Nguồn Gốc Dịch Bệnh: Động Vật, Con Người Và Đại Dịch Toàn Cầu Tiếp Theo

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 2116 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
79

❊ ❊ ❊

79

Tin tức về cái chết của Astrid Joosten đã lan xa. Cô ấy là người đầu tiên được biết đến là đã rời châu Phi với một ổ filovirus đang hoạt động và qua đời. Trở lại năm 1994, có một nghiên cứu sinh người Thụy Sĩ đến từ Côte d’Ivoire đã khỏi bệnh. Có ai khác, ngoài hai người đó, đã từng đi qua sân bay quốc tế và rời lục địa này với virus Ebola hoặc Marburg đang ủ bệnh trong cơ thể của họ không? Các chuyên gia vẫn chưa biết về một người nào khác. Trường hợp của Joosten đã chứng minh rằng, Marburg có thể du hành trong cơ thể người, mặc dù phải thừa nhận rằng nó không di chuyển tốt như SARS hay cúm hoặc HIV-1. Cách đó năm ngàn dặm, ở Colorado, một người phụ nữ khác nghe tin này đã rùng mình nhận ra. Cô ấy cũng đã từng đến thăm Hang Trăn.

Michelle Barnes là một phụ nữ ngoài bốn mươi tuổi năng động với đôi mắt xanh và mái tóc nâu vàng, là một trong số bảy anh chị em trong một gia đình Công giáo Ailen ở Iowa. Cô ấy là một vận động viên leo núi và đua xe đạp, hay cắm trại và đi bộ đường dài, người đã từng làm việc cho Outward Bound trong quá khứ và hiện là quyền giám đốc điều hành (tham gia khi cần thiết trong quá trình chuyển đổi) và cố vấn cho các tổ chức phi lợi nhuận. Vào ngày tôi gặp cô ấy, tại một văn phòng ở trung tâm thành phố Boulder, cô ấy mặc một chiếc áo len đỏ và một chiếc khăn quàng cổ, trông thật khỏe khoắn và chuyên nghiệp. Cô ấy hân hoan nói với tôi rằng, màu tóc nâu vàng là do cô ấy nhuộm. Nó gần đúng với màu gốc, cô nói, nhưng màu gốc đã biến mất. Đầu năm 2008, tóc cô bắt đầu rụng; phần còn lại chuyển sang màu xám, “rụng khá nhiều qua đêm”. Đây là một trong những tác động nhẹ hơn của một căn bệnh bí ẩn đã suýt giết chết cô vào tháng một năm đó, ngay sau khi cô trở về từ Uganda.

Câu chuyện của cô ấy tương tự với câu chuyện mà Jaap Taal đã kể cho tôi về Astrid, với một số điểm khác biệt chính — điểm khác biệt lớn nhất là Michelle Barnes vẫn còn sống. Một điểm khác là trường hợp của cô ấy cho thấy rất khó để chẩn đoán chính xác. Michelle và chồng cô, Rick Taylor, người điều hành một công ty xây dựng, đã say mê Châu Phi, giống như Jaap và Astrid. Họ cũng đã thực hiện những chuyến đi trước đó, thường là tự mình đi đến những nơi xa xôi. Và lần này họ cũng muốn nhìn thấy khỉ đột núi. Vì vậy, họ đã đặt chỗ với một nhà cung cấp dịch vụ du lịch mạo hiểm, bởi vì những công ty đó kiểm soát việc cho phép đến thăm khỉ đột. Hành trình đưa họ đi về phía nam qua các điểm tham quan phong cảnh của miền tây Uganda, một lần nữa như Jaap và Astrid sau này đã làm, đi qua những con vượn lớn ở Bwindi để đi lên đỉnh núi gần cuối chuyến đi. Một điểm dừng trung gian là Công viên Quốc gia Queen Elizabeth, dọc theo bờ đông của Hồ Edward. Đó là một hệ sinh thái khô hơn và bằng phẳng hơn, một dạng xavan Đông Phi cổ điển đầy sư tử, voi và các loài động vật có vú lớn khác, tụ tập quanh các vũng nước vào khoảng bình minh và hoàng hôn. Buổi trưa ở Queen Elizabeth thì cực kỳ nóng bức và nhiều ánh sáng, thường không ai xem động vật hoang dã vào thời điểm này. Vì vậy, vào một trong những ngày ở đó, có khoảng năm tiếng để giết thời gian, hướng dẫn viên thông báo rằng họ sẽ đi xem một hang động. Thay đổi tốc độ từ sư tử và voi sang trăn và dơi.

