Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2145 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
11

❊ ❊ ❊

11

Trốn ở đâu? Trong gần bốn thập kỷ, danh tính loài vật chủ chứa đựng của Ebola đã là một trong những bí ẩn đen tối nhất của thế giới các căn bệnh truyền nhiễm. Bí ẩn đó, cùng với những nỗ lực giải đáp nó, xuất phát từ sự xuất hiện được công nhận lần đầu tiên của bệnh virus Ebola, năm 1976.

Hai đợt bùng phát nổ ra ở châu Phi vào năm đó, độc lập với nhau nhưng gần như liên tiếp: một ở phía bắc Zaira (nay là Công hòa Dân chủ Congo), một ở miền tây nam Sudan (ở một vùng mà nay nằm trong lãnh thổ Cộng hòa Nam Sudan), hai địa điểm cách nhau 300 dặm. Tuy trường hợp ở Sudan bắt đầu sớm hơn một chút, trường hợp ở Zaire lại nổi tiếng hơn, một phần bởi dòng sông nhỏ ở đây, sông Ebola, nơi mà về sau loại virus được đặt tên theo.

Điểm tập trung của đợt bùng phát ở Zaire là một bệnh viện dòng tu Công giáo ở một ngôi làng có tên Yambuku, bên trong quận Bumba Zone. Vào giữa tháng chín, một bác sĩ người Zaire ở đó đã báo cáo có hai tá ca đột ngột mắc một loại bệnh mới – không phải bệnh sốt rét thông thường mà là một thứ gì đó ghê gớm hơn, đỏ hơn, đặc trưng với việc nôn ra máu, chảy máu mũi, và tiêu chảy ra máu. Mười bốn bệnh nhân đã tử vong, tính tới thời điểm vị bác sĩ thông báo điện tín cho các nhà chức trách ở Kinshasa, thủ đô của Zaire, và những người khác đang ở tình trạng nguy kịch. Tới đầu tháng mười, Bệnh viện dòng tu Yambuku đã phải đóng cửa, vì lý do nghiệt ngã rằng phần lớn nhân viên ở đó đã tử vong. Một đội phản ứng quốc tế bao gồm các nhà khoa học và bác sĩ đã tập hợp ở khu vực này vài tuần sau, dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Y tế Zaire, để nghiên cứu khẩn cấp căn bệnh mới và đưa ra lời khuyên về những bước hành động tiếp theo. Nhóm này, bao gồm những thành viên đến từ Pháp, Bỉ, Canada, Zaire, Nam Phi, và Mỹ, trong đó có chín người đến từ CDC ở Atlanta, được biết đến với tên gọi Ủy ban Quốc tế. Người đứng đầu là Karl Johnson, vị bác sĩ và nhà virus học người Mỹ đã nghiên cứu virus Machupo ở Bolivia năm 1963, may mắn qua khỏi khi mắc chính căn bệnh đó. Mười ba năm sau, vẫn năng nổ, vẫn tận tụy, và mềm mỏng hơn thấy rõ sau trải nghiệm cận kề cái chết hoặc do những thăng tiến sự nghiệp, khi đó ông là người đứng đầu Chi nhánh về mầm bệnh đặc biệt ở CDC.

Johnson đã giúp giải quyết cuộc khủng hoảng virus Machupo nhờ sự chú ý của ông tới phương diện sinh thái học – đó là, virus sống ở đâu khi nó không giết hại những dân làng ở Bolivia? Câu hỏi chứa đựng đã được vận dụng tốt, ở trường hợp đó, và câu trả lời đã nhanh chóng được tìm thấy: Một loài chuột bản xứ đã mang virus Machupo vào nhà cửa và kho lương thực của con người. Việc ngăn cản lũ chuột xâm nhập đã chấm dứt đợt bùng pháp một cách hiệu quả. Giờ đây, giữa những ngày tháng tuyệt vọng và hoang mang của tháng mười và tháng mười một năm 1976, ở miền bắc Zaire, đối mặt với một sát thủ vô hình và vô định khác, khi mà số ca tử vong đã lên đến hàng trăm, Johnson và các nhà nghiên cứu đi cùng ông dành thời gian suy ngẫm về virus Ebola như ông đã suy ngẫm về virus Machupo: Thứ này từ đâu đến?

