Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2096 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
9

❊ ❊ ❊

9

Đợt lan truyền ở Mayibout 2 không phải là một sự kiện riêng lẻ. Nó chỉ là một phần của xu hướng bùng phát dịch bệnh xuyên suốt Trung Phi – xu hướng ý nghĩa của nó vẫn còn là chủ đề cần suy ngẫm và tranh luận. Căn bệnh đang được xét đến, từng được biết đến với cái tên bệnh sốt xuất huyết Ebola, giờ chỉ còn đơn giản là bệnh virus Ebola. Xu hướng này kéo dài từ 19٧6 (lần xuất hiện đầu tiên được ghi nhận của virus Ebola) cho tới nay, và từ một phía của lục địa (Bờ Biển Ngà) sang phía bên kia (Sudan và Uganda). Bốn họ lớn của dòng virus từng xuất hiện ở những đợt bùng phát đó được gọi chung là ebolavirus. Ở quy mô nhỏ hơn, chỉ riêng trong Gabon, đã có những lần bùng phát Ebola tập trung: ba lần trong chưa đầy hai năm, và cả ba lần đều ở những địa điểm gần nhau. Mayibout 2 là đợt bùng phát thứ hai trong số này.

Một đợt bùng phát trước đó bắt đầu vào tháng Mười hai 1994 ở khu trại đào vàng trên thượng du sông Ivindo, cùng khu vực nơi mà sau đó Mike Fay đã tuyển mộ những thành viên đoàn người Gabon của ông. Những khu trại này nằm cách Mayibout 2 khoảng 40 km về phía thượng du. Ít nhất 32 người đã mắc bệnh, với các triệu chứng thông thường (sốt, đau đầu, nôn mửa, tiêu chảy, và xuất huyết) của bệnh virus Ebola. Rất khó xác định được nguồn lây bệnh. Tuy nhiên, một bệnh nhân kể rằng đã giết một con tinh tinh lang thang vào trong trại của người đó, và con vật đã có những hành động rất kỳ lạ. Có lẽ con tinh tinh đã mắc bệnh và vô tình mang tác nhân gây bệnh tới cho những con người đang đói ngấu. Theo một nguồn tin khác, ca bệnh đầu tiên là một người đã bắt gặp một con khỉ đột đã chết, mang một vài bộ phận của nó về trại của mình để phân chia. Anh ta đã tử vong cùng với những người động tới chỗ thịt này. Trong cùng khoảng thời gian này, có những báo cáo về việc tinh tinh, cũng như khỉ đột, được tìm thấy đã chết trong rừng. Tổng quan hơn, những người thợ mỏ (và gia đình của họ – các khu trại gần như những ngôi làng) với sự hiện diện của họ, nhu cầu thức ăn, chỗ ở, nhiên liệu của họ, đã gây xáo trộn cho khu rừng và những sinh vật sống trong đó.

Từ những trại đào vàng, những nạn nhân năm 1994 di chuyển xuôi dòng sông (giống như những nạn nhân sau này ở Mayibout 2) tới Bệnh viện Đa khoa Makokou. Và đợt bùng phát thứ hai nổ ra, tập trung quanh bệnh viện và những ngôi làng gần đó. Một trong những ngôi làng đó có nganga – thầy lang địa phương, và nhà của người này có thể đã trở thành nơi lây truyền giữa ca bệnh từ trại đào vàng, tới đây tìm thuốc dân gian, và người dân địa phương, tới đây vì vấn đề gì đó nhẹ nhàng hơn Ebola. Có khả năng virus được truyền qua chính bàn tay của thầy lang. Dù sao đi nữa, tới khi đợt bùng phát này kết thúc, 49 ca đã được chẩn đoán, với 29 ca tử vong, đạt tỷ lệ tử vong gần 60%.

Một năm sau đó là đợt bùng phát ở Mayibout 2, đợt thứ hai trong chuỗi dịch bệnh. Tám tháng sau đó, các nhà khoa học của CIRMF và các nhà khoa học khác phải đối phó với đợt bùng phát thứ ba, lần này là ở gần thị trấn Booué ở vùng trung Gabon.

Dịch bệnh ở Booué có lẽ đã bắt đầu ba tháng trước đó, vào tháng Bảy năm 1996, với ca tử vong của một thợ săn ở trại gỗ được biết đến với cái tên SHM, cách Booué 65 km về phía bắc. Ngẫm lại, những triệu chứng gây tử vong của người thợ săn này được công nhận giống với bệnh virus Ebola, dù trường hợp của anh này không gây báo động ở thời điểm đó. Một thợ săn khác tử vong một cách bí ẩn ở cùng trại gỗ đó sáu tuần sau. Rồi đến người thứ ba. Trại đã được tiếp tế loại thịt gì? Có lẽ là một loạt các loại thú rừng, trong đó có khỉ, linh dương, lợn rừng, nhím, thậm chí có thể cả vượn (dù bị pháp luật cấm). Một lần nữa, có các báo cáo về những con tinh tinh được phát hiện đã chết trong rừng – không phải bị bắn chết. Ba ca bệnh đầu tiên ở người dường như độc lập với nhau, như thể mỗi thợ săn đều mắc virus từ hoang dã. Người thợ săn thứ ba khiến vấn đề lan rộng hơn, từ nạn nhân biến mình trở thành một nguồn lây nhiễm.