Barnes và nhóm của cô ấy đã đi bộ cùng số dặm qua Rừng Maramagambo và vào cùng một hang động, băng qua một tầng đá lớn bất thường được bao phủ bởi phân dơi, khiến việc di chuyển trở nên khó khăn. Cô ấy nhớ lại, trên tường có đầy những con nhện lớn, nhiều lông đang bò. Trần thấp và những con dơi đung đưa xuống dưới, cách đầu người từ hai đến ba feet. Một số con dơi bay vào bay ra, rít lên khi bay đi. Mùi hôi thối nồng nặc. Bạn phải trèo qua những tảng đá trơn trượt đó. Là một vận động viên leo núi, Barnes cho biết, cô ấy có xu hướng rất ý thức về nơi mình đặt tay. Không, cô ấy không hề chạm vào chỗ phân dơi nào. Không, cô ấy cũng không bị con dơi nào đâm vào. Nhóm của cô tiến vào một đoạn đường ngắn và thấy mình đang ở trên một loại gác lửng, nhìn ra một tầng thấp hơn, với những con dơi ở ngay phía trên đầu và hai con trăn ở bên dưới. Một số khách du lịch khác nhanh chóng rời đi.

Cô và Rick nán lại, cố gắng ngắm kỹ khung cảnh. “Đến khi nào chúng ta mới thấy lại trăn và dơi trong hang động?” cô ấy nói với tôi, rồi tự trả lời với nhận thức sâu sắc: “Tôi có thể đảm bảo với anh, không bao giờ.”

Sau 20 phút, họ thấy đã ngắm đủ. Và chỉ có thế: không tai nạn, không có gì kịch tính. “Tôi chắc chắn không chạm vào dơi hay cố ý chạm vào phân dơi.” Họ đi bộ trở lại phương tiện của mình, nơi hướng dẫn viên tổ chức bữa trưa dã ngoại. Trước khi ăn, Barnes đã sử dụng một ít nước rửa tay mà cô ấy đã mang theo trong những lúc như vậy. Đến chiều muộn, họ trở lại vườn quốc gia Queen Elizabeth, đúng thời điểm hoàng hôn để ngắm các con vật thú vị thường gặp hơn của thế giới hoang dã châu Phi. Đó là buổi tối Giáng sinh năm 2007.

Họ về đến nhà vào Ngày đầu năm mới. Michelle lại nhanh chóng rời đi để tới thăm bố mẹ sống tại Iowa sau kỳ nghỉ lễ. Vì vậy, cô ấy đã ở thành phố Sioux, vào ngày 4 tháng 1, khi cô thức dậy với cảm giác như bị ai đó châm kim vào hộp sọ của mình.

Cô ấy đau nhức khắp người, phát sốt, và đau đầu dữ dội. Nghi ngờ có thể bị côn trùng đốt, cô đã nhờ bố mẹ kiểm tra da đầu. “Tất nhiên, không có gì trên đầu cả. Và sau đó, ngày tháng trôi qua, tôi bắt đầu phát ban khắp bụng.” Các nốt phát ban dần lan rộng. Bên cạnh những cơn đau nhức, mệt mỏi, mẩn ngứa, cô bắt đầu cảm thấy khó chịu. “Trong 48 giờ tiếp theo, tôi đi xuống rất nhanh.” Cô ấy vẫn trong thời gian thuốc dự phòng sốt rét còn hiệu lực từ chuyến đi, và bây giờ, cô uống thêm một số Cipro và ibuprofen. Không thuyên giảm. Nhưng cô ấy đã cố gắng kết thúc chuyến thăm, bay trở lại Colorado và dừng lại ở một Trung tâm Chăm sóc Khẩn cấp gần nhà cô ở Golden, nơi họ chẳng mấy khi gặp bệnh nhân mắc virus Marburg. Bác sĩ ở đó đã lấy máu xét nghiệm, cho cô uống thuốc giảm đau rồi cho cô về nhà. Mẫu máu đã bị thất lạc.

Sau cuộc tư vấn không có kết quả đó, cộng với hai lần gặp bác sĩ riêng của cô trong hai ngày sau, Michelle Barnes đã đến một bệnh viện ở ngoại ô Denver. Cô ấy bị mất nước; không thể đếm được số bạch cầu; thận và gan bắt đầu ngừng hoạt động. Sau khi được nhập viện, cô đã gặp nhiều bác sĩ và hàng loạt câu hỏi. Những câu hỏi đầu tiên là: Cô đã làm gì trong bốn ngày qua? Hầu hết mọi người đều tìm kiếm sự giúp đỡ trước khi tình trạng suy đa tạng xảy ra. Tôi đã cố gắng hết sức, Barnes trả lời. Trong những người chị em xa của cô có một người là bác sĩ ở Alaska, cũng có mặt tại bệnh viện – điều này khiến Michelle hài lòng, nhưng cũng đáng báo động. Rõ ràng, họ đã được chuẩn bị tinh thần rằng tình trạng của cô ấy có thể sẽ tệ đi. Cô chị làm bác sĩ, Melissa, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc giục các bác sĩ của Michelle cung cấp thông tin và hành động. Đó là khi một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm, Tiến sĩ Norman K. Fujita, tham gia vào nhóm. Fujita đã sắp xếp để Michelle đi xét nghiệm xoắn khuẩn, sốt rét, sán máng và các bệnh nhiễm trùng khác có thể mắc phải ở châu Phi, chẳng hạn như Ebola và Marburg. Tất cả kết quả đều âm tính, bao gồm cả xét nghiệm cho Marburg.