Tới khi đó học đã biết mầm bệnh là một loại virus. Thông tin đó được suy ra từ việc phân lập được thực hiện nhanh chóng từ các mẫu thử lâm sàng gửi từ các phòng thí nghiệm ở nước ngoài, trong đó có CDC. (Johnson, trước khi bay tới Zaire, đã tự mình dẫn đầu nỗ lực phân lập ở CDC.) Họ biết rằng loại virus này tương đồng với virus Marburg, một tác nhân gây chết người khác, được xác định chín năng trước đó; ảnh hiển vi điện tử cho thấy nó cũng có nhiều sợi nhỏ và độ xoắn tương đương, như một con sán dây đau khổ. Nhưng những thử nghiệm trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy virus Ebola đủ khác biệt so với Marburg để tạo nên một thứ gì đó mới. Sau cùng hai loại virus hình giun này, Ebola và Marburg, được xếp chung vào một họ, Filoviridae: họ filovirus.

Nhóm của Johnson cũng biết rằng tác nhân mới, virus Ebola, phải trú ngụ trong một loài động vật sống nào đó – một loài khác loài người – nơi nó có thể tồn tại mà ít gây xáo trộn nhất và duy trì một sự hiện diện mang tính liên tục.

Nhưng câu hỏi về vật chủ chứa đựng của nó chưa nguy cấp bằng những mối lo khác, như làm thế nào để phá vỡ dây chuyền lây nhiễm từ người sang người, làm thế nào để cứu sống bệnh nhân, làm thế nào để chấm dứt đợt bùng phát. “Chỉ một số lượng giới hạn các cuộc điều tra sinh thái học được thực hiện,” đội ngũ này sau đó đã báo cáo, và kết quả của những cuộc điều tra đó đều âm tính. Không có dấu hiệu của virus Ebola ở bất kỳ đâu ngoại trừ con người. Nhưng ngẫm lại thì dữ liệu âm tính cũng thú vị, ít nhất với vai trò một ghi chép về nơi mà các nhà nghiên cứu ban đầu đã xét đến. Họ xay nhuyễn 818 con rệp thu thập từ các ngôi làng bị nhiễm Ebola, không thấy dấu hiệu Ebola ở bất kỳ con nào. Họ xét tới loài muỗi. Không có gì. Họ lấy máu từ mười con lợn và một con bò – tất cả đều không có Ebola. Họ bắt 123 con vật gặm nhấm, bao gồm 69 con chuột nhắt, 30 con chuột đồng, và 8 con sóc, không một con nào mang virus. Họ xét nghiệm ruột của 8 con khỉ, hai con linh dương Nam phi, và bảy con dơi. Những con vật này đều không chứa virus.

Các thành viên của Ủy ban Quốc tế đều được thúc đẩy bởi những gì mà họ nhìn thấy. “Không có một đại dịch do một loại virus mới nào đột ngột và có nguy cơ bùng phát rộng lớn hơn từng xuất hiện trên thế giới trong 30 năm qua,” họ cảnh báo trong bản báo cáo. Tỷ lệ tử vong ở mức 88%, họ ghi chú, cao hơn bất kỳ căn bệnh nào theo số liệu ghi chép, ngoại trừ bệnh dại (gần 100% ở các bệnh nhân không được chữa trị trước khi họ biểu hiện triệu chứng.) Ủy ban đưa ra sáu khuyến cáo khẩn cấp tới chính quyền Zaire, trong đó có những biện pháp y tế ở mức độ địa phương và giám sát toàn quốc. Tuy nhiên việc nhận diện vật chủ của Ebola không được nhắc tới. Đó là vấn đề khoa học, hơi trừu tượng hơn so với những hành động được khuyến cáo cho chính phủ của tổng thống Mobutu. Điều đó sẽ phải đợi.

Sự chờ đợi vẫn tiếp diễn.

