Ta Muốn Làm Môn Phiệt

Lượt đọc: 3513 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Biến Thiên (1)

❊ ❊ ❊

Vào thời điểm nội chiến Hung Nô diễn ra ác liệt, Trương Việt đã tái xuất Cư Yn.

Tại Cư Yên, hắn tiếp nhận khoản bồi thường chiến phí đầu tiên do người Hung Nô gửi tới: vô số vàng cục (cẩu đầu kim), da thú, châu ngọc.

Chỉ riêng vàng cục thôi đã chất đầy bảy chiếc xe lớn.

Cục lớn nhất nặng tới hơn ba mươi cân, cục nhỏ nhất cũng có vài lạng.

Đây là những tài sản đáy hòm của người Hung Nô, là trân bảo mà họ tích góp trong mấy chục năm qua tại các lưu vực Kim Sơn, Thiên Sơn cũng như sông Tịch Đoan, sông Kế Thị!

Hiện giờ, để xoa dịu quan hệ, họ đều mang hết tới đây.

Cân lên, nặng hơn tám ngàn cân nhà Hán!

Trương Việt tiện tay tìm một cái cớ, liền ép giá trị số vàng cục này xuống còn sáu ngàn cân vàng.

Lý do rất đơn giản: hao hụt do nấu nướng (hỏa hao).

Cho dù lý do của hắn căn bản không chịu nổi sự soi mói, nhưng người Hung Nô cũng chỉ đành ngậm đắng nuốt cay thừa nhận.

Không còn cách nào khác, thế mạnh hiếp người!

Bỏ tiền mua bình yên, dẫu sao vẫn tốt hơn là bị người ta san bằng sào huyệt!

Thế nhưng, Trương Việt cũng biết tiến lùi đúng lúc, vơ vét một mẻ rồi thôi, không làm gắt thêm nữa.

Số da thú và châu ngọc còn lại đều được tính theo "giá thị trường".

Đương nhiên, giá thị trường này là giá tại địa phương Cư Yên, chứ không phải ở Trường An.

Thế là, hàng ngàn chiếc áo khoác thượng hạng đủ màu sắc do người Hung Nô mang đến được thu mua với giá từ vài trăm tiền cho tới cao nhất là mười mấy cân vàng.

Trong số này, bao gồm hàng trăm tấm da hổ, da gấu, da báo có phẩm tướng nguyên vẹn.

Cùng với hơn một trăm tấm da cáo trắng đủ sức gây chấn động Trường An!

Kết quả là hàng ngàn tấm da thú đã qua thuộc da ấy tổng cộng chỉ đổi được chưa đầy ba ngàn cân vàng tiền bồi thường.

Còn về châu ngọc?

Đương nhiên cũng làm theo cách cũ, hàng vạn viên ngọc thô có phẩm tướng tốt đều tính theo giá ngọc thạch thông thường.

Tổng giá trị bị ép xuống còn bốn ngàn cân vàng.

Chỉ vậy thôi mà người Hung Nô vẫn hớn hở ra mặt, vui mừng khôn xiết.

Bọn quý tộc đi áp tải thậm chí còn tìm Trương Việt để dò hỏi xem sau này da thú và ngọc thạch có thể tiếp tục giao dịch theo mức giá này hay không?

Liệu mang những thứ này đến Cư Yên có đổi được lụa là, muối sắt, thậm chí là binh giáp hay không?

Trương Việt mỉm cười, liền đồng ý.

Người Hung Nô lập tức vui mừng khôn xiết, suýt thì ca múa ăn mừng ngay tại chỗ.

Không còn cách nào khác, chiến tranh toàn diện Hán - Hung tính đến nay đã hơn ba mươi năm.

Hơn ba mươi năm nay, triều Hán cắt đứt hoàn toàn quan hệ mậu dịch với Hung Nô, khiến nguồn kinh tế của người Hung Nô chịu đả kích nghiêm trọng.

Không nói đến những thứ khác, trên toàn bộ thế giới đã biết, thị trường duy nhất có thể tiêu thụ lượng da thú dư thừa hằng năm của người Hung Nô chỉ có triều Hán.

Mà vàng cục và ngọc thạch do Hung Nô sản xuất cũng chỉ đem bán cho nhà Hán mới đổi được vật dụng.

Bằng không, chỉ đành lặn lội vượt núi băng ngàn, đem bán sang Đại Hạ cách xa vạn dặm.

Vừa tốn thời gian sức lực lại không nói, lợi nhuận kiếm được có lẽ còn chẳng đủ bù đắp cho cái giá phải trả vì chuyến bôn ba vất vả dọc đường.

