã ít nhất năm trăm năm, cách trận Thành Phục cũng đã ngót nghét năm trăm năm.

Lý Lăng lại đột nhiên nhắc tới cái quân lễ nhà Chu vốn đã vùi sâu dưới lòng đất, muốn chơi trò trận chiến quân tử?

Đây không phải là buồn cười sao?

Nhưng Trương Việt lại không cười, ông nhìn mọi người nói: "Ý của các công, ta đã hiểu!"

"Tuy nhiên..." Trương Việt khẽ khàng đưa ra quyết định của mình: "Ý ta là ứng chiến!"

Tất cả mọi người đều ngơ ngác giốmg như chết đứng.

"Tướng quân, ngài hà tất phải giảng đạo quân tử với kẻ phản chủ bội phản như Lý Thiếu Khanh?" Có người lập tức cất tiếng hô lớn.

"Tướng quân, Lý Thiếu Khanh là chủ của rợ Hung Nô, kinh Xuân Thu nói: Từ xưa Trung Quốc không giao thiệp với rợ Di Địch, kẻ tiểu nhân như vậy hà tất phải để ý?!" Lại có người quỳ xuống can gián.

Trương Việt nhìn họ, cười nói: "Các công hiểu lầm rồi... Ta chưa hồ đồ đến mức không nhận ra tâm tư cùng tính toán của Lý Thiếu Khanh đâu..."

Mẹo khích tướng đơn giản như thế này, sao Trương Việt lại không biết?

"Vậy tại sao ngài lại?" Tục Tương Như hỏi.

Trương Việt lại trả lời không đúng vào câu hỏi, có chút kích động nói: "Xưa kia, Thái Bác mặc áo lễ để trị nước Ngô, vẫn không đổi được hủ tục xăm mình xõa tóc của họ. Tần Thủy Hoàng mở đất Bách Việt, Thiên tử ngày nay vì Mân Việt làm loạn mà dời dân họ đến khoảng giữa Giang Hoài, khi ấy vốn là vùng đất cáo thỏ chạy rông. Thế nhưng từ khi các sĩ tử môn phái Tả Truyện đi xuống phía nam, chỉ trong vòng hai năm, ta nghe nói đất Mân Việt văn minh lễ nghĩa đã không kém gì các quận nội địa, các thành Phiên Ngung, Giao Chỉ, sự hưng thịnh của thi thư lễ nhạc không kém gì đất Hà Lạc. Năm ngoái Ngự sử sát cử, Giao Chỉ tiến cử ba Hiếu liêm, Phiên Ngung tiến cử hai Hiếu liêm, Thiên tử vui mừng, bèn hạ chiếu ban tước Tả thứ trưởng cho danh sĩ Hoàng công của phái Tả Truyện, thưởng trăm lượng vàng!"

"Nay Bệ hạ sai Đường công thông đường sang Dạ Lang, bị chặn ở Côn Minh, buổi đầu khai phá chẳng qua chỉ là ki mịch mà thôi. Trong vòng ba mươi năm, các rợ phương Tây Nam ẩn mình trong thiên hạ, mà đến năm Diên Hòa thứ nhất, Quan Trung đại hạn, các nước phương Tây Nam đã vận chuyển hàng triệu thạch củ từ các loại sang Trung Quốc, giải tỏa mối lo lớn cho Thiên tử. Từ đó Thiên tử mới lệnh cho Thái học chiêu thu học tử các nước Tây Nam, trong ba năm, học tử Tây Nam ở Thái học lên tới hàng trăm người, quân thần dân chúng các nước đều gội nhuần ơn vua, thế là phong khí dần mở mà văn hóa dần lan, như gió lốc lướt qua. Ta liệu rằng trăm đời sau, các nước phương Tây Nam sẽ như đất Kinh Sở thời Xuân Thu, quận huyện đã định mà dân đều là người Trung Quốc, nhân văn hưng thịnh!"

"Ta nghe nói, gương nhà Ân chẳng ở đâu xa, ngay ở đời Hạ Hậu. Thiên hạ nhà Chu chỉ trị vì vùng đất năm ngàn dặm mà thôi, mà nay Trung Quốc, đất đai nào chỉ muôn dặm, bờ cõi nào chỉ có trong bản đồ Vũ Cống?"

