Do Thái Lưu Lạc — Toàn Tập

Lượt đọc: 924 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
Cuộc Tấn Công.

❊ ❊ ❊

Khi ông Hardy hay tin từ người trung gian đáng tin cậy của đôi tình nhân rằng người tình của ông đã bị mẹ cô ấy đưa đi, ông liền quay lưng khỏi Rodin và phóng đi trên một cỗ xe ngựa trạm. Cùng lúc đó, lấn át cả tiếng bánh xe lăn lạch cạch, tiếng hò hét của một đám đông công nhân và kẻ bạo loạn — do đám tay sai của dòng Tên thuê đến để tấn công xưởng thợ của Hardy — bỗng vang lên. Mối thù cũ vốn tồn tại từ lâu giữa họ và đám thợ của một chủ xưởng đối thủ là Bá tước Tripeaud càng đổ thêm dầu vào lửa.

Khi ông Hardy đã rời khỏi nhà xưởng, Rodin — vốn không lường trước được sự rút lui đột ngột này — liền chậm rãi quay lại chiếc xe thuê của mình; thế nhưng ông ta bỗng khựng lại, giật mình đầy ngạc nhiên và thích thú khi thấy ở đằng xa, Thống soái Simon và cha mình đang tiến về phía một dãy nhà của Khu Nhà Chung, bởi một sự tình cờ ngẫu nhiên đã khiến cuộc gặp gỡ giữa hai cha con bị trì hoãn đến tận lúc ấy.

“Rất tốt!” Rodin lẩm bẩm. “Càng lúc càng hay! Bây giờ, chỉ cần gã tay chân của ta tìm ra và thuyết phục được cô bé Rose-Pompon nữa thôi!”

Rồi Rodin vội vã tiến về phía chiếc xe thuê của mình. Đúng lúc đó, cơn gió thổi mạnh hơn kéo theo tiếng chiến ca của nhóm Sói đang tiến đến bên tai gã tu sĩ.

Người thợ cả đang ở trong khu vườn. Vị thống soái cất tiếng gọi ông, giọng ngập tràn nỗi xúc động sâu đến mức cụ già giật mình quay lại: “Cha ơi, con đang rất bất hạnh.”

Một nét mặt đau đớn, vốn bị giấu kín bấy lâu, bỗng chốc tối sầm lại trên khuôn mặt vị thống soái.

“Con bất hạnh ư?” cụ già Simon lo lắng kêu lên, bước vội lại gần con trai.

“Mấy ngày nay, con gái con có vẻ gượng gạo và hay trầm ngâm. Trong những giây phút đầu tiên đoàn tụ, chúng phấn khích đến phát điên vì vui sướng và hạnh phúc. Thế rồi mọi thứ bỗng thay đổi; chúng ngày càng trở nên buồn bã hơn. Hôm qua, con đã bắt gặp những giọt nước mắt trong mắt chúng; rồi khi lòng quặn thắt vì xúc động, con ôm chầm lấy chúng vào lòng và nài nỉ chúng nói cho con biết nguyên nhân nỗi buồn. Không trả lời, chúng chỉ vùi đầu vào ngực con và đẫm nước mắt trên mặt con.”

“Thật lạ lùng. Con cho rằng sự thay đổi này là do đâu?”

“Đôi khi, con nghĩ rằng mình đã không giấu kỹ nỗi đau mất mẹ của chúng, và có lẽ chúng cảm thấy dằn vặt vì bản thân không thể mang lại trọn vẹn hạnh phúc cho con. Thế mà (dù thật khó hiểu) chúng dường như không chỉ thấu hiểu mà còn sẻ chia nỗi buồn ấy với con. Hôm qua, bé Blanche đã nói với con rằng: ‘Chúng ta sẽ còn hạnh phúc biết bao nếu có mẹ ở bên cạnh!—‘”

“Nếu đã sẻ chia nỗi buồn cùng con, chắc chắn chúng không thể trách cứ con điều gì. Phải có nguyên nhân nào khác khiến chúng đau buồn.”

“Vâng,” vị thống soái nói, đăm đăm nhìn cha mình; “vâng—nhưng để thấu thấu tỏ bí mật này—con buộc lòng không thể rời xa chúng.”

“Ý con là gì?”

“Trước hết, thưa cha, xin hãy nghe con kể về những bổn phận đang giữ chân con ở lại đây; rồi cha sẽ hiểu điều gì có thể kéo con rời xa cha, rời xa các con gái con, và rời xa đứa con thứ hai của con.”

“Đứa con nào khác cơ chứ?”

“Con trai của người bạn già quá cố của con, vị Hoàng tử Ấn Độ.”

“Djalma ư? Cậu ta gặp chuyện gì sao?”

