Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2116 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
28

❊ ❊ ❊

28

Plasmodium falciparum không phải là loài ký sinh trùng sốt rét duy nhất trở thành mối lo ngại toàn cầu. Bên ngoài khu vực hạ Sahara ở châu Phi, hầu hết các trường hợp ở người là do Plasmodium vivax, loại bệnh nặng thứ hai trong số bốn loại đã thích nghi đặc biệt để lây nhiễm sang người. (Hai loài còn lại, P. ovale và P. malariae, hiếm hơn và gần như không có độc lực cao, gây ra các bệnh mà không cần điều trị y tế.) P. vivax ít gây chết người hơn P. falciparum nhưng nó gây nên nhiều khổ sở, mất năng suất, và bất tiện, với khoảng 80 triệu ca sốt rét không tử vong mỗi năm. Nguồn gốc của nó gần đây đã được làm sáng tỏ, một lần nữa bằng việc sử dụng phát sinh loài phân tử, và một lần nữa một trong những nhà nghiên cứu tham gia là Ananias A. Escalante, từng làm việc cho CDC, giờ là tại Đại học Bang Arizona. Escalante và các cộng sự của ông đã chỉ ra rằng, thay vì xuất hiện từ châu Phi cùng với những con người đầu tiên, như P. falciparum dường như đã làm, P. vivax có thể đã chờ đợi tổ tiên của chúng ta khi họ đến thuộc địa hóa vùng Đông Nam Á. Bằng chứng cho thấy họ hàng gần nhất của nó là bệnh plasmodia lây nhiễm cho khỉ châu Á.

Tôi sẽ không tóm tắt nội dung công trình này, bởi vì chúng ta đã tìm hiểu đủ sâu rồi; nhưng tôi muốn cảnh báo bạn về một khía cạnh nhỏ tất yếu khởi đầu cho một đường tiếp tuyến đặc biệt. Nhóm của Escalante đã báo cáo vào năm 2005 rằng P. vivax có chung tổ tiên gần đây với ba loại bệnh sốt rét ở khỉ. Một trong số đó là Plasmodium knowlesi, một loại ký sinh trùng được biết đến từ Borneo và bán đảo Malaysia, nơi nó đôi khi lây nhiễm cho ít nhất hai loài linh trưởng bản địa là khỉ đuôi dài và khỉ đuôi lợn. P. knowlesi chiếm một vị trí kỳ lạ trong biên niên sử y học, liên quan đến việc điều trị bệnh giang mai thần kinh (bệnh giang mai của hệ thần kinh trung ương), trong một thời gian vào đầu thế kỷ 20 đã được thực hiện bằng cách sử dụng các cơn sốt rét.

Câu chuyện diễn ra như thế này. Tiến sĩ Robert Knowles là một trung tá trong Cơ quan Y tế Ấn Độ, được bổ nhiệm đến Calcutta vào những năm 1930 và nghiên cứu bệnh sốt rét. Vào tháng 7/1931, ông nghiên cứu về một dòng ký sinh trùng sốt rét mới lạ, có nguồn gốc từ một con khỉ nhập nội. Đó là một plasmodium, ông có thể nhìn thấy, nhưng không phải bất kỳ thứ gì ông nhận ra. Knowles và một đồng nghiệp cấp dưới, một trợ lý phẫu thuật tên là Das Gupta, đã quyết định nghiên cứu nó. Họ tiêm con bọ vào một số loại khỉ khác và theo dõi tiến trình lây nhiễm. Chủng bí ẩn này tỏ ra có sức tàn phá khủng khiếp đối với khỉ rezut, gây sốt cao và lượng ký sinh trùng cao trong máu, giết chết chúng nhanh chóng. Tuy nhiên, ở những con khỉ macaca radiata, nó có rất ít tác dụng. Knowles và Gupta cũng tiêm nó cho ba người tình nguyện (dù vậy, “những tình nguyện viên”, sự tự do từ chối của họ là một vấn đề mập mờ), một trong số họ là một người đàn ông địa phương đã đến bệnh viện để điều trị vết chuột cắn trên bàn chân của mình. Anh chàng tội nghiệp này bị ốm nặng – không phải do chuột cắn mà căn bệnh sốt rét tiêm vào trong người. Trong những đối tượng thí nghiệm (khỉ và người) bị sốt liên tục, Knowles và Gupta nhận thấy rằng chu kỳ sốt là một ngày, khác với chu kỳ hai ngày hoặc ba ngày được biết đến đối với bệnh sốt rét ở người. Knowles và Gupta đã xuất bản một bài báo về loại ký sinh trùng bất thường nhưng không cho biết tên của nó. Ngay sau đó, một nhóm các nhà khoa học khác đã làm, gắn nhãn nó là Plasmodium knowlesi để vinh danh người phát hiện ra nó.

