68
Sự xuất hiện đầu tiên của một bệnh lây truyền từ động vật sang người mới thường gây hoang mang cùng lo sợ, và Nipah cũng không phải ngoại lệ. Vào tháng 9 năm 1998, một số người bắt đầu mắc bệnh ở một quận phía bắc thuộc bán đảo Malaysia, gần thành phố Ipoh. Họ có các triệu chứng gồm sốt, nhức đầu, lơ mơ và co giật. Nạn nhân là những người chăn nuôi lợn hoặc có liên quan đến quá trình chế biến lợn bằng cách nào đó. Một bệnh nhân là người bán thịt lợn, đã tử vong vì viêm não. Vào tháng 12, sau khi vụ dịch ở phía bắc dường như đang giảm dần, một nhóm ca bệnh mới đã xuất hiện ở phía tây nam thủ đô Kuala Lumpur, trong một trang trại lợn của bang Negri Sembilan. Vào cuối năm đó, mười công nhân đã ngã bệnh, hôn mê và tử vong. Chính phủ đã phản ứng nhanh chóng nhưng chưa có hiểu biết đầy đủ về bệnh này. Ban đầu, tất cả chỉ là về muỗi và lợn.Muỗi được coi là vector truyền bệnh; lợn được coi là ổ chứa. Nhưng vector và ổ chứa của cái gì? Người ta cho rằng đó là virus viêm não Nhật Bản.
Viêm não Nhật Bản (VNNB) là một căn bệnh lưu hành ở Malaysia và phần lớn các nước Đông Nam Á, mỗi năm có tới 30 nghìn người mắc bệnh trong khu vực (hầu hết là không tử vong). Virus VNNB cùng họ với virus Tây sông Nile, sốt xuất huyết và sốt vàng. Muỗi là vector trung gian truyền virus từ các ổ chứa là lợn nhà và chim hoang dã. Kháng thể tìm thấy ở một số công nhân Malaysia làm việc tại trang trại lợn mắc bệnh dường như khẳng định trách nhiệm của virus VNNB đối với vụ dịch năm 1998, vì vậy, căn bệnh này trở thành mối quan tâm của công chúng và hành động của chính phủ. Giới chức y tế bắt đầu cân nhắc xem có bao nhiêu người – hay bao nhiêu con lợn – cần được tiêm vắc-xin phòng bệnh.
Vào đầu tháng một, tờ báo tiếng Anh hàng đầu của Malaysia, New Straits Times, đăng tải một câu chuyện với tiêu đề: CÔ GÁI QUA ĐỜI VÌ BỆNH VIÊM NÃO – NGƯỜI THỨ TƯ TỬ VONG Ở NEGRI. Cô gái trong câu chuyện mới mười ba tuổi và được giấu tên, cô đã giúp gia đình trong việc kinh doanh lợn. Bên dưới mẩu tin về cô là một đoạn ngắn đưa tin rằng Bộ trưởng Y tế Malaysia đã ra quyết định thực hiện chiến dịch phun thuốc diệt muỗi. Diệt muỗi, loại bỏ vật trung gian truyền bệnh, ngăn chặn sự lây truyền bệnh VNNB, đây có phải là chiến lược đúng không? Đúng nhưng cũng không đúng. Một ngày sau, trên cùng một tờ báo: MỘT BÉ GÁI Ở IPOH TỬ VONG NGHI NHIỄM VIÊM NÃO NHẬT BẢN. Điều này đã đưa số người tử vong giữa Negri Sembilan ở phía nam và Ipoh ở phía bắc lên con số mười ba. Đứa trẻ này chỉ mới chập chững biết đi. Bé gái qua đời tại nhà, cách trang trại lợn gần nhất nửa dặm. Tác giả còn viết thêm: “Lợn là vật chủ phổ biến của virus VNNB.” Vậy còn vật chủ nào khác không?
Có lẽ là có. Trong khi các phương tiện truyền thông đưa tin về bệnh VNNB và chính phủ đã thực hiện các biện pháp kiểm soát nó, các nhà khoa học tại Khoa Vi sinh Y học trường Đại học Malaya (không phải “Malaysia”, vì nó vẫn giữ nguyên tên cổ), ở Kuala Lumpur, ngày càng hoài nghi. Họ hiểu rõ bệnh VNNB như bất kì ai, và một số khía cạnh của những gì đang xảy ra bây giờ dường như không phù hợp với mô hình bệnh tật của bệnh này. Ngoài hai bé gái được đưa tin trên báo, hầu hết các nạn nhân khác gần đây đều là nam giới trưởng thành, những người đàn ông có liên quan đến việc chăn nuôi, vận chuyển hoặc giết mổ lợn. Trên thực tế, hầu hết trong số họ không chỉ là nam giới trưởng thành mà còn là người gốc Hoa, một nhóm chiếm lĩnh thị trường kinh doanh lợn tại Malaysia. Mặt khác, trước đây bệnh VNNB được biết đến là chủ yếu ảnh hưởng tới trẻ em. Giáo sư Sai Kit Lam (tên tiếng Anh thường gọi là “Ken” Lam), lúc đó là trưởng khoa Vi sinh Y học của trường, đã tuyên bố công khai rằng, vụ dịch này đã khiến quá nhiều người lớn tử vong so với mô hình bệnh VNNB bình thường. Tỷ lệ tử vong của vụ dịch hiện tại cũng có vẻ cao một cách kỳ lạ. Nó đạt tới mức hơn 54%. Có thể đây là một chủng virus VNNB mới mạnh hơn bình thường, hung hãn hơn với người lớn, ít lây lan rộng trong cộng đồng qua vector côn trùng.
