Trong khi bà Otway đang suy ngẫm về vấn đề giờ đây có phần rắc rối đối với người giúp việc già tốt bụng Anna của mình, thì chính nhân vật trong những suy nghĩ ấy — tức là bản thân Anna — đang đứng sau tấm rèm muslin xinh xắn che khuất gian bếp khỏi tầm mắt người qua đường, lo lắng nhìn ra thảm cỏ xanh mướt như sân cỏ ở hai bên viền bởi những hàng cây du cao lớn, một cảnh sắc vốn là điểm thú vị dễ chịu của Witanbury Close.
Tay bà vẫn cầm đan, bởi những ngón tay của Anna chưa bao giờ ngơi nghỉ, nhưng lúc này chiếc kim đan đang nằm im.
Khi căn bếp của bạn tình cờ lại là một trong những căn phòng đẹp nhất ở tầng trệt, không chỉ bao quát được cổng ra vào mà còn cả con đường bên ngoài, thì việc nó không được giống như những căn bếp của người khác trở nên rất quan trọng. Đó là niềm tự hào của cả bà Otway lẫn Anna, rằng vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày, một vị khách nếu bước vào sảnh và mở nhầm cửa bếp, sẽ thấy mọi thứ ở đó ngăn nắp đến tuyệt vời. Quả thực, những chiếc kệ rất đáng công chiêm ngưỡng, bởi mép của mỗi chiếc kệ đều được viền một dải “Kante” hoặc ren móc tinh xảo gần như ren chỉ nổi. Thực tế, căn bếp của nhà Trellis House trông giống một căn bếp trên sân khấu hơn là căn bếp trong một ngôi nhà bình thường, và cách nó được giữ gìn càng đáng khen ngợi hơn khi mà Anna, ngay cả bây giờ, khi đã là một bà lão, vẫn nhất quyết không chịu nhận thứ ở Anh gọi là “người giúp việc”. Bà không hề muốn thấy một người dọn dẹp thuê trong bếp của mình. May mắn cho bà là ngay sát và phía sau nhà bếp có một phòng rửa bát rộng rãi, nơi phần lớn công việc bẩn thỉu và có thể gọi là nặng mùi liên quan đến việc nấu nướng được thực hiện.
Nằm bên trái căn phòng rửa bát trần thấp, rộng rãi và có phần tối tăm chính là phòng ngủ riêng của Anna. Cả phòng rửa bát lẫn phòng của người giúp việc đều cổ kính hơn phần còn lại của ngôi nhà, bởi vì phần kiến trúc gạch nâu và đỏ có đầu hồi đẹp như tranh vẽ nhô ra khu vườn phía sau Trellis House vốn thuộc về thời đại Tudor, vào những thời kỳ hào hùng khi ngôi nhà thờ lớn ngay bên kia bãi cỏ hãy còn là niềm tự hào và niềm vui mới mẻ của người dân lành Witanbury.
Khi Anna đứng ở một trong những khung cửa sổ nhà bếp, nhìn ra khung cảnh yên bình bên ngoài nhưng không vạch tấm rèm sang một bên — vì bà biết điều đó bị cấm đối với mình, và Anna rất hiếm khi chủ ý làm bất cứ điều gì mà bà biết là bị cấm — bà cảm thấy bất hạnh và bồn chồn hơn rất nhiều so với chính bà Otway.
Tin tức sáng nay đã làm xáo trộn tâm can tội nghiệp của bà già Anna — làm bà chấn động sâu sắc hơn cả những gì người chủ nhân tốt bụng của bà đoán trước. Bà Otway hẳn sẽ ngạc nhiên biết bao nếu được tiết lộ rằng kể từ bữa sáng đến nay, Anna đã dành rất nhiều thời gian lo lắng suy nghĩ về tương lai trước mắt của chính mình, băn khoăn với nỗi hoang mang đau đớn không biết liệu có phải làn bổn phận của mình hay không khi quay trở lại nước Đức. Nhưng trong khi bà Otway có lợi thế vô giá là hoàn toàn chắc chắn về những gì tốt nhất cho Anna, thì bản thân người đàn bà già người Đức lại bị dằn vặt đến đau đớn giữa những gì phải đối với bà chủ, với cô con gái đã có gia đình, và vâng, với chính bản thân mình.