“Thưa cha, cậu ta khiến con sợ hãi. Con đã từng thưa với cha về mối tình si điên cuồng và đầy đau khổ của cậu ta dành cho tiểu thư de Cardoville.”

“Điều đó làm con sợ sao, con trai ta?” cụ già vừa nói vừa nhìn vị thống soái đầy ngạc nhiên. “Djalma mới mười tám tuổi, và ở độ tuổi ấy, mối tình này rồi sẽ bị mối tình khác khỏa lấp mà thôi.”

“Cha không thể hình dung nổi những tàn phá mà mối tình ấy đã gây ra trong tâm hồn sục sôi và bất kham của cậu thanh niên ấy đâu; có những lúc, những cơn cuồng nộ dã man tiếp nối sau sự suy sụp thảm hại nhất. Hôm qua, con bất ngờ bước vào phòng cậu ta; đôi mắt cậu ta đỏ ngầu, nét mặt co rúm lại vì giận dữ; buông xuôi theo một cơn cuồng phong điên dại, cậu ta đang dùng dao găm đâm phập vào một chiếc gối nhung đỏ, miệng hổn hển thở dốc: ‘Ha, máu!—Ta muốn có máu!’ ‘Cậu thanh niên bất hạnh!’ con bảo cậu ta, ‘ý nghĩa của niềm đam mê điên cuồng này là gì?’ ‘Ta đang giết gã đó!’ cậu ta đáp lại bằng một giọng trầm đục và hung tợn: đó là cách cậu ta gọi tình địch tưởng tượng của mình.”

“Quả thực có điều gì đó rất đáng sợ,” cụ già nói, “trong một mối tình như thế, ở một trái tim như thế.”

“Những lúc khác,” vị thống soái tiếp lời, “cơn thịnh nộ của cậu ta lại trút lên tiểu thư de Cardoville; và có lúc lại hướng vào chính bản thân cậu ta. Con đã buộc phải tịch thu tất cả vũ khí của cậu ta, bởi vì một người đã đi theo cậu ta từ Java — người tỏ ra rất gắn bó với cậu ta — đã báo cho con biết rằng ông ta nghi ngờ cậu ta đang nung nấu ý định tự sát.”

“Thật là một đứa trẻ đáng thương!”

“Vâng, thưa cha,” Thống soái Simon nói với vẻ cay đắng khôn cùng; “chính vào lúc mà các con gái con và người con nuôi của con đang cần đến sự quan tâm chăm sóc nhất, thì con lại có lẽ đang đứng trước ngưỡng cửa phải rời xa chúng.”

“Rời xa chúng ư?”

“Đúng vậy, để hoàn thành một sứ mệnh còn thiêng liêng hơn cả những gì tình bạn hay gia đình ràng buộc,” vị thống soái cất lời với một giọng điệu trầm ngâm và trang nghiêm đến mức cha ông phải xúc động thốt lên: “Sứ mệnh đó có thể là gì chứ?”

“Thưa cha,” vị thống soái nói sau một thoáng im lặng trầm ngâm, “ai đã tạo nên con người con ngày hôm nay? Ai đã ban cho con tước hiệu công tước cùng cây gậy thống soái?”

“Napoleon.”

“Đối với cha, một người cộng hòa kiên định, con biết rằng ông ấy đã mất hết mọi giá trị trong mắt cha khi từ vị công dân đầu tiên của một nước Cộng hòa mà trở thành hoàng đế.”

“Con đã từng nguyền rủa sự yếu đuối của ông ấy,” cha của Simon buồn bã đáp; “vị á thần ấy cuối cùng cũng rơi xuống làm một con người phàm tục.”

“Nhưng đối với con, thưa cha — đối với con, một người lính vẫn luôn chiến đấu bên cạnh ngài hoặc dưới ánh mắt ngài — đối với con, người được ngài cất nhắc từ cấp bậc thấp nhất trong quân ngũ lên đến tận đỉnh cao — đối với con, người được ngài ban cho biết bao ân huệ cùng những biểu hiện của lòng ân ái — đối với con, ngài không chỉ là một anh hùng, mà còn là một người bạn — và trong sự tôn thờ của con dành cho ngài, lòng biết ơn cũng lớn lao chẳng kém sự ngưỡng mộ. Khi ngài bị lưu đày, con đã tha thiết muốn được cùng chịu chung số phận lưu đày với ngài; họ đã từ chối đặc ân đó của con; thế là con mưu phản, thế là con đã rút gươm chống lại những kẻ đã cướp đoạt vương miện khỏi tay con trai ngài — chiếc vương miện mà nước Pháp đã trao tặng.”

“Và trong hoàn cảnh của con, con đã làm đúng, Pierre; dù không chia sẻ niềm ngưỡng mộ ấy, cha vẫn thấu hiểu lòng biết ơn của con. Những kế hoạch lưu đày, những âm mưu đảo chính — cha đều ủng hộ tất cả — con thừa biết điều đó mà.”

