Nàng Anna Thuở Nào

Lượt đọc: 98 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

❊ ❊ ❊

“Có tin vui đây!” người chủ nhà của Anna thốt lên ngay khi cánh cửa khép lại sau lưng vợ mình. “Người Anh vừa đánh chìm một trong những chiếc tàu hơi nước nhỏ của chúng ta, nhưng chúng ta đã cho nổ tung tàu của chúng rồi—một chiến hạm rất lớn và quan trọng đấy, bà Bauer ạ!”

Khuôn mặt của bà già Anna tốt bụng rạng rỡ hẳn lên. Không phải là bà ghét nước Anh—thực ra, bà rất quý mến xứ sở này. Nhưng tự nhiên bà cảm thấy rằng trong trò chơi chiến tranh lớn lao này, phe Tổ quốc giành chiến thắng là điều hoàn toàn đúng đắn và công bằng. Bà không hề nghĩ rằng—và ông thừa biết là bà sẽ không bao giờ nghĩ—người đàn ông vừa lên tiếng ấy ít ra cũng mang danh nghĩa là một người Anh. Bà cũng như chính bản thân ông, coi tờ giấy chứng nhận nhập tịch chỉ đơn thuần là một thủ tục làm ăn. Nó chưa bao giờ tạo ra sự khác biệt nào đối với bất kỳ người Đức nào mà Anna từng biết ở nước Anh—thực tế, người Đức-Anh duy nhất mà bà quen biết là lão Fröhling, người chưa từng đi làm giấy chứng nhận nhập tịch. Fröhling thực sự rất tôn sờu nước Anh, và điều đó đôi khi khiến bà già Anna cảm thấy vô cùng sốt ruột. Đối với Fröhling, mọi thứ thuộc về nước Anh đều hoàn hảo, và ông ta đã rất vui mừng, thay vì đau buồn, khi con trai mình gia nhập quân đội Anh.

“Thế ư? Thế thì tốt quá!” bà thốt lên. “Rất tốt! Nhưng chúng ta không được tỏ ra quá vui mừng, phải không anh Hegner?”

Và ông lắc đầu. “Không, vui mừng quá mức sẽ là thiếu biết ơn,” ông nói, “với nước Anh tốt bụng!” Và ông nói không chút mỉa mai nào cả, ông thực sự có ý đó.

“Nghĩ đến bao nhiêu cái chết khiến tôi buồn lòng, dù họ là người Đức hay người Anh,” Anna tiếp lời với vẻ âu sờu. “Còn về người Nga hay người Pháp thì tự nhiên tôi không cảm thấy như vậy.”

“Ạch! Tôi mới đồng tình với bà làm sao,” ông cảm động nói. “Tội nghiệp những người Anh! Thật lòng tôi thương hại họ. Tôi hoàn toàn cùng một ý với bà, bà Bauer; mặc dù mọi tên Nga và phần lớn bọn Pháp biến quách đi được thì yên thân hơn, nhưng tôi không hề vui sướng khi nghĩ đến bất kỳ người Anh nào, dù cho họ có lề mề, phiền toái hay cứng đầu đến đâu, bị giết hại.”

Cả hai lẵng lặng ăn một lúc, rồi Manfred Hegner lại bắt đầu. “Nhưng sẽ có rất ít người Anh bị những đồng bào dũng cảm của chúng ta tiêu diệt. Bà sẽ chẳng phải rơi giọt nước mắt nào vì bất kỳ ai bà quen ở Witanbury đâu, bà Bauer. Người Anh vốn không phải là một dân tộc thích chiến đấu. Đa số thủy thủ của họ chắc chắn sẽ chết đuối, nhưng dẫu sao thì điều đó cũng chẳng có gì đáng tiếc nuối.”

“Thế mà người Anh đang cử một đội quân sang Bỉ đấy,” Anna trầm ngâm nhận xét.

“Điều gì khiến bà nghĩ vậy?” Ông dừng việc đang làm là cắt một khúc xúc xích lớn thành từng lát. “Bà biết điều đó từ một nguồn tin đáng tin cậy chứ, bà Bauer? Tin này có phải do vị quan khách trẻ tuổi làm việc ở Luân Đôn có dính líu đến Chính phủ nói cho bà hay không—ý tôi là kẻ đang tán tỉnh cô tiểu thư nhà chủ ấy?”

