43
Trong vòng một tháng, một thủ phạm đã được xác định. Nó là một loại vi khuẩn nhỏ với một số đặc tính khác thường, dường như giống với tác nhân gây ra bệnh sốt phát ban (Rickettsia prowazekii) và do đó được đặt tên là Rickettsia psittaci. Nó từ đâu đến? Argentina đã được coi là nguồn cung cấp gia cầm bệnh vào đầu đợt bùng phát năm 1930; lệnh cấm vận của Tổng thống Hoover có thể đã ảnh hưởng đến nguồn cung đó. Nhưng sau đó bệnh virus vẹt tiềm ẩn đã được phát hiện ở một số chuồng chim thương mại ở California, nơi sản xuất vẹt đuôi dài cho việc buôn bán vật nuôi trong nước – có nghĩa là những người chăn nuôi Mỹ đang chứa một ổ chứa đặc hữu của căn bệnh truyền nhiễm và phát tán nó qua con đường thương mại giữa các tiểu bang. Do đó một đề xuất đã được đưa ra để tiêu hủy tất cả những đàn gia cầm bị nhiễm bệnh và sau đó thiết lập lại hoạt động buôn bán với những con chim khỏe mạnh từ Úc. Điều này dường như có lý dựa trên hai yếu tố. Đầu tiên, những gì người Mỹ chúng tôi gọi là “vẹt đuôi dài” là một loài chim bản địa của Úc, phổ biến và có nhiều trong tự nhiên, được người Úc gọi là budgerigar. Thứ hai, bản thân Australia (mặc dù có nhiều loài chim họ vẹt) được cho là không có bệnh virus vẹt. Bắt đầu lại với những con chim hoang dã có thể giải phóng việc buôn bán chim gây bệnh virus vẹt ở Mỹ. Hay ít ra ý tưởng là như vậy.Một cặp nhà khoa học Mỹ đã được phép, bất chấp lệnh cấm vận, nhập khẩu một lô hàng gồm hai trăm con vẹt đuôi dài của Úc mới bắt được gần đây ở vùng lân cận Adelaide. Họ muốn làm một thử nghiệm. Kế hoạch của họ là lây nhiễm cho những con gia cầm nhập khẩu, có hệ thống miễn dịch được cho là còn non nớt, với các chủng bệnh virus vẹt ở Mỹ. Nhưng khi một trong những vật nhập khẩu bị chết, không lâu sau khi đến nơi, các nhà khoa học đã mổ xẻ nó và tìm thấy Rickettsia psittaci. Họ cũng nhận thấy rằng một số con chim khác của họ, có vẻ khỏe mạnh, lại mang vi khuẩn như một bệnh nhiễm trùng tiềm ẩn, giống như những con chim trong chuồng chim California đó. Điều đó làm dấy lên mối lo ngại mới về những gì có thể ẩn náu trong các chuồng chim khác, trong vườn thú và các cửa hàng thú cưng trên khắp nước Mỹ, đồng thời gợi ý rõ rằng nước Úc có thể không sạch sẽ như người ta tưởng.
Đây là lúc Frank Macfarlane Burnet, một nhân vật vĩ đại trong giới khoa học Úc, bước vào câu chuyện. Burnet là một người phức tạp, thông minh, láu cá và là một nhân vật dẫn đầu trong việc nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm. Cuối cùng thì ông được phong tước hiệp sĩ, giải thưởng Nobel và một số danh hiệu cao quý khác, nhưng rất lâu trước khi những danh hiệu đó ông đã làm nên tên tuổi của mình trong ngành nghiên cứu bệnh lây truyền từ động vật. Sinh năm 1899, là con thứ hai trong số bảy người, ông là một cậu học sinh cô độc, cố chấp, đọc HG. Wells, không đồng tình với đạo đức nông cạn của cha mình, thích sưu tầm bọ cánh cứng hơn là các hoạt động có tính chất giao lưu hơn, coi thường bạn cùng phòng, đọc về Charles Darwin (người đã trở thành một trong những anh hùng của ông) trong một cuốn bách khoa toàn thư, ép bản thân (mặc dù không có năng khiếu thể thao) đạt được năng lực như một vận động viên cricket, và trở thành một người bất khả tri trong những năm đại học của mình. Không thích hợp với sự nghiệp trong Giáo hội, không thích luật pháp, ông đã chọn ngành y. Ông học bác sĩ ở Melbourne nhưng sau đó, khi nhận ra mình thiếu sự đồng cảm với bệnh nhân, ông đã đến London để lấy bằng Tiến sĩ về virus học. Từ chối một ghế tại Đại học London, ông trở về Úc để nghiên cứu. Ông ấy là một người theo chủ nghĩa dân tộc, người Úc cứng cỏi. Mãi về sau trong cuộc đời, với đầy vinh dự và danh tiếng, Burnet vẫn duy trì sự vượt trội của mình bằng cách đưa ra những phát ngôn lập dị về nhiều chủ đề bao gồm an tử, giết trẻ sơ sinh tật nguyền, quyền đất đai của thổ dân, kiểm soát dân số, quảng cáo thuốc lá, thử nghiệm hạt nhân của Pháp ở Thái Bình Dương, sự vô ích của việc cố gắng chữa khỏi bệnh ung thư, và thành tích (theo quan điểm của ông ấy là thấp) của sinh học phân tử (khác hẳn với ngành của ông ấy, vi sinh học).
Burnet nhận giải Nobel năm 1960 vì đã giúp làm sáng tỏ các cơ chế của sự dung nạp miễn dịch có được. Vai trò của ông trong việc tìm hiểu các bệnh truyền từ động vật bắt đầu sớm hơn nhiều. Năm 1934, khi là một nhà vi sinh vật học trẻ tuổi tại Viện Walter và Eliza Hall, ở Melbourne, ông bắt đầu quan tâm đến bệnh virus vẹt.