Anh ta nhập viện một thời gian ngắn ở Booué nhưng trốn khỏi đó, né tránh chính quyền và y tế, đi tới một ngôi làng gần đó và tìm kiếm sự giúp đỡ từ một nganga khác.

Dù được thầy lang chữa trị, người thợ săn vẫn tử vong – tiếp theo là người thầy lang và cháu trai của ông ta. Phản ứng dây chuyền bắt đầu. Trong tháng mười và các tháng tiếp theo, căn bệnh lan rộng ra xung quanh Booué, gợi ý rằng có nhiều trường hợp lây nhiễm từ người sang người hơn. Một vài bệnh nhân được thuyên chuyển tới các bệnh viện ở Libreville, thủ đô của Gabon, và tử vong tại đó. Một bác sĩ người Gabon, sau khi chữa trị cho một trong số các bệnh nhân đó, đã mắc bệnh. Chẳng có mấy niềm tin vào trình độ y học của quê hương mình, anh ta đã bay tới Johannesburg để chữa trị. Bác sĩ này dường như đã qua khỏi, nhưng một y tá người Nam Phi chăm sóc cho ông đã mắc bệnh và tử vong. Virus Ebola theo đó xuất hiện từ Trung Phi và lan ra cả lục địa. Con số thống kê cuối cùng của đợt bùng phát thứ ba này, bao gồm Booué, Libreville và Johannesburg, là 60 ca, trong đó 45 ca tử vong. Tỷ lệ tử vong là bao nhiêu? Bạn có thể tự làm phép tính này trong đầu.

Giữa mớ bòng bong những ca bệnh và chi tiết này, một vài nhân tố chung nổi bật lên: sự xáo trộn hệ sinh thái rừng ở địa điểm bùng phát, những con vượn cũng như người tử vong, những ca bệnh thứ phát có liên quan với việc tiếp xúc trong bệnh viện hay các thầy lang, cùng với tỷ lệ tử vong cao, từ 60-75%. Con số 60% là cực kỳ cao với bất kỳ căn bệnh truyền nhiễm nào (trừ bệnh dại); đơn cử, nó thậm chí còn cao hơn tỷ lệ tử vong của bệnh dịch hạch ở Pháp thời Trung cổ, thời điểm tồi tệ nhất của Cái Chết Đen.

Trong những năm kể từ sau 1996, các đợt bùng phát khác của virus Ebola đã tấn công cả người lẫn khỉ đột trong vùng xung quanh Mayibout 2. Vùng bị nặng nhất nằm dọc theo sông Mambili, vừa qua biên giới Gabon ở phía tây bắc Congo: một vùng rừng rậm rạp bao quanh nhiều ngôi làng, vườn quốc gia, và khu bảo tồn mới được dựng lên có tên Lossi Gorilla Sanctuary (Thánh địa Khỉ đột Lossi). Mike Fay và tôi cũng đi bộ qua khu vực đó vào tháng Ba năm 2000, chỉ bốn tháng trước khi tôi gặp lại ông tại khu sơn đảo Minkébé. Trái ngược hoàn toàn với sự vắng vẻ của Minkébé, khỉ đột tập trung rất đông ở vùng sông nước Mambili. Nhưng hai năm sau đó, vào 2002, một nhóm các nhà nghiên cứu ở Lossi bắt đầu phát hiện xác những con khỉ đột, một vài trong số đó xét nghiệm dương tính với kháng thể virus Ebola. (Xét nghiệm dương tính với kháng thể tuy là bằng chứng kém chắc chắn hơn việc tìm thấy virus sống, nhưng vẫn mang tính gợi ý.) Chỉ trong vòng vài tháng, 90% cá thể khỉ đột mà họ đang nghiên cứu (130 trên 143 con) đã biến mất. Có bao nhiêu con chỉ đơn giản chỉ là chạy trốn? Bao nhiêu con đã chết? Ngoại suy một cách đại khái từ số tử vong và biến mất được xác nhận để ra con số thống kê tổng thể cho toàn khu vực nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đăng một bài viết trên Science với tiêu đề vô cùng mạnh mẽ (nhưng có phần quá tự tin): BÙNG PHÁT EBOLA GIẾT CHẾT 5000 CON KHỈ ĐỘT.

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.