Chuyển cảnh: sang Đông Âu. Sau khi đọc tài liệu, một nhà nghiên cứu bệnh sốt rét có mối quan hệ rộng rãi ở Romania tên là Mihai Ciuca đã quan tâm đến các đặc tính và công dụng tiềm năng của Plasmodium knowlesi và đã viết thư cho một trong những đồng nghiệp của Knowles ở Ấn Độ, hỏi xin một mẫu. Khi máu khỉ đến nơi, Giáo sư Ciuca bắt đầu tiêm những liều P. knowlesi vào những bệnh nhân mắc giang mai thần kinh. Điều này nghe có vẻ không quá điên rồ, mặc dù đối với Romania có lẽ hơi liều lĩnh, vì phạm vi ảnh hưởng của P. knowlesi đối với con người vẫn chưa được hiểu rõ.

Tuy nhiên, Ciuca chỉ đơn thuần đưa ra một dòng liệu pháp không chỉ được chứng minh là hiệu quả mà còn được phong thánh trong khoa học. Trở lại năm 1917, một nhà thần kinh học ở Vienna tên là Julius Wagner-Juaregg đã bắt đầu cấy các chủng bệnh sốt rét khác cho những bệnh nhân giang mai giai đoạn nặng, và ông không chỉ thoát khỏi bị truy tố do sơ suất và cáo buộc ngu ngốc tội ác mà còn nhận được giải Nobel y học. Wagner- Juaregg là một người đàn ông nổi tiếng một cách khó ưa theo phong cách cổ điển, một người bài Do Thái dễ nổi cáu ủng hộ “vệ sinh chủng tộc,” ủng hộ việc triệt sản cưỡng bức đối với người mắc bệnh tâm lý và mang bộ ria mép kiểu Nietzschean, nhưng “liệu pháp trị liệu” bằng cách sử dụng bệnh sốt rét có vẻ như đã giúp đỡ nhiều bệnh nhân giang mai thần kinh, những người nếu không sẽ phải trải qua những ngày tháng cuối cùng trong những nhà thương điên. Có sự logic một cách lạnh lùng – đính chính, một cách nóng bỏng – trong phương thức xử lý của Wagner-Juaregg. Nó có tác dụng vì loại bọ giang mai rất nhạy cảm với nhiệt độ.

Bệnh giang mai do một loại vi khuẩn xoắn ốc (hay còn gọi là xoắn khuẩn) biết đến với cái tên Treponema pallidum gây ra. Vi khuẩn này thường được thu nhận khi quan hệ tình dục, sau đó nó di chuyển qua màng nhầy, nhân lên trong máu và các hạch bạch huyết, và nếu một bệnh nhân đặc biệt không may mắn, chúng sẽ xâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương, bao gồm cả não, gây ra sự thay đổi tính cách, rối loạn tâm thần, suy nhược, sa sút trí tuệ và tử vong. Nhưng đó là trong trường hợp không có thuốc kháng sinh; thuốc kháng sinh hiện đại chữa bệnh giang mai dễ dàng. Nhưng không có thuốc kháng sinh hiện đại vào năm 1917, và hóa chất điều trị ban đầu được gọi là Salvarsan (chứa arsen) không hoạt động tốt trong việc chống lại bệnh giang mai giai đoạn cuối ở hệ thần kinh. Wagner-Juaregg đã giải quyết vấn đề đó sau khi lưu ý rằng Treponema pallidum không tồn tại trong ống nghiệm ở nhiệt độ trên 98,6 độ F. Ông ấy nhận ra rằng, tăng nhiệt độ máu của người bị nhiễm bệnh lên vài độ, và bạn có thể nấu vi khuẩn đến chết. Vì vậy, ông bắt đầu cấy cho bệnh nhân Plasmodium vivax.