"Rợ Di Địch ngày xưa, nay là người Trung Quốc; kẻ ở trần ngày xưa, nay mặc triều phục; kẻ trần đầu ngày xưa, nay đội mũ Chương Phủ; kẻ đi chân đất ngày xưa, nay mang hài cao!"

"Chư công!" Trương Việt trịnh trọng nhìn mọi người: "Các công làm sao biết được trăm đời sau, mảnh đất các công đang đứng đây, mảnh đất các công nhìn thấy đây, văn minh lễ nghĩa lại không bằng Tề, Sở, Ngô, Việt? Lại làm sao biết được các nước Xứ Tây Vực không trở thành quận huyện của Trung Quốc?"

"Đại trượng phu chúng ta, chịu lời dạy của tiên hiền, hưởng ơn thừa của tiên vương, nhận lộc của Thiên tử, ăn bổng lộc quốc gia, thiên mệnh sáng soi chính ở trên thân chúng ta! Tự dấn thân vào sương gió, phát gai góc, biến đá hộc thành ruộng phì nhiêu, biến hung bạo thành lương dân, san bằng gập gềnh thành bằng phẳng, hóa kẻ không thuần phục thành con dân đại đồng, có như thế thế giới thái bình mới có ngày giáng lâm, thiên hạ đại đồng mới có lúc nhìn thấy!"

Mọi người nghe xong, trong lòng dấy lên niềm sục sôi mãnh liệt, hưng phấn không thôi.

Đặc biệt là các tướng quan trẻ tuổi, chỉ cảm thấy thiên mệnh sáng soi đã hiển hiện ngay trước mắt!

Phải rồi!

Tại sao lại không cơ chứ?

Thời Xuân Thu, đất Thục ngày nay còn là thiên hạ của người Ba, đất Ngô Việt ngày nay còn là chốn man di 'Di Địch là đánh, Kinh Thư là phạt', là mối lo trong lòng Trung Quốc, mà đất Tề Lỗ do Đông Di chiếm giữ lại càng là chốn dã dại, nơi bậc quân tử phải e ngại.

Nhưng bây giờ thì sao?

Văn trị của đất Thục rạng rỡ thiên hạ.

Mà quê hương Ngô Việt là vùng sông nước lúa gạo, đất Tề Lỗ là nơi thi thư lễ nhạc hưng thịnh, là quê hương của Khổng Tử.

Vậy thì mấy trăm năm sau, con cháu đời sau nhìn lại đất Tây Vực Mạc Bắc ngày nay, nếu vẫn là vùng đất rợ Di Địch man di, nơi cha con ở chung một lều.

Vậy thì những người đang ngồi đây hôm nay lấy mặt mũi nào mà hưởng thụ hương lửa tế lễ của con cháu?

Thế là, phần lớn các tướng quan trẻ tuổi dồn dập dập đầu bái nói: "Nguyện theo Tướng quân! Mở mang đất Tây Vực này, lập nên kỳ công không thế!"

Những người còn lại dĩ nhiên bị đặt lên nướng trên lửa.

Họ dù không tự nguyện đến mấy cũng chỉ có thể quỳ theo bái nói: "Nguyện nghe theo lệnh Tướng quân, dạy cho rợ Hung Nô đạo của bậc quân tử!"

Chỉ là, nếu như vậy, sáu ngàn kỵ binh Hán phải dàn trận đường đường chính chính ở mặt trận phía trước, lấy đạo quân đường đường chính chính đánh tan mười vạn đại quân Hung Nô, nói thì dễ làm mới khó!

Dù sao đi nữa, cho dù là mười vạn con heo nằm ở đó cho Hán quân chặt từng con một, e rằng cũng chặt đến mệt chết!

Huống chi là mười vạn con người?

Trong đó tinh nhuệ Hung Nô lại không dưới hai vạn quân!

Trận này phải đánh thế nào đây?

Tất cả mọi người đều nhìn về phía Trương Việt — vị Chủ soái Tướng chủ.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ piaotia.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.