Bà Otway hẳn sẽ vô cùng kinh ngạc làm sao vào sáng nay nếu biết rằng hơn một tháng trước, Anna đã nhận được lời cảnh báo từ Berlin. Nhưng sự thật là vậy: cháu gái của bà đã viết thư cho bà rằng: “Người ta tin rằng mùa hè năm nay sẽ có chiến tranh. Willi đã được cảnh báo rằng sắp có chuyện xảy ra.”
Và giờ đây, khi Anna đứng đó lo lắng nhìn bóng dáng bà chủ đang đi dạo dọc theo đại lộ cây du cao vút bên kia bãi cỏ, bà không mảy may nghĩ đến vai trò của nước Anh trong cuộc xung đột, bởi toàn bộ tâm can bà đã bị cuốn vào nỗi kinh hoàng khi biết rằng nước Đức đang có chiến tranh với nước Nga tàn bạo, dã man và nước Pháp giàu có, bội bạc.
Nước Anh, như Anna vẫn đinh ninh tin tưởng, chẳng có lấy một quân đội ra hồn — không có quân đội thực sự. Bà nhớ lại ngày nước Pháp tuyên chiến với nước Đức vào năm 1870. Khi ấy, mọi con phố của thị trấn nhỏ nơi bà từng sống ngay lập tức tràn ngập binh lính — những người lính hào hoa, dũng cảm tuyệt vời lên đường chiến đấu vì Tổ quốc thân yêu. Chẳng có điều gì tương tự diễn ra ở đây, dù Witanbury là một thị trấn đồn trú. Những thương nhân quen thuộc, những thanh niên trai tráng khỏe mạnh, vẫn đến nhận đơn hàng vào sáng nay. Họ cười đùa vui vẻ như mọi khi. Chẳng một ai trong số họ tỏ ra ý thức được rằng đất nước mình đang có chiến tranh. Môi bà cụ người Đức cong cớn vẻ khinh miệt.
Đối với người Anh nói chung, Anna Bauer dành một sự ân cần khoan dung và niềm khinh bỉ nhẹ nhàng. Sự thật là, dẫu bản thân không hề hay biết, bà cũng đặt niềm tin rất lớn vào sự hào phóng và công lý của người Anh. Ý nghĩ cho rằng cuộc chiến này, hay đúng hơn là việc nước Anh cùng với Pháp tham chiến chống lại nước Đức, có thể ảnh hưởng đến vị trí hoặc hoàn cảnh của chính bà ở nước Anh đối với bà thật là ngớ ngẩn.
Nước Đức và nước Anh? Thật là một sự tương phản rõ rệt! Ở Đức, đứa con rể vô tích sự George Pollit lúc này chắc chắn đang trên đường hành quân đến biên giới Pháp hoặc Nga. Nhưng George, vì là người Anh, nên hoàn toàn an toàn — thật không may. Điểm khác biệt duy nhất mà chiến tranh mang lại cho hắn ta là nó sẽ cung cấp cho hắn một cái cớ để tìm cách moi móc những khoản tiền tiết kiệm được chắt chiu kỹ lưỡng của Anna.
Nếu bà già Anna tốt bụng có một khuyết điểm — và thật kỳ lạ là bà chủ của bà hoàn toàn không hề hay biết, dù Rose đôi khi cũng có những linh cảm bất an — thì đó chính là thói keo kiệt.
Anna, bất chấp mức lương thấp bẽ bàng, đã tiết kiệm được nhiều hơn hẳn so với một người hầu người Anh kiếm được gấp đôi. Lương thấp ư? Vâng, vẫn thấp, dù bà đã được tăng bốn bảng một năm khi bà chủ của bà có được khoản thu nhập khá hơn trước. Trước đó, Anna đã hài lòng với mức mười sáu bảng một năm. Hiện tại bà nhận được hai mươi bảng, nhưng bà đầy tiếc nuối khi nhận ra rằng sức lao động của mình đáng giá hơn thế gấp rưỡi. Trên thực tế, mức lương ba mươi bảng một năm đã thực sự được ngỏ ý với bà, qua một người trung gian, bởi một quý cô đến thăm một ngôi nhà ở Close. Nhưng vị quý cô ấy, giống như bản thân Anna, là người Đức; và ngoài mọi cân nhắc khác, bao gồm cả tình yêu nồng cháy của Anna dành cho tiểu thư Rose, không gì có thể khiến bà nhận việc với một người chủ cùng quốc tịch.