Hết cách, vàng cục và ngọc thạch tuy là tiền cứng.

Nhưng rốt cuộc chúng không thể giống như lụa là, có biên độ lợi nhuận gấp mười, gấp trăm lần.

Còn các quốc gia bản địa ở Tây Vực, tuy cũng cần vàng và ngọc, nhưng vấn đề là... nhu cầu của họ rất nhỏ, và bản thân họ cũng có thể sản xuất được.

Đặc biệt là những quốc gia ven sông, quốc gia miền núi, sản lượng vàng ngọc của bản thân họ đã sớm bão hòa rồi.

Khiến cho hơn ba mươi năm nay, người Hung Nô chỉ có thể coi số vàng châu ngọc này làm vật tế lễ, hoặc dùng để hối lộ quan lại nhà Hán.

Đối với sự phát triển của bản thân Hung Nô thì ích lợi xấp xỉ bằng không.

Nay, thế mà lại có thể mở ra con đường mậu dịch Hán - Hung?

Cũng đồng nghĩa với việc tuyên bố, những thứ trước kia chỉ có thể coi là tiêu hao phẩm này cuối cùng cũng đã có chỗ dùng!

Điều này bảo họ sao có thể không vui cho được?

Đặc biệt là đám quý tộc, ai nấy đều vui đến phát cuồng.

Họ cuối cùng cũng cảm thấy, kỳ thực thỏa thuận với nhà Hán dường như cũng chẳng có hại gì mấy?

Dù sao nếu có chịu tổn thất, thì cũng chỉ là Thiền vu, là Vương đình mà thôi.

Nhưng họ lại có thể thu được lợi ích cơ chứ.

Da thú của bộ tộc, vàng ngọc nhặt được và đào được, đều có cách đổi lấy lụa là, muối sắt, vải vóc cùng các hàng hóa khác rồi.

Sướng!

Trương Việt lại nhân cơ hội này, ngầm ra hiệu cho đám sứ giả Hung Nô rằng kỳ thực, Cư Yên và Hà Tây hiện giờ có nhu cầu rất lớn về nô tì.

Nếu có ai kiếm được một số nô tì đến đây...

Ừm, muối sắt, lụa là cứ để mặc cho ta lo.

Cho dù là binh giáp, cũng có thể đổi được.

Đám người Hung Nô vừa nghe thấy thế liền vỡ lẽ.

Thế là, chỉ nửa tháng sau, họ đã mang theo da thú, vàng ngọc và nô tì vượt qua Thiên Sơn, đi thẳng tới thành Cừ Lê - trị sở của Tây Vực Đô hộ phủ.

Mà Vương Mãng theo yêu cầu của Trương Việt, rất thành khẩn thu mua lại lô hàng hóa này với "giá cao".

Lần này coi như đã mở ra chiếc hộp Pandora.

Người Hung Nô ở Tây Vực nhanh chóng hành động.

Ban đầu họ còn giấu giếm Lý Lăng, chỉ dám lén lút vượt Thiên Sơn với quy mô nhỏ để giao thương với nhà Hán, lượng giao dịch cũng không lớn.

Nhưng, theo sự tiếp diễn của chiến sự Mạc Bắc, để trù tính quân phí, đặc biệt là binh giáp, Lý Lăng cũng tham gia vào việc buôn bán này.

Từ đó, mậu dịch Hán - Hung trong vòng hai tháng đã leo lên mức cao nhất trong lịch sử.

Chỉ riêng tháng Tư, người Hung Nô ở Tây Vực đã vận chuyển hơn vạn cân vàng cục, hơn hai vạn nô tì, cùng tổng số hơn bốn vạn tấm da thú đủ màu sắc đến Cừ Lê.

Họ đổi lấy hơn một vạn thanh đao kiếm đồng, hơn bảy ngàn cây cung, một triệu mũi tên đồng, cùng hơn hai nghìn bộ giáp da, ba nghìn chiếc mũ trụ bằng đồng.

Những thứ này đều là do Trương Việt lấy từ vũ khố Trường An ra.

Cơ bản đều là vũ khí đời ông nội.

Ngày sản xuất của một số vũ khí thậm chí còn có thể truy nguyên về thời Tần.

Đây cũng là ưu điểm của vũ khí đồng: chống ăn mòn, dễ bảo dưỡng.

Đừng nói là vứt trong vũ khố hơn trăm năm, cho dù dưới lòng đất một nghìn năm, hai nghìn năm cũng sẽ không mục nát.

Ngoài vũ khí ra, người Hung Nô còn đổi đi một lượng lớn muối ăn, lương thực, vải vóc.