Ông sẽ cho phép họ vượt qua ba hoặc bốn cơn sốt, đầy lùi đáng kể nếu không muốn nói là giết chết Treponema, và sau đó cho họ quinine, nhằm kiểm soát plasmodium. “Hiệu quả thật đáng kinh ngạc; sự tiến triển xấu đi của bệnh giang mai giai đoạn cuối đã bị chặn lại,” theo lời của Robert S. Desowitz quá cố, người đã từng là một nhà ký sinh học nổi tiếng đồng thời là một nhà văn sống động. “Các cơ sở điều trị sốt rét nhanh chóng phát triển khắp châu Âu và kỹ thuật này đã được áp dụng tại một số trung tâm ở Hoa Kỳ. Bằng cách này, hàng chục ngàn ca bệnh giang mai thần kinh đã được cứu thoát khỏi một cái chết tất yếu và đau đớn” – được cứu sống bởi bệnh sốt rét.

Một trong những viện châu Âu đó là ở Bucharest, với Giáo sư Ciuca là phó giám đốc. Romania đã có một lịch sử lâu dài về cuộc đấu tranh chống lại bệnh sốt rét, và có lẽ cũng có một số lượng ca bệnh giang mai đáng kể, nhưng Ciuca rõ ràng cảm thấy rằng Plasmodium knowlesi có thể là một vũ khí tốt nhất chống lại bệnh giang mai thần kinh hơn các loại ký sinh trùng khác. Ông đã cấy cho vài trăm bệnh nhân và, vào năm 193٧, đã báo cáo kết quả khá tốt. Chương trình điều trị của ông tiếp tục cho đến khi, gần hai mươi năm sau, một vấn đề nảy sinh. Việc truyền nhiễm P. knowlesi liên tục qua một loạt vật chủ là người (tiêm máu bị nhiễm bệnh, cho phép ký sinh trùng non sinh sôi, sau đó hút máu bị nhiễm bệnh) đã khiến chủng của Ciuca ngày càng trở nên độc hại – quá độc hại so với sức chịu đựng. Sau 170 lần truyền nhiễm như vậy, ông và các đồng nghiệp trở nên lo lắng về sự dữ dội ngày càng tăng của nó và đã ngừng sử dụng. Đó là tín hiệu cảnh báo đầu tiên, nhưng vẫn chỉ là hiệu ứng trong phòng thí nghiệm. (Việc truyền ký sinh trùng là cần thiết để bổ sung nguồn cung cấp ký sinh trùng, vì nó không thể được nuôi cấy trong đĩa hoặc ống; nhưng việc truyền trực tiếp qua con người đã giải phóng ký sinh trùng khỏi bất kỳ áp lực tiến hóa khác nhau nào nó phải chịu khi hoàn thành vòng đời của nó trong loài muỗi.

Nó trở thành nguyên sinh vật tương đương với một cầu thủ đánh bóng được chỉ định – rất có khả năng đánh bóng và không có trách nhiệm phải chơi trên sân.) Các bằng chứng khác cuối cùng cho thấy P. knowlesi có thể đủ nguy hiểm đối với con người ở dạng hoang dã.