“Bà Hirsch này muốn ta tiết kiệm tiền cho bà ta. Ta biết loại người như bà ta,” bà nhận xét với sứ giả được phái đến để dò la ý tứ. “Anh có thể nói rằng Anna Bauer có một người chủ tốt, và biết rõ khi nào bản thân đang có được chỗ làm vừa ý.”
Bà không hề hé răng nửa lời về chuyện đó với bà Otway, nhưng dẫu vậy, đôi khi bà vẫn nghĩ đến lời đề nghị ấy, và bà thường cảm thấy chạnh lòng mỗi khi nghĩ về mức lương mà một số người hầu thong thả trong những hộ gia đình lớn hơn ở Close nhận được từ các ông chủ bà chủ của họ.
Tuy nhiên, trong vấn đề tiền bạc cực kỳ quan trọng này, một vận may kỳ lạ đã đến với Anna — một trong những điều hiếm khi xảy ra trong thế giới tất bật của chúng ta. Nó đã xảy ra, hoặc có lẽ nói chính xác hơn là đã bắt đầu — bởi vì không giống như hầu hết những may mắn khác, nó diễn ra liên tục — đúng ba năm trước, vào mùa thu năm 1911, chẳng bao lâu sau khi bà trở về từ chuyến nghỉ mát tuyệt vời ở Berlin. Vận may bí mật này, vì bà giấu giếm nó rất kỹ dẫu chẳng có gì gọi là tai tiếng hay mất mặt, nay đã kéo dài hơn ba mươi tháng, và nó mang lại hiệu quả dễ chịu là làm gia tăng đáng kể khả năng tích lũy của bà. Tích lũy để chuẩn bị cho ngày bà trở về Đức và sống cùng cháu gái.
Bà Otway hẳn sẽ vô cùng kinh ngạc nếu biết rằng Anna không chỉ có ý định rời khỏi Trellis House, mà sâu thẳm trong lòng, với một thái độ điềm tĩnh và chiêm nghiệm, bà thực sự mong chờ điều đó. Tiểu thư Rose rồi chắc chắn sẽ kết hôn, bởi vì có rất nhiều quý ô lịch thiệp ra vào Trellis House (dù không ai trong số họ giàu có như Anna mong muốn), và bản thân bà thì rồi sẽ già yếu đi không còn làm việc nổi. Khi điều đó xảy ra, bà sẽ đến sống với cháu gái ở Berlin. Bà chưa hề nói với con gái về sự sắp đặt này, và Willi cùng cháu gái nhắc đến chuyện đó như một trò đùa nhiều hơn là gì khác; dẫu vậy, Anna thường xoay sở để thực hiện cho bằng được những gì bà đã định đoạt.
Nhưng vào buổi sáng tháng Tám này, khi đang đứng bên cửa sổ nhà bếp của Trellis House, tương lai hoàn toàn không có trong tâm trí của bà già Anna. Tâm trí bà lúc này bận tâm với hiện tại. Thật phiền phức làm sao, thật ngớ ngẩn làm sao khi nước Anh lại nhúng tay vào một cuộc tranh chấp không liên quan gì đến mình! Thật kỳ lạ làm sao khi bà, Anna Bauer, bất chấp lời cảnh báo từ Berlin, lại chẳng hề mảy may nghi ngờ gì!
Thực tế là bà Otway đã nói với bà điều gì đó về Serbia và Áo — một điều gì đó, cũng mang sắc thái đau buồn nhiều hơn là tức giận, về việc nước Đức đang “khua gươm múa giáo”. Nhưng bà, Anna, chỉ nghe lọt tai có một nửa. Chính trị vốn không phải là chuyện của đàn bà phụ nữ. Nhưng thôi nào! Phụ nữ Anh vốn là thế đấy.