“Vậy thì, đứa trẻ bị tước bỏ gia tài ấy — kẻ mà mười bảy tuổi năm trước con từng vì nó mà mưu phản — giờ đây đã đến tuổi có thể cầm thanh gươm của cha mình.”

“Napoleon II!” cụ già thốt lên, nhìn con trai đầy kinh ngạc và lo lắng tột cùng; “vị vua thành Rome!”

“Vua ư? Không; nó không còn là vua nữa. Napoleon ư? Không; nó không còn là Napoleon nữa. Họ đã đặt cho nó một cái tên Áo nào đó, bởi vì cái tên kia khiến họ khiếp sợ. Mọi thứ đều khiến họ sợ hãi. Cha có biết họ đang làm gì với đứa con trai của vị Hoàng đế không?” vị thống soái tiếp tục với nỗi kích động đau đớn. “Họ đang tra tấn nó — đang bức hại nó từng chút một đến chết!”

“Ai đã nói với con điều này?”

“Một người tường tận mọi chuyện, và những lời người đó nói hoàn toàn là sự thật. Vâng; người con trai của Hoàng đế đang phải dùng tất cả sức lực để chống chọi lại cái chết cận kề. Với ánh mắt hướng về nước Pháp, nó mỏi mòn chờ đợi — chờ đợi — thế nhưng chẳng có ai đến cả — chẳng một ai — trong số tất cả những con người từng được cha nó ban cho quyền lực vĩ đại khi xưa, chẳng một ai thèm nghĩ đến đứa trẻ mang vương miện đang bị bóp nghẹt cho đến chết ấy.”

“Nhưng con thì nghĩ đến nó sao?”

“Vâng; nhưng trước tiên con phải tường tận — ồ! hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, bởi vì nguồn tin của con không chỉ đến từ một phía — trước tiên con phải biết được số phận nghiệt ngã của người thanh niên này, người mà con cũng từng thề nguyền trung thành; bởi vì có một lần, như con đã từng kể cho cha nghe, Hoàng đế, với tư cách là một người cha đầy tự hào và trìu mến, đã bế nó trên tay khi nó hãy còn nằm trong nôi và bảo rằng: ‘Bạn già của ta, anh sẽ đối xử với con ta như cách anh đã đối xử với cha nó; ai yêu thương chúng ta, người đó yêu nước Pháp của chúng ta.’”

“Cha biết chứ. Con đã lặp đi lặp lại những lời ấy với cha không biết bao nhiêu lần, và cũng như con, cha vô cùng xúc động.”

“Vậy thì, thưa cha! Giả sử rằng, khi đã tường tận về những đau khổ của người con trai vị Hoàng đế, con nhìn thấy — với sự chắc chắn tuyệt đối rằng mình không hề bị lừa dối — một bức thư từ một nhân vật quyền quý trong triều đình Vienna, ngỏ ý trao cho một người vẫn còn trung thành với ký ức về Hoàng đế phương tiện để liên lạc với vị vua thành Rome, và có lẽ là cứu thoát ngài khỏi những kẻ hành hạ—”

“Rồi sao nữa?” người thợ cả hỏi, đăm đăm nhìn con trai. “Giả sử Napoleon II đã được tự do—”

“Rồi sao nữa chứ?” vị thống soái thốt lên. Rồi ông nói tiếp bằng một giọng nghẹn ngào: “Cha có nghĩ rằng nước Pháp vẫn thờ ơ trước những nhục nhã mà đất nước đang phải gánh chịu không? Cha có nghĩ rằng ký ức về Hoàng đế đã phai mờ rồi sao? Không, không; chính trong những ngày tháng đất nước lầm than nhất, người ta lại càng thầm nhắc đến cái tên thiêng liêng ấy. Sẽ ra sao nếu cái tên đó vang lên đầy hào quang trên biên giới, được hồi sinh qua người con trai của ngài? Cha có nghĩ rằng trái tim của toàn thể nước Pháp sẽ không cùng nhịp đập vì nó chứ?”

“Điều này đồng nghĩa với một âm mưu — chống lại chính quyền hiện tại — với Napoleon II làm mật khẩu,” người thợ cả nói. “Đây là một việc vô cùng nghiêm trọng.”