Ba năm sau đợt bùng phát ở Yambuku, Karl Johnson và một vài thành viên khác của Ủy ban vẫn đang băn khoăn về câu hỏi về vật chủ chứa đựng. Họ quyết định thử lại. Với việc thiếu nguồn vốn dành cho một cuộc thám hiểm dành riêng cho việc tìm nơi ẩn náu của Ebola, họ kết hợp nỗ lực này với một chương trình nghiên cứu sẵn có về thủy đậu ở Zaire, do WHO chỉ huy. Thủy đậu là một bệnh nguy hiểm, tuy không nguy cấp như bệnh virus Ebola, và cũng do một loại virus lẩn khuất trong một hay nhiều loài vật chủ chứa đựng, vào thời điểm đó vẫn chưa được xác định. Do đó việc kết hợp tìm kiếm dường như là quyết định tiết kiệm và hiển nhiên, sử dụng hai bộ dụng cụ phân tích để sàng lọc một đợt mẫu thu được. Một lần nữa đôi thực địa thu thập những con vật từ các làng và khu rừng xung quanh ở Bumba Zone, cũng như các vùng khác ở miền bắc Zaire và đông nam Cameroon. Lần này những nỗ lực đặt bẫy và săn bắt của họ, cộng với tiền thưởng họ trả cho những sinh vật còn sống được dân làng gửi tới, mang về hơn 1500 sinh vật thuộc 117 loài. Có khỉ, chuột đồng, chuột nhắt, dơi, cầy ma gút, sóc, tê tê, chuột chù, nhím, linh dương Nam Phi, chim, rùa, và rắn. Máu được lấy từ mỗi con vật, và rồi những mảnh gan, thận, và lách. Tất cả những mẫu vật này, đông lạnh trong những ống nghiệm riêng biệt, được gửi về CDC để phân tích. Liệu có virus sống nào bên trong các tế bào được lấy mẫu? Liệu kháng thể Ebola có được phát hiện trong huyết thanh? Kết luận, trong báo cáo thẳng thắn của Johnson và các đồng tác giả trên các trang của Tạp chí các Bệnh truyền nhiễm, đã phủ định: “Không có dấu hiệu nhiễm virus Ebola nào được tìm thấy.”

Một yếu tố khiến cho việc truy tìm vật chủ chứa đựng của Ebola trở nên đặc biệt khó khăn, đặc biệt khó tập trung, là bản chất lây truyền của căn bệnh giữa quần thể con người. Có những thời điểm nó biến mất hàng năm trời. Đây là một điều lành cho y tế công cộng nhưng một sự níu kéo đối với khoa học. Các nhà sinh thái virus có thể tìm virus Ebola ở bất kỳ đầu, trong bất kỳ sinh vật nào thuộc bất kỳ loài nào, ở bất kỳ rừng rậm châu Phi nào, nhưng đó là những bụi rơm rất lớn và cây kim virus thì lại vô cùng nhỏ.

Những mục tiêu tìm kiếm triển vọng nhất, về không gian cũng như thời gian, và bất kỳ nơi nào và bất kỳ khi nào con người tử vong vì bệnh virus Ebola. Và trong một khoảng thời gian rất dài, không có ai đã chết vì căn bệnh đó – không có ai mà cái chết của họ được các quan chức y tế chú ý, ít ra là vậy.

Sau đợt bùng phát ở Yambuku năm 1976, và rồi hai đợt nhỏ hơn ở Zaire và Sudan giữa năm 1977 và 1979, ebolavirus gần như không xuất hiện ở bất kỳ đâu ở châu Phi trong 15 năm. Đã có một vài ca lẻ tẻ đầu những năm 1980, sau này khi xét lại, nhưng không có đợt bùng phát nào được xác nhận mà cần tới sự phản ứng khẩn cấp: và trong mỗi thời điểm nhỏ đó dây chuyền lây nhiễm dường như đã tự cháy sạch. Cháy sạch là một khái niệm có sự liên hệ đặc biệt với những mầm bệnh đặc biệt nguy hiểm tới tính mạng và tương đối dễ lây nhiễm. Tức là một vài người tử vong, một vài người khác bị nhiễm, một phần nhỏ trong số đó cũng tử vong nhưng những người khác qua khỏi, và mầm bệnh không tiếp tục sinh sôi. Biến cố tự kết thúc trước khi những đội phản ứng từ WHO, CDC, và các trung tâm chuyên môn khác phải được điều động. Và rồi, sau một quãng nghỉ, nó trở lại – với đợt bùng phát ở Mayibout 2 và những vùng khác ở Gabon, và còn nguy cấp hơn thế ở một nơi có tên Kikwit.

Kikwit, ở Zaire, nằm cách Kinshasa khoảng 300 dặm về phía đông. Nó khác với Yambuku, và Mayibout 2, và trại khai thác gỗ bên ngoài Booué ở một điểm mấu chốt: Nó là một thành phố hai trăm nghìn dân. Nó có vài bệnh viện. Nó kết nối với thế giới theo cách mà những địa điểm bùng phát khác kia không thể. Nhưng cũng giống những nơi đó nó được bảo quanh bởi rừng rậm.