Đã bao nhiêu lần Anna cười lớn trước những trò hề của phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ. Khoảng một tháng trước, cậu bé đưa thịt đã kể cho bà nghe một tràng dài về một cuộc bạo loạn — chỉ là một cuộc bạo loạn rất nhỏ — do một mụ điên đòi quyền bầu cử gây ra ngay tại khu chợ của Witanbury. Ở một nước Đức nam tính và khôn ngoan, họ hàng của người phụ nữ đó (vì thật kỳ lạ, kẻ đòi quyền bầu cử nói trên lại là một tiểu thư danh giá) sẽ tống mụ ta vào đúng nơi dành cho mình, một nhà thương điên.
Anna đã vô cùng bị sốc và đau khổ khi biết rằng đứa trẻ yêu quý do một tay bà nuôi nấng, tiểu thư Rose, lại thầm đồng tình với cái mong muốn điên rồ đòi quyền bầu cử của bọn đàn bà này. Chà, ở Đức, ngay cả đàn ông cũng chỉ có một số người có quyền bầu cử, thế mà nước Đức vẫn là quốc gia vinh quang nhất, thịnh vượng nhất và đáng sợ nhất trên thế giới. “Nhà thờ, Bếp núc và Con cái” — đó phải là, và ở Tổ quốc vẫn luôn là, châm ngôn và thiên chức của mọi người phụ nữ chân chính.
Tâm trí Anna đột ngột quay trở lại với tin tức đáng kinh ngạc, gần như khó tin của buổi sáng hôm nay. Kể từ khi hai bà chủ ra ngoài, bà đã mở các tờ báo trên bàn bếp và tự mình đọc dòng chữ — “Nước Anh tuyên chiến với nước Đức”. Nhưng làm sao nước Anh lại có thể làm một việc như vậy, khi nước Anh chẳng có lấy một đội quân nào? Đúng là họ có tàu chiến — nhưng ngặt nỗi nước Đức bây giờ cũng có rồi!
Trong chuyến nghỉ mát hạnh phúc ở Berlin đó, Anna đã bị thuyết phục tham gia Liên đoàn Hải quân Đức. Bà vốn không định duy trì khoản đóng góp của mình, dù nó rất nhỏ, sau khi trở về Anh, nhưng thật trái ý muốn, bà phát hiện ra rằng một trong số ít người Đức bà quen ở Witanbury lại đại diện cho Liên đoàn, và tên của bà đã được gửi cho ông ta như một hội viên mới. Hai lần ông ta đã ghé qua cửa phụ chuyên giao hàng của Trellis House và đòi bà số tiền một shilling.
Hôm nay, Anna nhớ lại với sự thỏa mãn về những khoản tiền mà bà từng tiếc rẻ ấy. Nhờ lòng yêu nước của bà và hàng triệu người giống như bà, nước Đức giờ đây đã có một hạm đội huy hoàng để chống lại kẻ thù. Bà tự hỏi liệu hạm đội đó (mà bà đã góp phần chi trả) có đảm bảo việc chuyển phát thư từ và bưu phẩm được an toàn hay không. Chắc là có.
Với vẻ mặt nhẹ nhõm, bà cụ buông rèm xuống, quay trở lại chiếc bàn và công việc đan lát.
Bỗng nhiên, với một âm thanh vang lên đột ngột đến kỳ quái, chuông điện thoại reo vang ở sảnh.
Thuở nay Anna chưa bao giờ quen với chiếc điện thoại. Bà không hề phản đối việc lắp đặt nó trong Trellis House, vì đó là mong muốn của tiểu thư Rose, nhưng một khi nó đã được lắp xong, Anna lại vô cùng hối hận vì sự hiện diện của nó. Đó là phần việc duy nhất mà bà làm tệ hại, và bà thừa biết điều đó. Không những bà thấy cực kỳ khó khăn để hiểu được những gì người ta nói qua cái ống nghe gớm ghiếc ấy, mà bạn bè của bà chủ thậm chí còn gặp nhiều khó khăn hơn khi phải nghe giọng của Anna. Thỉnh thoảng — nhưng bà vô cùng xấu hổ về điều này — bà mặc kệ cho chuông điện thoại cứ thế reo vang mà hoàn toàn không thèm nhấc máy! Tuy nhiên, bà chỉ làm vậy khi hai bà chủ vắng mặt ở Witanbury, và do đó, những lời nhắn nhủ, dù có là gì đi nữa, cũng tuyệt đối không thể được chuyển tới.