Anna cứng ngắc rụt người lại. “Sao mà người ta hay buôn chuyện trong cái thị trấn này thế không biết!” bà thốt lên, cau mày. “Tán tỉnh cô tiểu thư của tôi cơ đấy! Không đâu, ông Hegner, không phải cậu Hayley nói điều đó đâu. Cậu Hayley là một trong những kẻ nói rất nhiều nhưng chẳng bao giờ nói lên được điều gì cả.”

“Thế thì bà dựa vào nguồn tin của ai mà nói thế?” Ông nói với một vẻ trực tính có phần thô ráp.

“Tôi biết vì Thiếu tá Guthrie đã lên đường sang Bỉ vào thứ Sáu tuần trước, lúc hai giờ. Giờ này chắc ông ấy đã đến nơi và đang chiến đấu với đồng bào chúng ta rồi.”

“Thiếu tá Guthrie ư?” Ông có vẻ bối rối. “Ông ta là một sĩ quan trong đội đồn trú phải không?—chắc là không chứ?”

“Không, không. Ông ấy chẳng dính dáng gì đến đội đồn trú cả!” Anna kêu lên. “Nhưng chắc chắn ông đã nhìn thấy ông ấy rất nhiều lần, vì ông ấy thường xuyên có mặt trong thị trấn. Và ông ấy biết tiếng Đức, ông Hegner ạ. Tôi cứ nghĩ là ông ấy phải đến gặp ông rồi chứ.”

“Ý bà là con trai của bà cụ sống ở Dorycote ư? Họ chưa bao giờ mua hàng ở cửa hiệu của tôi cả”—có một giọng điệu thất vọng và khinh miệt trong giọng của ông Hegner. “Nhưng vị quý ông đó đã giải ngũ rồi mà, bà Bauer; chắc không phải ông ta là người được gọi ra trận đấy chứ?”

“Dù sao đi nữa, ông ấy vẫn đang sang Bỉ. Sang Pháp trước, rồi mới tới Bỉ.” Bà nói một cách rất quả quyết, tỏ ý khó chịu vì bị hoài nghi.

Ông Hegner chần chừ trong chốc lát. Ông vuốt ve bộ ria mép. “Tôi dám cá là vị Thiếu tá này đã quay trở lại trung đoàn cũ của ông ta, vì người Anh đã tổng động viên quân đội—dù nó có ra sao đi nữa. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ đang cử quân đội sang Lục địa.”

“Nhưng tôi thậm chí còn biết cả nơi vị Thiếu tá sẽ đổ bộ lên đất Pháp cơ.”

Ông Hegner nín thở. “Ạch!” ông nói. “Điều đó thực sự thú vị đấy! Bà biết thật ư? Và tên của nơi đó là gì?”

“Boulogne,” bà đáp ngay.

“Nhưng sao bà lại biết được tất cả những điều này?” ông ch chậm rãi hỏi.

“Bà Otway đã nói với tôi. Vị Thiếu tá này là một người bạn lớn của các cô nhà tôi. Nhưng dẫu chính bà ấy là người kể cho tôi nghe về Boulogne, thì tôi đã nghe thấy những lời tạm biệt được nói ra ở ngoài sảnh. Mọi thứ đều có thể nghe được từ căn bếp của tôi mà, ông thấy đấy.”

“Hãy cố nhớ lại chính xác những gì vị Thiếu tá đó đã nói xem. Nó có thể rất có ích cho tôi đấy.”

“Ông ấy nói”—bà chần chừ giây lát, rồi bằng tiếng Anh, bà nhắc lại nguyên văn: “Ông ấy nói: ‘Tôi sẽ rất bận rộn với việc chuẩn bị quân tư trang trước khi rời nước Anh.’”

“‘Trước khi rời nước Anh?’” ông lặp lại với vẻ trầm ngâm. “Đúng thế, nếu quả thực bà nghe thấy ông ta thốt ra những lời đó thì đó chính là bằng chứng xác thực, bà Bauer ạ.”

“Tất nhiên rồi!” bà đáp với vẻ đắc thắng.

Họ có một bữa ăn dài và thoải mái, và bà già Anna tận hưởng từng khoảnh khắc trong đó. Kể từ sau chuyến nghỉ mát tuyệt vời ở Berlin, chưa bao giờ bà uống nhiều bia trong một lúc như vậy. Mà lại là thứ bia nhẹ vô cùng ngon nữa chứ! Bà Otway, dù rất thấu hiểu trong hầu hết mọi chuyện liên quan đến nước Đức, đôi khi cũng từng bày tỏ sự ngạc nhiên trước tình yêu dành cho bia của người Đức; bà ấy cho rằng thứ đó thật kỳ quặc, chưa kể là không tốt cho sức khỏe lại còn khó uống.