Ca bệnh đầu tiên được xác định trong đợt bùng phát ở Kikwit là một người đàn ông 42 tuổi làm việc ở trong hoặc gần khu rừng đó và có lẽ, ở một mức độ nào đó, đã làm xáo trộn nó. Ông làm nông trên nhiều khoảnh đất trống, trồng ngô và sắn, và làm than từ gỗ, tất cả ở một điểm nằm cách thành phố năm dặm về phía đông nam. Ông lấy nguồn cung gỗ như thế nào, làm thế nào ông lấy ánh sáng cho khu vườn của mình? Chắc hẳn là nhờ việc chặt cây. Người này mắc bệnh vào ngày 6/1/1995, và tử vong do một cơn sốt xuất huyết một tuần sau đó.

Tới thời điểm đó ông đã trực tiếp lây nhiễm ít nhất ba thành viên trong gia đình, tất cả đều tử vong, và mang căn bệnh tới vòng tròn xã hội của mình, mười người khác tử vong trong những tuần tiếp theo. Một vài trong số đó có dấu hiệu mang virus vào các bệnh viện thai sản của thành phố, nơi mà nó lây nhiễm một kỹ thuật viên phòng thí nghiệm ở đó, và từ đó và Bệnh viện Đa khoa Kikwit. Kỹ thuật viên đó, khi được điều trị ở bệnh viện đa khoa, đã lây nhiễm một vài bác sĩ và y tá đã phẫu thuật cho anh (nghi ngờ bị thủng ruột do thương hàn, họ đã mổ vùng bụng của anh ta,) cũng như hai sơ người Ý đã chăm sóc cho anh. Kỹ thuật viên đó tử vong, các sơ tử vong, và các nhà chức trách địa phương giả thuyết rằng đây là một dịch kiết lỵ, một sự chẩn đoán sai lầm đã cho phép virus lan rộng hơn giữa các bệnh nhân và nhân viên ở các bệnh viện khác ở vùng Kikwit.

Không phải tất cả mọi người đều đồng ý với giả thuyết kiết lỵ. Một bác sĩ ở Bộ Y tế thay vào đó cho rằng nó giống một bệnh sốt xuất huyết do virus, gợi ý về Ebola. Suy đoán đúng đắn đó là được xác nhận nhanh chóng từ các mẫu máu mà CDC nhận được, ở Atlanta, vào ngày 9/5. Đúng thật: Đó là virus Ebola. Cho tới khi kết thúc đợt bùng phát, vào tháng tám, 245 người đã tử vong bao gồm 60 nhân viên bệnh viện. Thực hiện phẫu thuật vùng bụng cho các bệnh nhân Ebola, khi bạn nghĩ họ đang mắc một căn bệnh khác (như xuất huyết đường tiêu hóa do bị loét), là một việc nguy hiểm.

Trong khi đó, một đội ngũ quốc tế khác bắt đầu đi tìm vật chủ chứa đựng, tập trung tại Kikwit vào đầu tháng sáu. Nhóm này bao gồm những người từ CDC, từ một trường đại học ở Zaire, từ Cơ quan nghiên cứu y tế về bệnh truyền nhiễm của quân đội Mỹ (USAMRIID, trước đây là phòng thí nghiệm vũ khí sinh học nhưng giờ chuyên nghiên cứu bệnh tật và phòng vệ sinh học) ở Maryland, và một người đến từ Phòng thí nghiệm ký sinh trùng Đan Mạch, người được cho là biết rất nhiều về động vật gặm nhấm.