Đến tháng Năm, trên thực tế, các bộ tộc Hung Nô ở Tây Vực đã hoàn toàn phụ thuộc vào việc buôn bán với nhà Hán để duy trì sự sống.

Mà lúc này, tài nguyên vàng cục và ngọc thạch trên bề mặt đất ở vùng Tây Vực đã cơ bản cạn kiệt.

Người Hung Nô không còn cách nào khác, đành phải lệnh cho các nước Tây Vực cống nạp.

Đồng thời, tổ chức một số lượng lớn nô lệ tìm kiếm tài nguyên ngọc thạch và vàng bạc ở các con sông, ngọn núi tại Tây Vực.

Họ thậm chí còn học cả cách đãi vàng — ở các nhánh sông của sông Y Liết, sông Kế Thị, tìm những đoạn sông chứa nhiều cát vàng, sau đó tổ chức nhân lực đãi vàng, đào ngọc.

Thế nhưng, những thứ này rốt cuộc cũng chỉ như muối bỏ biển.

Chỉ đủ để trừ vào tiền gốc và lãi bồi thường phải trả cho người Hán hằng tháng.

Đến đây lại phải nhắc tới kế hoạch tài chính đế quốc chủ nghĩa mà Trương Việt đạo nhào lúc trước, quả thực quá tuyệt vời.

Nhìn có vẻ như chịu thiệt, cho người Hung Nô một cơ hội có thể xé bỏ thỏa thuận.

Thực chất lại là sự trói buộc!

Đặc biệt là kế hoạch trả trước cộng thêm trả gốc và lãi hằng tháng do hắn tung ra.

Giống như chiếc gòng xiết chặt lấy cổ Hung Nô ở Tây Vực, buộc họ mỗi tháng đều phải mang vàng bạc châu ngọc, da thú, nô tì ra để bù trừ tiền gốc lẫn lãi.

Cho dù mỗi tháng nhìn có vẻ không nhiều, chẳng qua chỉ cần trả vài trăm cân vàng mà thôi.

Nhưng vấn đề là, cứ qua từng tháng như thế, người Hung Nô lập tức cảm thấy vô cùng khó chịu.

Đáng ghét là, nội chiến ở Mạc Bắc lại càng lúc càng gay gắt.

Cho dù Lý Lăng dẫn quân tham chiến, nhanh chóng chiếm đoạt Tư Cừ Bỉ Hải, lấy danh nghĩa Tiên Hiền Đán và Hồ Lộc Cô để thu phục đại ạo bộ tộc.

Lại có sự trợ giúp của Vệ Luật, chiếm thế thượng phong trên chiến trường.

Lại thêm một lượng lớn binh giáp bằng đồng mua từ triều Hán để vũ trang cho quân đội của mình, đánh cho An Mi và Đồ Xa ôm đầu chạy trốn.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, chính vì Lý Lăng quá cường thế.

Cho nên các bên lập tức bắt đầu liên thủ lại để nhắm vào hắn.

Dưới sự kết nối của vị Tát Mãn Đồ Xa kia, ba bên An Mi, Đồ Xa, Xơ Ly đã đạt được thỏa thuận tạm thời đình chiến.

Cả ba cùng đối mặt với cuộc tấn công của Lý Lăng, đồng thời giao chiến lớn với đội quân của Lý Lăng tại sông Hung.

Lại phái binh phong tỏa kỵ binh của Vệ Luật ở khu vực thung lũng thượng nguồn sông Dư Ngô.

Nhất thời, cục diện chiến tranh rơi vào bế tắc.

Sau đó, Lý Lăng kinh ngạc phát hiện ra rằng kẻ địch đối diện với hắn cũng bắt đầu được trang bị một lượng lớn các loại vũ khí của nhà Hán.

Đao kiếm đồng, giáp da, mũ trụ sắt, tất cả đều là chuyện thường.

Trong hàng ngũ kỵ binh của Đồ Xa và Xơ Ly, thậm chí còn xuất hiện một lượng lớn kỵ binh được trang bị móng ngựa, tay cầm kích nặng.

Sự gia nhập của những kỵ binh này khiến tiến độ của Lý Lăng trở nên chậm chạp.

Từ tháng Ba đến tháng Năm, trọn vẹn hai tháng trời mà vẫn không thể đánh thủng sông Hung để tiến sâu vào sông Dư Ngô.

Hết cách, Lý Lăng đành phải dẫn quân rút khỏi sông Hung, tiến vào Tư Cừ Bỉ Hải để chỉnh đốn.

Không có cách nào khác, kỵ binh của hắn, dù là chiến mã hay con người thì đều đã sức cùng lực kiệt.