Vào tháng 3/1965, một nhà khảo sát ba mươi bảy tuổi người Mỹ làm việc cho Dịch vụ Bản đồ Quân đội Hoa Kỳ đã dành một tháng ở Malaysia, trong đó có năm ngày ở một khu vực rừng rậm phía đông bắc thủ đô Kuala Lumpur. Vì lý do bảo mật y tế (và có thể cả các lý do khác), tên của người khảo sát đã không được nêu trong tài liệu khoa học, nhưng tên viết tắt của anh ta là BW. Theo một báo cáo, BW làm việc vào ban đêm và ngủ vào ban ngày. Hừm, dừng lại để suy nghĩ: Thật kỳ lạ đối với một nhân viên khảo sát. Đây không phải là Sahara, nơi nhiệt độ ban ngày cao khủng khiếp, ban đêm mát mẻ và đầy ánh trăng thuận tiện hơn cho các hoạt động. Đó là khu rừng nhiệt đới. Vấn đề tại sao người khảo sát lại sắp xếp công việc của mình theo cách đó, hoặc anh ta đã khảo sát những gì (sâu bướm phát quang? Quần thể dơi? Tài nguyên thiên nhiên? Sóng vô tuyến?) chưa bao giờ được giải thích, mặc dù có một số suy đoán rằng anh ta là một gián điệp. Malaysia vào thời điểm đó đang vật lộn trong những năm đầu giành độc lập, dưới áp lực của chính phủ Sukarno do Cộng sản ủng hộ ở Indonesia gần đó, vốn hẳn đã khiến nước này trở thành trọng tâm của mối quan tâm chiến lược của Hoa Kỳ; hoặc có thể (theo một tin đồn) anh ta đang giám sát lưu thông tín hiệu từ Trung Quốc. Dù sao đi nữa, vì bất kỳ lý do chính trị hay địa chính nào, người khảo sát đơn độc này đã dành đủ đêm trong rừng để bị nhiều hơn vài con muỗi Anopheles cắn. Anh trở lại Căn cứ Không quân Travis, ở California, cảm thấy ốm – ớn lạnh, sốt, đổ mồ hôi. Ngạc nhiên chưa! Trong vòng ba ngày, BW đã được nhận vào Trung tâm Lâm sàng của Viện Y tế Quốc gia, ở Bethesda, Maryland, và được đưa vào điều trị bệnh sốt rét. Các bác sĩ NIH đã chẩn đoán Plasmodium malariae, dựa trên hình ảnh ký sinh trùng trong vết máu của anh ta dưới kính hiển vi. Nhưng sự xác định đó lại mâu thuẫn với bằng chứng về chu kỳ sốt của anh ta, chỉ kéo dài một ngày. Sau đó, điều bất ngờ thực sự được tiết lộ: Thử nghiệm sâu hơn cho thấy anh ta bị nhiễm P. knowlesi, một loại bệnh sốt rét ở khỉ. Nó không được cho là có thể. “Sự xuất hiện này,” một bộ tứ bác sĩ có liên quan viết, “đưa ra bằng chứng đầu tiên cho thấy bệnh sốt rét ở khỉ là một bệnh lây truyền từ động vật thực sự.”

Nói cách khác, nó đôi khi là một căn bệnh ở người, cũng như bệnh của khỉ.

Nhưng trường hợp của BW được coi là bất thường, chỉ là một tình huống xảy ra một lần do những tình tiết kỳ quặc. Nhiều người qua đêm trong rừng rậm Malaysia – ví dụ như dân làng địa phương khi đi săn – nhưng một số ít người trong số họ là du khách Mỹ, đang khảo sát hoặc do thám hoặc bất cứ điều gì, và sau đó có thể được chẩn đoán y tế tốt về bệnh sốt của họ. Đó gần như là nơi mà mọi thứ đã diễn ra với Plasmodium knowlesi trong ba mươi lăm năm, cho đến khi hai nhà vi sinh học ở Borneo thuộc Malaysia, một cặp vợ chồng tên là Balbir Singh và Janet Cox-Singh, bắt đầu xem xét một số mô hình đặc biệt của bệnh sốt rét xảy ra xung quanh một cộng đồng nhất định trong khu vực Borneo.

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.