Họ bắt đầu làm việc ở địa điểm nơi mà sự lan truyền có vẻ theo dấu được – đó là, hầm than và ruộng hoa màu của người đàn ông 42 tuổi xấu số, nạn nhân đầu tiên, ở phía đông nam của thành phố. Từ địa điểm này tới địa điểm khác, trong suốt ba tháng sau đó, họ đã bẫy và bắt hàng nghìn con vật. Phần lớn trong số đó là những loài động vật có vú nhỏ và chim chóc, cộng thêm một vài loài bò sát và động vật lưỡng cư. Tất cả các bẫy đều được đặt trong rừng và thảo nguyên bên ngoài phạm vi thành phố. Bên trong Kikwit, đoàn đã giăng lưới bắt những con dơi ở một cơ sở truyền giáo Sacred Heart. Họ giết những con vật bắt được, lấy máu, và mổ lách (ở một vài trường hợp cả các nội tạng khác, như gan hay thận), và đưa vào bảo quản đông lạnh. Họ cũng lấy máu từ một vài con chó, bò, và khỉ nuôi. Tổng số lên đến 3066 mẫu máu và 2730 mẫu lách, tất cả đều được gửi về CDC để phân tích. Các mẫu máu, sau khi được chiếu xạ để giết bất kỳ loại virus nào, được xét nghiệm tìm kháng thể Ebola, với phương pháp phân tử tốt nhất lúc bấy giờ. Các mẫu lách được chuyển đến một phòng thí nghiệm có an toàn sinh học cấp độ 4 (BSL-4), một cơ sở kiểu mới từ khi Karl Johnson mới bắt đầu làm việc (và là một trong những người đi tiên phong trong việc thiết kế), với nhiều lớp niêm phong, phòng áp lực âm, các thiết bị lọc tân tiến, và nhân viên phòng thí nghiệm làm việc trong các bộ đồ phi hành gia – một môi trường cách ly dành cho việc nghiên cứu virus Ebola mà không có nguy cơ (trên lý thuyết) vô tình giải phóng virus. Không ai biết liệu bất kỳ mẫu lách đến từ Zaire nè có chứa virus hay không nhưng mỗi mẫu đều phải được xử lý như thể nó có. Từ mẫu lách, được nghiền mịn và thêm vào trong các tế bào nuôi cấy, các nhà nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cố gắng nuôi cấy con virus.

Không có con virus nào được nuôi cấy thành công. Tế bào nuôi cấy vẫn hoàn toàn không có lấy một đốm virus nào. Và các xét nghiệm kháng thể cũng không đem lại kết quả dương tính nào. Một lần nữa, virus Ebola đã lan truyền, tàn phá, và rồi biến mất trước khi xuất hiện ở bất kỳ đâu trừ những bệnh nhân đang ốm và sắp chết. Nó là Zorro, nó là Cáo Đầm Lầy, nó là Jack Đồ tể – nguy hiểm, vô hình, biến mất.

Trong ba tháng này, những nỗ lực của các đoàn đông đảo ở Kikwit không hẳn là một thất bại toàn diện; ngay cả những kết quả âm tính từ một nghiên cứu được thiết kế tốt cũng thu hẹp các khả năng. Nhưng nó là một nỗ lực vất vả khác kết thúc bằng sự thất vọng. Có lẽ đoàn Kikwit đã đến quá muộn, năm tháng sau khi người làm than mắc bệnh. Có lẽ sự chuyển mùa từ mùa mưa sang mùa khô đã khiến vật chủ chứa đựng, dù nó là gì, di cư hoặc trốn hoặc giảm số lượng. Có lẽ bản thân loài virus đã giảm số lượng xuống mức tối thiểu, một tàn dư manh mún, không thể phát hiện được ngay cả bên trong vật chủ của nó trong thời điểm trái mùa. Đoàn Kikwit không thể kết luận được. Phương diện đáng chú ý nhất trong bản báo cáo sau cùng của họ, bên cạnh danh sách dài những loài động vật không chứa virus Ebola, là một tuyên bố rõ ràng về ba giả thuyết đã dẫn dắt cuộc tìm kiếm của họ.

Thứ nhất, họ nghi ngờ (dựa trên những nghiên cứu trước đó) rằng vật chủ chứa đựng là một loài động vật có vú. Thứ hai, họ để ý thấy các đợt bùng phát bệnh virus Ebola ở châu Phi luôn có mối liên hệ với các khu rừng. Thứ ba, họ để ý thấy rằng các đợt bùng phát này cũng rải rác về thời điểm – đôi khi khoảng cách giữa hai các đợt là hàng năm trời. Những khoảng thời gian đó cho thấy việc lây nhiễm từ vật chủ chứa đựng sang người là một hiện tượng hiếm gặp. Sự hiếm hoi này gợi ra hai khả năng: hoặc vật chủ chứa đựng là một loài động vật quý hiếm hoặc nó là một loài vật hiếm khi tiếp xúc với con người.

Ngoài những điều đó, đoàn ở Kikwit không thể nói gì thêm. Họ công bố báo cáo của mình vào năm 1999 (giữa hàng loạt các báo cáo về Ebola, trong một số đặc biệt của tờ Tạp chí Bệnh truyền nhiễm), đem tới một kết luận tiêu cực với những căn cứ đích xác. Sau 23 năm, vật chủ chứa đựng vẫn chưa được tìm thấy.

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.