Hoặc nó hoàn toàn là một loại virus khác, với một phương thức lây truyền khác. Vector truyền virus này cũng không phải là muỗi.
Liệu có loại muỗi nào chỉ chọn đốt những người đàn ông nuôi lợn ở Trung Quốc không?
Trong khi đó, những con lợn ở Malaysia cũng bị bệnh, một dịch bệnh riêng chưa rõ là gì. Một lần nữa, bệnh VNNB thông thường không giải thích được điều này, vì lợn thường chịu đựng được bệnh đó mà không có dấu hiệu lâm sàng như vậy. Chúng có thể là ổ chứa hoặc vật chủ khuếch tán virus VNNB, trong đó tình trạng nhiễm virus phổ biến ở lợn có thể làm tăng tỷ lệ lưu hành của virus ở muỗi, sau đó muỗi có thể đốt người. Lợn nái mang thai bị nhiễm VNNB cũng có thể bị sảy thai hoặc đẻ non; nhưng không gặp phải các triệu chứng như đang xuất hiện tại Malaysia. Và có những vấn đề khác với giả thuyết về bệnh VNNB. Trong khi căn bệnh mới trên những công nhân chăn nuôi lợn là bệnh thần kinh, gây viêm não và các vấn đề khác lên hệ thần kinh, thì bệnh ở lợn tác động lên cả hệ thần kinh và hệ hô hấp. Nó dường như rất dễ lây từ lợn này sang lợn khác, rõ ràng là di chuyển qua đường không khí. Hết con này đến con khác, trước là ở những khu vực rộng lớn của vùng Ipoh, sau xuống đến Negri Sembilan, các con lợn bắt đầu ho, rùng mình, sủa, thở khò khè khó chịu, chân bị khụy xuống, và một số con đã chết.
Tuy nhiên, tỷ lệ chết ở lợn thấp hơn nhiều so với người. Ban đầu, các triệu chứng ở lợn gợi ý đến bệnh sốt lợn cổ điển, một bệnh do virus gây ra và còn được gọi là dịch tả lợn. Nhưng suy đoán đó sớm bị bác bỏ. Bệnh dịch tả lợn không lây truyền từ động vật sang người, không thể giải thích cho căn bệnh ở người. Sau đó, mọi người đoán liệu có thể là chủng mới của bệnh VNNB không? Vụ dịch lây lan từ trang trại lợn này sang trang trại lợn khác gần như là điệp khúc cuộn trào từ tiếng ho của lợn – mọi người có thể nghe thấy nó đang đến và chờ đợi trong sự sợ hãi. “Nó được gọi là tiếng ho một dặm,” theo cách gọi của một chuyên gia từ Úc, “bởi vì bạn có thể nghe thấy tiếng ho đó dù cách xa một dặm. Mọi người sẽ biết dịch bệnh đã đến khu vực của họ.” Nó lan truyền qua cái hắt hơi của một con lợn. Nó cũng được lan xa nhờ xe tải, khi động vật được chuyển từ trang trại này sang trang trại khác. Và vào đầu năm 1999, nó đã đi xuyên biên giới, khi lợn Malaysia được xuất khẩu sang Singapore và dịch bệnh đã tấn công những công nhân lò mổ ở đó. Mười một người Singapore đã mắc bệnh. Tại các cơ sở y tế được trang bị hiện đại của thành phố, chỉ có một người bệnh tử vong.
Vẫn không ai biết thứ này là gì. Hầu hết các chẩn đoán ban đầu trong phòng thí nghiệm ở Malaysia đã được Bộ Y tế thực hiện hoặc đối với các mẫu từ lợn là do Viện nghiên cứu thú y quốc gia ở Ipoh tiến hành thí nghiệm. Các nhà khoa học tại Đại học Malaya, đặc biệt là tại Khoa Vi sinh Y học của Ken Lam, đã theo dõi cuộc khủng hoảng một cách chặt chẽ nhưng lặng lẽ. Paul Chua là trưởng khoa virus học lâm sàng. Công việc của ông liên quan đến các phương pháp phòng thí nghiệm ướt, chẳng hạn như nuôi cấy virus và kính hiển vi. Sazaly AbuBakar là nhà virus học phân tử, nghĩa là ông ấy nghiên cứu các bộ gen của virus như Eddie Holmes: trong đoạn mã khô khan, ACCAAACAAGGG, ông xem xét từng ký tự một. Trong một thời gian, cả Chua và AbuBakar đều không thể làm gì hơn ngoài việc đọc các bài báo, thảo luận với đồng nghiệp và suy đoán, vì họ không có mẫu máu, mô hoặc dịch não tủy, bằng chứng thô cho chẩn đoán trong phòng thí nghiệm.