Chốt lại việc nghiên cứu ở Mỹ, Burnet đặt mua cho mình một thùng vẹt và vẹt đuôi dài từ Adelaide. Ông phát hiện ra rằng một phần ba trong số chúng đã bị nhiễm bệnh. Ông đặt một tá nữa từ Melbourne. Ít nhất chín trong số đó là những con vật có khả năng mang bệnh. Hai tá khác từ Melbourne mang lại thậm chí nhiều kết quả dương tính hơn. Quá đủ cho lời đồn về Úc như một vườn địa đàng thời tiền sa ngã[1] không có bệnh virus vẹt.
Nhưng nếu quần thể chim hoang dã của đất nước bị nhiễm loại vi khuẩn này, làm thế nào người dân của đất nước – rất nhiều người trong số họ đã chăm sóc những con vẹt đuôi dài và những con vẹt mào biết nói – dường như hoàn toàn không bị ảnh hưởng? Burnet đoán, câu trả lời có khả năng không phải là một dạng miễn dịch kỳ diệu nào đó mà là sự thiếu hiểu biết và chẩn đoán sai. Các bác sĩ Úc không biết bệnh virus vẹt khi nó thở khò khè vào mặt họ. Để kiểm tra phỏng đoán đó, Burnet bắt đầu theo dõi các trường hợp bệnh ở người có biểu hiện giống như bệnh virus vẹt nhưng có thể đã được chẩn đoán là cúm hoặc thương hàn. Ông và một đồng điều tra viên đã phát hiện ra mười bảy người bị ốm sốt, ho, nhức đầu, viêm phổi, vân vân, tất cả đều đã tiếp xúc với chim cảnh – hoặc là vẹt đuôi dài được nhân giống nuôi nhốt, hoặc là vẹt và vẹt mào bắt được gần đây từ tự nhiên. Nhóm thú vị nhất của ông là một nhóm mười hai người bị nhiễm từ một lô vẹt mào lưu huỳnh.
Những con chim đó, tất cả bốn mươi chín con, đã được người bắt chim bán cho một người đàn ông ở Melbourne, một người lao động, người chuyên buôn bán chim để kiếm chút thu nhập mùa vụ. Burnet gọi người đàn ông đó là ông X, theo nguyên tắc ẩn danh y tế thông thường. Ông X cất giữ hàng hóa gia cầm của mình trong một nhà kho nhỏ, tối tăm ở sân sau. Dấu hiệu đầu tiên của bệnh ở những con chim, vài tuần sau khi chúng chuyển đến “chuồng chim” của ông ấy, là tám hoặc chín con trong số chúng đã chết. Nhưng sau đó, ông X, không lãng phí thời gian, đã bán bảy con khác cho những người trong khu phố và gửi đứa con trai mười hai tuổi của mình đến chợ địa phương cùng với hai mươi con nữa. Con trai ông X. bị bệnh, con gái ông, vợ ông và mẹ vợ ông. Năm người hàng xóm và ba người khác, mỗi người sống trong một ngôi nhà với một con vẹt mào mua của ông X hoặc con trai của ông, cũng đổ bệnh, một số người bị nặng. Không ai chết. Bản thân ông X không ốm yếu, không phải lần này – có thể vì không có công lý trên thế giới, mặc dù nhiều khả năng là do việc tiếp xúc với Rickettsia psittaci trong những lần giao dịch với chim trước đó đã cho ông một chút khả năng miễn dịch.
Macfarlane Burnet, với tư cách là một nhà sinh vật học cũng như một bác sĩ, quan tâm đến các loài chim và vi khuẩn, không chỉ ở con người. Ông biết rằng những con vẹt mào lưu huỳnh làm tổ trong các hốc cây, đẻ ra hai hoặc ba quả trứng trong một lứa và những người bắt chim thường tấn công các lỗ tổ ngay trước khi chúng đủ lông đủ cánh. Ông nghi ngờ rằng hầu hết tất cả những con non đều bị nhiễm vi khuẩn này khi còn nhỏ, trước khi rời khỏi (hoặc bị lấy ra khỏi) tổ. Ông và đồng tác giả viết: “Nếu vẹt mào non, sau khi bị bắt, được giữ trong điều kiện tốt, thì nó vẫn khỏe mạnh và không gây nguy hiểm cho con người”. Tương tự như vậy, các quần thể chim hoang dã có thể mang tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhưng ít bị ảnh hưởng về mặt sức khỏe bị tổn hại hoặc tỷ lệ tử vong. “Mặt khác, khi những con chim chen chúc trong những không gian nhỏ, không đủ thức ăn và ánh sáng mặt trời, thì sự lây nhiễm tiềm ẩn của chúng sẽ bùng phát.” Vi khuẩn nhân lên và “được bài tiết với một lượng lớn.” Nó trôi ra khỏi lồng cùng với lông tơ, phân bột và bụi. Nó bay trong không khí như một bệnh khảm. Mọi người hít phải nó và bị bệnh.
Burnet thừa nhận rằng không có chính quyền nào ở Úc có khả năng sẽ cấm bán những con vẹt đuôi dài, không phải trong những ngày đó, và thậm chí cũng không yêu cầu chúng được bảo quản trong những điều kiện đàng hoàng. Nhưng đó là những gì cần thiết, ông nói thêm một cách cộc cằn. Sau đó ông chuyển sang một căn bệnh khác.
❀ ❀ ❀
[1] Phép ẩn dụ theo kinh thánh ý nói vườn địa đàng trước khi Adam và Eva phạm điều cấm và bị đày xuống trần gian.↩️