“Con đã thưa với cha rồi, con đang vô cùng bất hạnh; xin hãy phán xem có đúng thế không,” vị thống soái kêu lên. “Không những con tự hỏi bản thân xem mình có nên bỏ lại các con và cha để dấn thân vào một mưu sự táo bạo nhường ấy hay không, mà con còn tự vấn liệu mình có đang bị ràng buộc với chính quyền hiện tại — cái chính quyền, dẫu không ban ơn phước gì, thì khi công nhận tước vị và cấp bậc của con, ít ra cũng đã đối xử với con một cách công bằng. Con phải quyết định thế nào đây? — từ bỏ tất cả những gì mình yêu thương, hay làm ngơ trước những cực hình của vị Hoàng đế — của người Hoàng đế mà con mang ơn tất cả, người mà con đã thề nguyền trung thành cả với bản thân ngài lẫn đứa con trai ấy? Liệu con có nên bỏ lỡ cơ hội duy nhất này để cứu lấy ngài, hay là mưu phản vì ngài đây? Xin hãy bảo con, có phải con đang phóng đại món nợ ân tình đối với ký ức của vị Hoàng đế không? Xin hãy quyết định thay con, thưa cha! Suốt một đêm dài thao thức, con đã cố gắng tìm kiếm, giữa chốn hỗn độn này, ranh giới mà danh dự vạch ra; thế nhưng con chỉ càng lạc lối trong sự do dự khôn cùng. Chỉ có cha — chỉ một mình cha, con xin nhắc lại, mới có thể dẫn đường cho con.”

Sau khi chìm đắm trong suy tư suốt một lát lâu, cụ già chuẩn bị lên tiếng thì bỗng có kẻ băng qua khu vườn nhỏ, vội vã đẩy cửa bước vào căn phòng nơi hai cha con đang đứng. Đó là Olivier, người thợ trẻ đã may mắn trốn thoát khỏi ngôi làng nơi bầy Sói đang tụ tập.

“Ông Simon! Ông Simon!” cậu ta kêu lên, mặt cắt không còn giọt máu và thở hổn hển. “Chúng đến rồi — chúng ở ngay gần đây thôi. Chúng kéo đến tấn công nhà xưởng rồi.”

“Ai cơ?” cụ già hốt hoảng đứng phắt dậy, gặng hỏi.

“Bọn Sói, thợ mỏ và thợ đẽo đá, dọc đường đi chúng còn nhập thêm một đám đông từ vùng lân cận và cả bọn vô lại trong thành phố. Ông có nghe thấy tiếng chúng không? Chúng đang hò hét: ‘Giết chết lũ Kẻ Cướp!’”

Tiếng hò la quả thực đang đến gần, mỗi lúc một rõ mồn một.

“Đó chính là thứ âm thanh mà con vừa nghe thấy ban nãy,” vị thống soái nói, cũng đứng vụt dậy.

“Chúng có tới hơn hai trăm tên lận, thưa ông Simon,” Olivier nói; “chúng mang theo gậy gộc và đá, mà ngặt nỗi phần lớn công nhân của ta lúc này lại đang ở Paris. Ở đây chúng ta tính ra chưa đầy bốn mươi người; phụ nữ và trẻ em đã hoảng loạn chạy trốn lên các phòng lầu rồi, tiếng khóc thét vang lên khắp nơi. Ông có nghe thấy không?”

Phần trần nhà rung lên bần bật dưới tiếng bước chân chạy rầm rập của nhiều người.

“Cuộc tấn công này có nghiêm trọng không?” vị thống soái hỏi cha mình — người lúc này trông càng thêm phần suy sụp.

“Cực kỳ nghiêm trọng,” cụ già đáp; “không có gì hung hãn bằng những cuộc hỗn chiến giữa các nghiệp đoàn với nhau đâu; hơn nữa thời gian qua người ta đã tìm mọi cách để kích động dân cư quanh vùng chống lại xưởng thợ này.”

“Nếu quân số của ta quá ít ỏi như vậy,” vị thống soái nói, “trước tiên chúng ta phải gia cố và barricade toàn bộ các cửa ra vào — rồi sau đó—”

Ông chưa kịp nói dứt câu. Một tràng tiếng kêu gào rợn người làm rung chuyển những ô cửa kính của căn phòng, âm thanh gần và lớn đến mức vị thống soái, cha ông và người thợ trẻ liền lao vọt ra khu vườn nhỏ — nơi có một bức tường ngăn cách với cánh đồng bên ngoài. Đột ngột, trong lúc tiếng hò hét ngày càng trở nên bạo tợn, một trận mưa đá lớn ném vào nhằm đập vỡ cửa sổ ngôi nhà đã làm vỡ tung vài ô kính ở tầng một, đập ầm ầm vào bức tường rồi rơi lã chã xuống khu vườn xung quanh vị thống soái và cha ông. Do một sự xui xẻo định mệnh, một hòn đá to đã đập thẳng vào đầu cụ già. Cụ lảo đảo, chúi người về phía trước, rồi ngã gục trong vũng máu vào vòng tay của Thống soái Simon, đúng lúc bên ngoài vang lên tiếng hò hét man rợ và cuồng nộ hơn bao giờ hết: “Giết chết lũ Kẻ Cướp!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.