Nỏ mạnh cuối đà không xuyên thủng nổi lụa mỏng.

Mà cú rút lui này đã khiến toàn bộ cục diện chiến tranh trở nên mờ mịt khó đoán.

Bị ép không còn cách nào, Lý Lăng một mặt chỉnh đốn quân ngũ chuẩn bị chiến đấu, mặt khác phái người quay về Tây Vực, hạ lệnh cho các bộ tộc lưu thủ ở Tây Vực tăng cường lực lượng mậu dịch với nhà Hán.

Mà khi tài nguyên vàng ngọc trên bề mặt Tây Vực dần trở nên khan hiếm, trong khi người Hung Nô lại không mấy giỏi khai mỏ.

Họ chỉ có duy nhất một sự lựa chọn: Nô tì!

Cũng may là người Hung Nô dưới sự kiểm soát của Lý Lăng vẫn còn chút tỉnh táo, không vươn bàn tay độc ác đến các vương quốc Tây Vực do họ thống trị và kiểm soát.

Mà lại nhắm mục tiêu vào những kẻ vừa không chịu thần phục, vừa không chịu chết đi.

Tỷ như Đại Đạt, Khang Cư, người Tắc ở Kim Sơn, cùng một số dân tộc thiểu số tản mát ở Tây Vực.

Cho nên, bắt đầu từ cuối tháng Tư, số lượng nô tì Hung Nô vận chuyển qua Thiên Sơn cống nạp cho nhà Hán tăng vọt!

Bước sang tháng Năm, thậm chí còn đạt tới quy mô trung bình năm trăm người mỗi ngày.

Và nhanh chóng vượt qua đỉnh điểm này, đến giữa tháng Năm, lượng nô tì được đưa vào Cừ Lê đã gần tới một nghìn người!

Một lượng lớn nô tì bị người Hung Nô bắt giữ và cướp bóc, nam nữ, già trẻ lớn bé, đều bị người Hung Nô dùng dây thừng trói lại, xua đuổi đến dưới sự kiểm soát của nhà Hán.

Sau đó được kỵ binh Tây Vực Đô hộ phủ của Vương Mãng hộ tống đưa đến Cư Yên.

Lực lượng lao động ở Cư Yên nhờ thế mà tăng lên nhanh chóng.

Chẳng mấy chốc đã đạt tới con số năm vạn người!

Mà cái giá mà triều Hán phải bỏ ra chỉ là chút vũ khí đồng không đáng giá vứt trong kho vũ khí chịu tro bụi mấy chục hay cả trăm năm, cùng một ít muối ăn, vải vóc, lương thực mà thôi.

Thậm chí rất nhiều thứ còn chẳng cần phải trả giá, mà là do người Hung Nô mang đến để trừ vào tiền bồi thường phải nộp trong tháng.

Đối với số nô tì do người Hung Nô gửi tới này, Trương Việt tất nhiên đã có sự sắp xếp chu đáo.

Trước tiên, nam giới tráng kiện đương nhiên đều bị bắt đi tu sửa thủy lợi, đê điều, trồng cây, nạo vét bùn đen để bồi bổ ruộng đất.

Còn những phần khác thì tiến hành sàng lọc.

Phụ nữ trẻ tuổi được hắn dùng làm vật an ủi, ban thưởng, làm phần bồi thường cho các cô nhi quả phụ tử trận và tướng sĩ có công của quân Hán ở Cư Yên.

Quyết định này rất được hoan nghênh.

Trong các gia đình bình dân ở Cư Yên, có thể có từ ba anh em trở lên.

Nhưng người có khả năng cưới vợ tối đa chỉ có một.

Những người còn lại đều là trai tân.

Bây giờ, triều đình phát vợ cho rồi.

Chỉ cần là người từng lập công hoặc thân nhân tướng sĩ tử trận đều có thể chọn nộp đơn xin nhận một cô gái làm một phần trong khoản bồi thường.

Hơn nữa Ưng Dương tướng quân lại vô cùng có lương tâm, một nàng Hồ nữ Tây Vực mười sáu tuổi cũng chỉ cần sáu ngàn tiền quân công là có thể dẫn về nhà.

Đây quả thực là phúc lợi mà!

Nhất thời, đại sự cả đời của toàn thể quân dân Cư Yên trên dưới hầu như đều được giải quyết.

Vấn đề vẫn làm đau đầu vô số bậc phụ huynh bỗng chốc tan biến như mây khói qua một đêm.