Cho đến tận bây giờ, Anna vẫn có thể nhớ lại nỗi đau đớn đầy bực dọc khi bà hay biết, một thời gian sau khi đến Nhà Trellis, rằng nhiều quý bà người Anh vẫn cho phép người hầu của họ nhận “tiền mua bia”. Giá như bà cương quyết ngay từ đầu, thì có lẽ bà cũng đã có “tiền mua bia” rồi. Nhưng khốn nỗi! Bà Otway, khi nhận bà vào làm, đã lưu ý rằng trong gia đình bà ấy cà phê và sữa được dùng thay cho đồ uống có cồn. Tội nghiệp Anna, vào thời điểm đó đang gặp muôn vàn khốn đốn, thấy đứa con gái tám tuổi của mình là một chướng ngại gần như không thể vượt nổi để tìm việc làm, đã chấp nhận bất kỳ điều kiện nào, dù có khắc nghiệt đến đâu, để tìm lại được một mái nhà đáng kính cho mình và cho cô con gái nhỏ Louisa.

Nhưng khi thời gian trôi qua, tự nhiên bà cảm thấy bất bình trước quy tắc kỳ lạ của bà Otway về chuyện bia bọt, và bà đã phá lệ đủ để thưởng thức một vại bia—tất nhiên là bằng tiền túi của mình—mỗi tuần một lần. Chỉ có điều bà bắt đầu làm thế sau khi bà Otway đã tăng lương cho bà mà thôi.

Chủ và khách cứ thế chuyện trò không dứt. Ông Hegner tâm sự với Anna về việc sắp đổi tên của mình, và ông tỏ ra hài lòng khi biết bà cho rằng đó là một ý kiến hay.

Rồi bất chợt ông bắt đầu gặng hỏi bà về cậu James Hayley. Nhưng ngặt nỗi bà chẳng thể kể cho ông nghe được mấy, ngoài việc cuối cùng đành thừa nhận rằng cậu ta quả thực đang đem lòng yêu cô tiểu thư nhà chủ. Tuy nhiên, chuyện đó chẳng có gì thú vị cho lắm.

Đúng là cậu Hayley rất thích nói chuyện, nhưng như Anna vừa nói lúc nãy, cậu ta nói mà chẳng nói lên được điều gì, và bà thì quá bận rộn nên chẳng thèm để tâm đến những gì cậu ta nói. Cậu ta đã đến ăn tối hôm qua, tức là ngày thứ Bảy, nhưng sáng sớm nay đã phải rời Witanbury rồi. Điều duy nhất Anna nhớ là đã nghe cậu ta phàn nàn, vì cậu ta nói điều đó không chỉ một lần, là cho đến tận phút chót, tất cả mọi người ở văn phòng của cậu ta đều tưởng rằng sẽ không có chiến tranh.

“Cậu ta không phải là người duy nhất đâu. Bản thân tôi cũng tin rằng chiến tranh phải sang năm mới bùng nổ cơ,” chủ nhà của Anna đầy tiếc nuối nhận xét.

Bà cụ thấy những câu hỏi này hoàn toàn tự nhiên, vì người Đức nào cũng có sự tò mò vô độ đối với những gì có thể gọi là khía cạnh buôn chuyện của cuộc sống.

Cuối cùng Manfred Hegner đẩy lùi chiếc ghế của mình ra.

“Bà có muốn xem những bức ảnh trên mấy tờ báo này không, bà Bauer? Tôi phải lên lầu lấy chút đồ. Tôi sẽ không đi quá hai hay ba phút đâu.” Ông mở rộng một tờ báo in hình Hoàng đế đang chủ trì buổi tập dượt cứu hỏa trên du thuyền của ngài.

Rồi, để vị khách của mình ở lại trong niềm vui thích, ông vội vã bước lên lầu, đi thẳng vào phòng ngủ, khóa cửa lại và bật đèn điện lên. Bằng một trong hai chiếc chìa khóa siêu nhỏ mà ông luôn mang theo bên chùm chìa khóa đồng hồ, ông mở két sắt ra, và chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi đã tìm thấy thứ mình muốn. Polly hẳn sẽ phải ngạc nhiên lắm nếu nhìn thấy đó là vật gì. Từ phía sau chồng thư mà chưa bao giờ cô ta mạo phạm tới, ông rút ra một cuốn sổ nhỏ màu đen cũ kỹ. Đó là một cuốn sổ ghi địa chỉ theo thứ tự bảng chữ cái, trong đó có tên của những con người và những địa điểm rải rác khắp Lục địa. Cuốn sổ nhỏ này đã được gửi đảm bảo bởi một trong những người bạn làm ăn của chủ nhân hiện tại ở Hà Lan từ khoảng mười ngày trước, kèm theo một bức thư giải thích về giá trị của những địa chỉ này trong việc kinh doanh tạp hóa. Ông Hegner vẫn chưa quen thuộc với nội dung bên trong, nhưng ông đã tìm ra khá nhanh địa chỉ mà mình cần—đó là của một thương gia người Tây Ban Nha ở Seville.