Không ai biết cô ấy bị bệnh gì. Nhưng họ có thể thấy tình trạng của cô ấy đang xấu đi. Các bác sĩ của bệnh viện đã cố gắng làm cô ấy ổn định lại bằng cách truyền nước, sử dụng kháng sinh và oxy, cố gắng xoa dịu nỗi đau của cô ấy bằng thuốc giảm đau, đồng thời hy vọng cơ thể cô ấy sẽ vượt qua những cuộc tấn công dữ dội, bất kể đó là gì, và sau đó hồi phục lại. Cuộc khủng hoảng xảy ra vào đêm 10 hoặc 11 tháng một, theo ký ức mờ mịt của Michelle, khi một người chị khác ngồi với cô cả đêm và tỏ ra lo lắng rằng Michelle sắp trả phòng. Một điều tò mò về đêm đó, Barnes nhớ lại, đó là cô đã được đưa vào khoa nhi. Không còn chỗ trong ICU. “Vì vậy, vì lý do nào đó, họ chuyển tôi sang khoa nhi. Tôi biết vì ai đó đã đến cạnh và tặng tôi một con gấu bông.” Không giống như Astrid Joosten ở Leiden, không giống như Kelly Warfield tại USAMRIID, Michelle Barnes chưa bao giờ bị đưa vào một phòng cách ly. Đôi khi những người chăm sóc cô đeo khẩu trang để đề phòng và bình thường thì họ không đeo.

Dần dần, cơ thể của cô đã lấy lại được sức mạnh và các cơ quan bắt đầu hồi phục (tất cả ngoại trừ túi mật đã được phẫu thuật cắt bỏ). Con gấu bông có thể giúp ích nhiều hơn cả thuốc kháng sinh.

Sau mười hai ngày, cô xuất viện, vẫn còn yếu và thiếu máu, vẫn chưa được chẩn đoán là bệnh gì. Vào tháng 3, cô gặp Norman Fujita trong một lần tái khám và anh đã xét nghiệm huyết thanh của cô một lần nữa để tìm Marburg. Một lần nữa, kết quả âm tính. Ba tháng nữa trôi qua và Michelle bây giờ tóc đã chuyển bạc, không còn sinh lực như xưa, thường bị đau bụng, không thể tập trung, nhận được email từ một người bạn quen biết — một nhà báo mà cô và Rick đã gặp trong chuyến đi Uganda — người vừa đọc được bài báo về điều mà anh ấy nghĩ Michelle nên biết. Ở Hà Lan, một người phụ nữ đã tử vong vì Marburg sau một kỳ nghỉ ở Uganda mà cô đã đến thăm một hang động đầy dơi.

Barnes đã dành 24 giờ tiếp theo để tìm kiếm mọi bài báo về ca bệnh này. Thật tình cờ, trong thế giới nhỏ, cô ấy cũng đã từng sống ở Hà Lan trong ba năm thuộc những năm 1990, vì vậy cô có thể đọc được bài báo bằng tiếng Hà Lan cũng như bằng tiếng Anh. Sáng sớm thứ Hai tuần sau, cô ấy đến gặp bác sĩ Fujita. “Tôi là trường hợp khẩn cấp, tôi cần nói chuyện với bác sĩ,” cô nói. Fujita chào đón cô ấy và lắng nghe thông tin mới. Ngoài phong thái lịch sự của anh ta, cô cảm thấy, anh ta hẳn đang đảo mắt và suy nghĩ, Tuyệt vời, một người khác đã tự chẩn đoán bệnh của mình từ Internet. Nhưng anh đã đồng ý để cô xét nghiệm lần thứ ba tìm Marburg. Mẫu đó đã được chuyển đến CDC, như những mẫu trước đó, và một lần nữa cho kết quả âm tính; nhưng lần này, một kỹ thuật viên phòng xét nghiệm, biết rằng bệnh nhân đã đến thăm một hang động có dơi nhiễm virus Marburg sinh sống, đã kiểm tra chéo mẫu thứ ba, và sau đó là mẫu đầu tiên, sử dụng một xét nghiệm nhạy và đặc hiệu hơn. Boing.

Kết quả mới đến với Fujita, người đã gọi cho Barnes với lời chúc mừng đầy châm biếm: “Giờ đây, cô đã là một bác sĩ truyền nhiễm danh dự. Cô đã tự chẩn đoán cho mình, và xét nghiệm Marburg đã cho kết quả dương tính.”

Nguyên tác: Spillover: Animal Infections and the Next Human Pandemic - Dịch giả: Kiên Lưu, Hiền Nguyễn
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.