Bây giờ, bách tính Cư Yên thậm chí còn sớm chuẩn bị sẵn sàng cho những đứa con chưa thành niên của mình, định dùng quân công đổi Hồ nữ về nhà làm vợ nuôi từ bé.

Nhờ đó, Trương Việt đã giành được sự ủng hộ tuyệt đối ở Cư Yên.

Và chút oán giận cùng bất mãn ban đầu đều tan thành mây khói trước các cô gái.

Những thiếu nữ Hồ tộc đã gả cho dân biên giới nhà Hán.

Số còn lại, Trương Việt cũng không hề lãng phí.

Hắn tổ chức những phụ nữ trung niên và trẻ em này lại với nhau.

Để họ học kéo sợi, tạo ra lợi nhuận.

Thế là, đến tháng sáu mùa hè năm Diên Hòa thứ ba, diện mạo của toàn bộ Cư Yên đã hoàn toàn đổi mới.

Nô tì do người Hung Nô gửi tới không một tiếng kêu ca, chăm chỉ tu sửa và mở rộng đường sá.

Họ xây dựng đê điều ở hai bên bờ sông, đồng thời trồng cây xanh.

Họ đào bùn dưới lòng sông và đầm lầy, sau đó thu gom phân người và gia súc trộn lẫn với bùn đen đó, chất thành đống ủ lên men rồi vận chuyển tới khắp các vùng đất nông nghiệp ở Cư Yên làm phân bón.

Họ còn xây dựng hơn chục con mương lớn nhỏ.

Đến mức mà khi sứ giả từ Trường An tới Cư Yên, hắn đã phải sững sờ trước mọi thứ trước mắt.

Cư Yên hiện nay, đường sá chỉnh tề, mặt đường rộng rãi, phẳng phiu.

Hai bên bờ sông, cây cối xanh rờn, các thôn xóm san sát bên nhau, khói bếp lượn lờ.

Nơi đồng áng ruộng nương, mầm lúa xanh mướt, người qua kẻ lại tấp nập.

Vô số chiếc xe nước đang kẽo kẹt quay đều, múc nước trong vắt đổ vào các mương dẫn nước.

Hàng vạn con bò dê tản mát trên những đồng cỏ và sườn đồi rộng lớn.

Những người chăn gia súc cưỡi ngựa, hò hét cùng chó săn đuổi theo những chú thỏ rừng ở chốn đồng hoang.

Mọi thứ đều hài hòa và tốt đẹp đến thế.

"Đây đích thị là Cư Yên chứ không phải Quan Trung chứ?" Sứ giả tràn ngập vẻ nghi ngờ.

Những người đi theo lại càng trợn tròn mắt.

Hoàn toàn không thể tin nổi những gì mình đang thấy!

Nếu không phải chẳng mấy chốc họ đã nhìn thấy mấy ngàn tên nô tì áo quần rách rưới đang đi tới từ phía xa dưới sự giám sát của binh lính, có lẽ bọn họ sẽ tưởng rằng nơi này chính là chốn bồng lai tiên cảnh, thiên đàng hạ giới trong truyền thuyết.

"Đi hỏi thử xem sao..." Sứ giả ở Trường An lâu ngày cau mày suy nghĩ một lúc rồi đưa ra quyết định.

Trong lòng hắn lúc này tràn ngập sự tò mò.

Phải biết rằng trước khi đến đây, hắn đã đặc biệt đến thỉnh giáo Hải Tây hầu Lý Quảng Lợi - người vừa được thiên tử đổi phong làm Xa kỵ tướng quân.

Hỏi ông ta về tình hình ở Cư Yên.

Mà Cư Yên dưới lời kể của Lý Quảng Lợi lại là một nơi lạnh lẽo, nghèo khó.

Ngoài những binh sĩ dũng mãnh thiện chiến ra, con người ở đây hầu hết đều rách rưới, hiếu chiến và nguy hiểm.

Nhưng... tình hình hiện tại lại là: nơi này nhà cửa ngăn nắp, đường sá rộng rãi, ruộng đồng chia lô, guồng nước xoay tít, bò dê đầy đàn.

Hơn nữa bách tính hầu hết đều ăn mặc chỉnh tề, sắc mặt hồng hào, trông ai nấy cũng rất có lễ phép.

Sứ giả thậm chí còn nghe thấy từ một số ngôi làng vẳng lại tiếng đọc sách mơ hồ.

Mang theo những nghi vấn này, sứ giả dừng bước, quay người dẫn theo người đi về phía ngôi làng gần nhất.

Hắn muốn tìm hiểu cho rõ, rốt cuộc vì sao Cư Yên trong miệng Lý Quảng Lợi lại biến thành thế này?

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ piaotia.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.