Lấy cuốn sổ tay mà ông luôn mang theo người ra khỏi túi, ông cẩn thận chép lại địa chỉ nói trên vào đó. Rồi ông lật giở những trang giấy mỏng của cuốn sổ đen nhỏ cho đến khi tìm thấy một địa chỉ khác. Lần này là tên của một người Pháp, Jules Boutet, sống ở Haute Ville, Boulogne. Ông cũng ghi lại cái tên này, nhưng không bận tâm đến địa chỉ của Boutet. Cuối cùng, ông đặt cuốn sổ trở lại vào trong két sắt, nằm giữa những giấy tờ riêng tư mà Polly không bao giờ động đến. Sau đó, xé lấy tờ giấy ở trên cùng của cuốn sổ tay, ông viết địa chỉ Tây Ban Nha lên đó, và ở bên dưới, viết dòng chữ: “Cha có thể quay lại vào khoảng ngày 19 tháng Tám. Boutet đang mong ngóng ông ấy.”

Ông chần chừ một lúc lâu trước phần chữ ký. Và rồi, cuối cùng, ông điền vào đó một tên thánh bằng tiếng Anh là “Emily”.

Ông đẩy cuốn sổ vào sâu bên trong, khuất hẳn tầm mắt, rồi đóng két sắt lại và vội vã đi xuống lầu.

Bất cứ lúc nào Polly cũng có thể về nhà; người ở Phủ Thừa Tự về sớm mà.

Anna đã đứng dậy từ lúc nào. “Tôi nghĩ mình phải về nhà thôi,” bà nhận xét. “Các cô chủ của tôi sẽ sớm về thôi. Tôi không thích để họ thấy nhà cửa trống hoác—dù bà Otway biết là tôi đang ở đây.”

“Bà có bao giờ có việc phải ra Bưu điện không?” ông trầm ngâm hỏi.

Và bà đáp: “Có chứ; tôi có một tài khoản Tiết kiệm. Ông có khuyên tôi, ông Hegner, nên rút tiền khỏi Quỹ Tiết kiệm vào lúc này không? Không lẽ họ sẽ gom hết tiền để phục vụ chiến tranh sao?”

“Tôi nghĩ bà nên rút ra. Bà có nhiều trong đó không?” Khi nói, ông đang điền vào một mẫu điện tín quốc tế, cẩn thận nắn nót từng chữ.

“Không nhiều lắm đâu,” bà thận trọng đáp. “Nhưng một khoản nhỏ thì—có chứ.”

“Bao nhiêu?”

Bà ngượng ngùng chần chừ. “Tôi có bốn mươi bảng trong Quỹ Tiết kiệm của Anh,” bà nói.

“Nếu tôi là bà”—ông nhìn chăm chú vào bà—“tôi sẽ rút hết ra. Bắt họ đưa bằng tiền vàng ấy. Và rồi, nếu bà mang nó đến đây cho tôi, tôi sẽ có thể đổi cho bà—để xem nào——” ông dừng lại giây lát. “Vâng, nếu bà không ngại nhận tiền giấy và tiền xu, tôi sẽ đổi cho bà số vàng đó lấy bốn mươi bảng và năm shilling. Vàng rất có ích cho việc làm ăn của tôi. Ồ—còn nữa, bà Bauer? Khi nào bà ra Bưu điện, tôi rất sẵn lòng nếu bà gửi giúp tôi bức điện tín này. Đó là một bức điện tín kinh doanh, như bà thấy đấy, thực chất là một bức điện tín mật mã.”

Bà cầm mẩu giấy trên tay, rồi nhìn nó và nhìn ông với vẻ ngơ ngác không hiểu gì.

“Nó liên quan đến một lô cam đắng. Tôi không muốn Bưu điện Witanbury biết chuyện làm ăn của mình.”

“Vâng, tôi hiểu ý ông rồi.”

