91
Đại học Kinshasa nằm trên một đỉnh đồi gần rìa thành phố, sẽ mất khoảng một tiếng bằng taxi đi qua những dãy phố ồn ào, mù mịt sương và chật kín xe tải, xe buýt và xe đẩy cùng những sạp hàng bày vòng hoa bên đường, các ki-ốt sạc điện thoại di động, chợ hoa quả, chợ thịt, cửa hàng đồ kim khí ngoài trời, cửa hàng sửa chữa lốp xe và môi giới xi măng, những đống cát và sỏi và rác thải và không khí tàn tạ nặng nề của một đô thị thời hậu thuộc địa của chủ nghĩa cơ hội Bỉ. Ba thập kỷ của chế độ độc tài và nạn trộm cắp hoành hành, và nối tiếp là một thập kỷ chiến tranh đẩy 10 triệu con người ra tiền tuyến, mặc dù trong số vài người còn sót trở thành trộm cắp thì hầu hết lại trở nên hòa nhã, thân thiện và đầy hy vọng. Khuôn viên trường đại học, nằm ngay trên đỉnh đổi được gọi với tên là “ngọn núi”, nằm nổi bật lên với màu xanh tươi và rực rỡ so với khung cảnh của thành phố bên dưới. Hoặc leo bộ hoặc sử dụng xe buýt, học sinh đến đây với mục đích học hành nghiêm túc như một cách để thoát khỏi thành phố ngột ngạt ở dưới.Giáo sư Jean-Marie M. Kabongo là trưởng khoa bệnh lý tại Khoa Giải phẫu bệnh của trường đại học. Ông ấy là một người đàn ông nhỏ nhắn với bộ ria mép đầy đặn, ông tạo ấn tượng mạnh mẽ trong mắt người đối diện nhờ phong thái nhẹ nhàng, tinh tế Khi tôi gặp ông ấy trong văn phòng là tầng hai của một tòa nhà nhìn ra một đồng cỏ rợp bóng cây, anh ta khẩn thiết được hiểu về sự không hoàn hảo của chủng DRC60 mà ông tìm thấy trong số các mẫu của bệnh. Đó là một bệnh nhân đã điều trị lâu năm, là phụ nữ, ông tin chắc là vậy, kí ức của ông rất mơ hồ nhưng ông ấy có thể kiểm tra lại trong hồ sơ bệnh án. Ông ấy bắt đầu ghi chép khi tôi hỏi và đề nghị tôi quay lại sau vài ngày, khi ông ấy có sự chuẩn bị tốt hơn. Tiếp đó tôi hỏi về căn phòng lưu trữ mẫu chứa DRC60 thì mắt ông ấy sáng lên. Ồ, đương nhiên rồi, tôi có thể chỉ cho anh căn phòng ấy.
Ông ta lấy một chiếc chìa khóa để mở một cánh cửa màu xanh lam. Cánh cửa mở ra và gây choáng ngợp với tôi là một phòng thí nghiệm lớn ngập nắng với những bức tường ngói trắng và hai chiếc bàn dài, thấp ở giữa. Trên một trong những chiếc bàn đặt một cuốn sổ cái kiểu cũ, với những trang giấy cuộn tròn, giống như một thứ gì đó của Chancery vào thời của Dickens. Trên bệ cửa sổ phía xa là một dãy cốc có chứa chất lỏng với màu sắc đậm dần, từng cốc từng cốc, từ màu vàng nước tiểu đến màu vodka trong suốt. Giáo sư Kabongo nói với tôi màu vàng nhất là methanol. Trong nhất là xylol. Ông nói, chúng tôi sử dụng những thứ này để chuẩn bị mẫu mô. Các vạch đánh dấu của các dung môi hữu cơ là mức chiết xuất nước và hút ẩm là điều kiện tiên quyết để cố định các mô trong thời gian dài. Metanol bị sẫm màu sau nhiều lần xử lý các mẫu.
Anh ta chỉ cho tôi một cái giỏ nhỏ bằng nhựa màu cam với nắp đậy có bản lề, có kích thước và hình dạng như một cuốn sách diêm. Đây là một “băng cassette,” Giám đốc Kabongo giải thích cho tôi: Anh lấy một khối mô từ một hạch bạch huyết hoặc một số cơ quan khác và bọc nó trong một cuộn băng như vậy; tiếp đó, ngâm toàn bộ trong cốc metanol; từ methanol, nó đi qua các bể trung gian theo trình tự đã sắp xếp; tiếp theo nhúng tiếp nó vào xylol. Metanol sẽ hút hết nước của mẫu vật ra ngoài trong khi xylol lại hút metanol sau cùng ra. Cuối cùng, sản phẩm sẽ được bảo quản trong paraffin. Và thiết bị này, Giáo sư Kabongo cho biết, chỉ về một chiếc máy lớn trên chiếc bàn, nó có nhiệm vụ cung cấp parafin. Ông giải thích và hướng dẫn anh lấy một mẫu khăn giấy đã lọc từ hộp băng của nó, và sử dụng ống hút nhỏ ra một dòng parafin lỏng và ấm. Sau khi nguội, mẫu bật sẽ nhìn giống như một miếng bơ. Bây giờ thì đã cso thể bỏ nắp an toàn và đánh mã cho sản phẩm - ví dụ: A90 hoặc B71. Đó là phương pháp để bảo quản các mẫu vật. Ông tiếp tục giải thích, “A” có nghĩa là nó đến từ một cuộc khám nghiệm tử thi. “B” là từ sinh thiết. Vì vậy, phần hạch bạch huyết có chứa parafin tạo ra DRC60 sẽ được dán nhãn B-gì đó. Mỗi mẫu vật được mã hóa được ghi vào sổ cái lớn. Sau đó, được di chuyển vào kho lưu trữ.
Lưu trữ. Lưu trữ ở đâu? Tôi hỏi.
Ở cuối phòng thí nghiệm là một cánh cửa khác, cánh cửa này được treo bằng một tấm rèm màu xanh lam. Giáo sư Kabongo gạt bức màn sang một bên và tôi đi theo anh ta vào một phòng đựng các mẫu vật trên một hành lang hẹp và chật, xếp đầy các kệ và tủ dọc theo một bên. Các giá và lưới cabi chứa hàng nghìn khối parafin đầy bụi và các lam kính vi mô cũ. Các khối parafin nằm trong các chồng và thùng giấy, một số thùng có ghi năm, một số thì không. Nó giống như một đống hỗn độn. Một chiếc ghế đẩu bằng gỗ được để sẵn để phục vụ bất kỳ ai tò mò, không mệt mỏi muốn lục tung các mẫu. Mặc dù tôi không định lục lại nhưng chuyến viếng thăm của tôi đã đến chỗ mà tôi đang mong muốn. Đây? Vâng, chỉ ở đây, giáo sư nói. Đây là nơi DRC60 đã được cất giữ trong nhiều thập kỷ. Anh ta nói thêm với niềm tự hào của dân bản địa: trước khi nó trở thành viên đá Rosetta trong các nghiên cứu về bệnh AIDS.