Bà đứng chờ lúc này, hy vọng rằng cái máy sẽ thấy mỏi mệt rồi tự khắc ngừng reo. Nhưng không; nó cứ reo tít, tít, tít, tít — thế nên cuối cùng, với vẻ vô cùng miễn cưỡng, Anna đành mở cửa bếp bước ra sảnh.
Nhấc ống nghe lên, bà càu nhàu hỏi: “Ach! Gì thế? Vâng?” Và rồi khuôn mặt bà giãn ra, thậm chí bà còn mỉm cười vào ống nghe điện thoại.
Đến sự ngạc nhiên tột cùng của bà — nhưng những chuyện xảy ra hôm nay quá đỗi phi thường nên chẳng có lý do gì thực sự để bà phải ngạc nhiên trước bất cứ điều gì nữa — bà nghe thấy giọng nói của người Đức duy nhất ở Witanbury — mà thực ra ở Witanbury có khá nhiều người Đức — người mà bà có mối quan hệ thực sự thân thiện.
Đó là một người đàn ông lớn tuổi dễ mến tên là Fritz Fröhling, cũng giống như bà, đã sống ở Anh từ rất lâu — thực tế trong trường hợp của ông ta là gần bốn mươi năm chứ không phải hai mươi năm. Ông làm nghề thợ cạo và thợ làm tóc, công việc kinh doanh vô cùng phát đạt với các vị khách là sĩ quan trong quân đội đồn trú. Vợ chồng ông ta đã Anh hóa đến mức con trai họ gia nhập quân đội Anh, thăng tiến rất tốt và đã được phong chức trung đội trưởng. Ngay cả khi trò chuyện riêng với nhau, những lúc Anna sang chơi tối, gia đình Fröhling thường nói chuyện bằng tiếng Anh. Mặc dù vậy, Fröhling vẫn là một người Đức theo kiểu xưa tốt đẹp; nghĩa là ông chưa bao giờ nhập tịch. Nhưng ông là một người theo chủ nghĩa xã hội; ông không chia sẻ sự nhiệt thành của Anna dành cho hoàng đế, hoàng hậu và những người con trai vạm vỡ của họ.
Đây là lần đầu tiên ông gọi điện thoại cho bà.
“Có phải tôi đang nói chuyện với bà Bauer đó không?”
Và Anna, hơi xao xuyến trước cách gọi bất thường ấy, đáp: “Vâng, vâng — chính là tôi, thưa ông Fröhling.”
“Tôi muốn trò chuyện với bà một lát,” giọng nói thân thuộc cất lên. “Chiều nay tôi gặp bà được chứ?”
“Không phải chiều nay,” Anna đáp, “nhưng tối nay thì chắc là được. Để tôi xin phép bà chủ xem tối nay tôi có được rảnh rỗi không đã.”
“Có cần thiết phải xin phép bà ta không?” Câu hỏi được thốt lên với vẻ hoài nghi.
“Vâng, vâng chứ! Nhưng hãy yên tâm là bà ấy sẽ không từ chối đâu. Đối với tôi, bà ấy tốt như Phật sống — chưa bao giờ tốt bằng sáng nay,” Anna lớn tiếng đáp lại với vẻ trung thành.
“Bà thật may mắn đấy,” giọng nói bỗng trở nên khá gay gắt và khô khốc. “Tôi nhận ra là mình phải cuốn xéo rồi — tôi buộc phải chuồn thôi.”
“Không thể nào!” Anna phẫn nộ kêu lên. “Ai bảo ông điều đó vậy?”
“Cảnh sát.”
“Thật là một rắc rối lớn,” Anna rên rỉ. Bà bàng hoàng trước những gì người quen cũ kể lại. “Tôi sẽ nhờ bà Otway giúp ông,” bà lớn tiếng đáp qua ống nghe.
Ông lẩm bẩm vài từ rồi nói tiếp: “Trừ khi trước tám giờ bà liên lạc lại, Jane và tôi sẽ đợi bà tối nay đấy.”
“Chắc chắn rồi, thưa ông Fröhling.”