“Nó là một bức điện tín tiếng Tây Ban Nha, như bà thấy đấy, và nó sẽ tốn”—ông tính toán nhanh chóng, rồi đi tới tủ đựng bát đĩa lấy ra một ít tiền xu. “Nó sẽ tốn năm shilling rưỡi. Do đó tôi đưa cho bà bảy shilling rưỡi, bà Bauer ạ. Đó là hai shilling tiền công cho bà. Nếu có thể, tôi thích không có ai nhìn thấy bức điện tín này được gửi đi thì hơn. Tôi nói thế có rõ ràng không?”

“Vâng, vâng. Tôi hiểu rõ lắm.”

“Và nếu có ai hỏi ai là người đưa nó cho bà để gửi, hãy nói đó là bà Smith, một người bà quen sơ, người mà bà vừa gặp tình cờ, và vì quá vội bắt tàu nên không kịp vào Bưu điện.”

Anna rút một chiếc ví lớn từ chiếc túi rộng thùng thình của mình ra. Bà nhét bức điện tín và số tiền vào đó. “Tôi sẽ gửi nó vào sáng mai,” bà thốt lên. “Ông cứ tin tưởng ở tôi đi.”

“Bà Bauer?”

Bà quay người lại.

“Chỉ để chúc bà một lời chúc ngủ ngon thật ấm áp, và mong bà sớm quay lại thăm nhé!”

“Nhất định rồi, tôi sẽ đến,” bà biết ơn đáp vọng lại.

Khi đang đóng cửa sau lại, ông nhìn thấy vợ mình đang lững thững bước qua con hẻm nhỏ vắng vẻ.

“Chào em, Polly!” ông gọi, và cô ta bước nhanh tới gần. “Mọi người ở Phủ Thừa Tự đang gặp rắc rối to đấy,” cô ta nhận xét, “ít ra thì cô Edith đang gặp rắc rối lớn. Cô ấy khóc suốt cả ngày hôm nay. Người ta bảo mặt cô ấy sưng húp lên—trông ghê lắm! Người tình của cô ấy chuẩn bị ra trận rồi, và ai đó đã bảo với cô ấy rằng Lãnh chúa Kitchener nói tất cả những kẻ ra đi đợt này sẽ chẳng ai quay về được nữa! Thậm chí còn có cả chuyện họ sẽ cưới nhau trước khi anh ta lên đường. Nhưng vì đồ hồi môn chưa sắm sửa xong, chị em tôi nghĩ làm thế thì ngốc nghếch lắm.”

“Đề án của ta... à nhầm, vị Dean có nhận được thư của tôi không?” ông đột ngột hỏi.

“Ơ phải, suýt nữa thì em quên mất không kể với anh vụ đó. Em đã đưa nó cho ông Dunstan, quản gia. Ông ấy bảo vị Dean đã bóc ra đọc. Và rồi anh đoán xem lão già ngốc nghếch ấy nói gì nào, Manfred?”

“Em sẽ phải tập thói quen gọi anh là Alfred chứ,” ông điềm tĩnh nói.

“Ôi, phiền phức thật đấy!”

“Thôi nào, vị mục sư kính mến đã nói gì thế?”

“Ông Dunstan bảo ngài ấy chỉ thốt lên rằng: ‘Tôi lấy làm tiếc khi anh chàng tốt tính đó lại thấy cần thiết phải làm thế.’ Thế nên rốt cuộc anh chẳng phải bận tâm gì sảng khoái cả. Suốt dọc đường đến Phủ Thừa Tự, em cứ lẩm bẩm trong đầu: ‘Bà Head—Polly Head. Polly Head—Bà Head.’ Và không đâu, chẳng ích gì khi cứ vờ như em thích cái tên ấy đâu, vì em ghét nó lắm!”

“Thế thì em cứ việc làm điều ngược lại thôi,” ông cộc cằn nói. Dù vậy, mặc dù nói năng khó chịu là thế, tâm trạng ông lúc này lại đang vô cùng phấn chấn. Hai tiếng trước, thông tin về người tình của cô Haworth hẳn sẽ là điều cực kỳ quan trọng đối với ông, và ngay lúc này đây nó vẫn có giá trị, như một sự củng cố cho những gì Anna vừa kể cho ông nghe. Bà Bauer sắp sửa trở thành một người rất hữu dụng đối với ông. Alfred Head—vì từ giờ ông đã tự gọi mình bằng cái tên đó—cảm thấy rằng mình vừa có một buổi tối vừa hữu ích lại vừa dễ chịu biết bao.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.