Và rồi đột nhiên, họ đã có mẫu để làm thí nghiệm. Khi dịch tiếp tục bùng phát ở Negri Sembilan, không xa thủ đô, các bệnh nhân bắt đầu đến Trung tâm Y tế của Đại học Malaya. Những bệnh nhân này đã được điều trị, một số đã tử vong, và Paul Chua được nhận mẫu của ba trong số các thi thể. Một trong những nạn nhân đó là một người nông dân 51 tuổi nuôi lợn tại ngôi làng tên là Sungai Nipah. Người đàn ông này đến bệnh viện trong tình trạng sốt, mất ý thức, với cánh tay trái co giật. Sáu ngày sau, ông ấy qua đời.
Chua và kỹ thuật viên thân tín của ông đã phân lập virus từ mẫu của người đàn ông ở Sungai Nipah, nuôi cấy nó trong một dòng tế bào được thuần hóa trong phòng thí nghiệm có nguồn gốc từ thận của khỉ châu Phi. Ngay lập tức, virus trong môi trường nuôi cấy bắt đầu gây thiệt hại cho tế bào.
Thiệt hại này không giống do bệnh VNNB gây ra. Các tế bào riêng lẻ được mở rộng, kết hợp với các tế bào khác thành bong bóng màng lớn có nhiều nhân. Chua gọi đồng nghiệp của mình là AbuBakar đến xem xét.
“Thật sự không bình thường,” AbuBakar nói, nhớ lại hình ảnh của những tế bào đó, khi tôi ghé qua văn phòng của anh ấy ở Kuala Lumpur. Tôi đã gặp anh ấy tại một hội nghị ở Nipah và anh ấy muốn trò chuyện thêm. Tại thời điểm đó, Paul Chua đã nghỉ việc ở Bộ Y tế, nhưng AbuBakar (các sinh viên gọi ông là Giáo sư Sazaly) hiện đang là Cục trưởng Cục Vi sinh Y học. “Tất cả chúng tôi đều kết luận rằng đó là một điều bất thường sau khi nhìn thấy những gì xảy ra trong quá trình nuôi cấy tế bào.”
Giáo sư Sazaly nói với tôi, bước tiếp theo cần làm là xem xét loại virus này dưới kính hiển vi điện tử chất lượng cao. Mặc dù việc nuôi cấy tế bào cho thấy hoạt động tập thể của virus, có thể nhìn thấy bằng mắt thường khi xem xét các tế bào bị tàn phá, nhưng cần có kính hiển vi điện tử để hiển thị từng virion. “Nhưng thật không may, vào thời điểm đó, chúng tôi không có kính hiển vi điện tử chất lượng cao ở trong nước.” Kính hiển vi ở trường đại học đã cũ và mờ. Malaysia là một con hổ châu Á với nhiều nhà khoa học giỏi và có tri thức, nhưng vẫn thiếu một số nguồn lực công nghệ nhất định.
Vì vậy, trưởng khoa Ken Lam đã liên lạc với những người bạn cũ ở Hoa Kỳ, sắp xếp để Paul Chua đến thăm họ. Ông Chua đã nhét một số mẫu đông lạnh vào một chiếc túi và lên máy bay đi Mỹ. Nhiều giờ sau, ông ấy đến Fort Collins, Colorado. Tại trung tâm vệ tinh của CDC, nơi có Phòng nghiên cứu bệnh do vector truyền, ông và các nhà khoa học của CDC đã kiểm tra các mẫu từ người đàn ông ở Sungai Nipah dưới một kính hiển vi điện tử hiện đại. Những gì họ nhìn thấy không phải là virus VNNB. Nó trông giống như bóng của virus paramyxovirus, chứa các sợi dài với cấu trúc xương cá. Có phải đây là virus sởi Malaysia không? Hay là virus quai bị giết lợn? Dựa trên nhận dạng tương đối đó, Chua được đưa đến trụ sở của CDC ở Atlanta, nơi ông được gặp các nhà nghiên cứu virus paramyxovirus. Họ đã sử dụng các mẫu của ông ấy để làm nhiều phân tích khác nhau, xét nghiệm phản ứng kháng thể và nhận được kết quả dương tính tạm thời với kháng thể Hendra. Tuy nhiên, sau khi giải trình tự một phần của bộ gen virus, họ phát hiện ra rằng, đây là một virus hoàn toàn mới: không phải Hendra, một loại tương tự nhưng khác biệt. Paul Chua và các đồng nghiệp đặt tên cho nó là virus Nipah, theo tên ngôi làng nhỏ của người nông dân 51 tuổi. Căn bệnh này về sau được gọi là bệnh viêm não do virus Nipah.