
Đó là một buổi sáng Chủ nhật, ngay ngày mà tiểu thư de Cardoville nhận được bức thư của Rodin liên quan đến sự mất tích của Mẹ Cành Khô. Hai người đang ngồi trò chuyện bên chiếc bàn ở một quán rượu tại ngôi làng nhỏ Villiers, nằm cách xưởng của ông Hardy không xa. Cư dân trong làng phần lớn là thợ khai đá và thợ đẽo đá, làm việc tại các mỏ đá lân cận. Không có công việc nào vất vả, cực nhọc hơn, nhưng lại được trả công bèo bọt hơn loại công việc của tầng lớp này. Do đó, như Agricola từng kể cho Mẹ Cành Khô nghe, họ thường đem hoàn cảnh khốn cùng của mình ra so sánh đầy cay đắng với cuộc sống sung túc, thảnh thơi tương đối mà các công nhân của ông Hardy đang tận hưởng, nhờ vào sự quản lý thông minh, hào phóng cùng các nguyên tắc hiệp hội và cộng đồng mà ông đã áp dụng giữa họ. Nghèo đói và sự dốt nát luôn là nguyên nhân của những tai họa lớn. Nỗi khốn cùng dễ bị kích động thành cơn thịnh nộ, còn sự dốt nát thì mau chóng nhượng bộ trước những lời xúi giục hiểm độc. Từ lâu, hạnh phúc của những công nhân dưới quyền ông Hardy vẫn luôn khiến người ta thèm thuồng, dẫu chưa đến mức căm hận. Thế nhưng, ngay khi những kẻ thù ngầm của nhà tư bản này bắt tay với đối thủ của ông là Nam tước Tripeaud để trục lợi từ việc phá vỡ trật tự hòa bình ấy — tình hình liền thay đổi.
Với sự kiên trì và mưu mô quỷ quyệt, chúng đã thành công trong việc khơi dậy những bản năng tăm tối nhất. Thông qua những tay chân được cài cắm, chúng tiếp cận những thợ đá và thợ mỏ quanh vùng — những kẻ có lối sống hư hỏng vốn đã làm trầm trọng thêm sự bần cùng của chúng. Khét tiếng vì thói hung hăng, liều lĩnh và gan lì, đám người này có thể tạo ra ảnh hưởng nguy hiểm lên đa số những người bạn đồng môn vốn hiền lành, siêng năng, trung thực nhưng lại dễ bị bạo lực khuất phục. Những kẻ cầm đầu ngổ ngáo ấy, vốn đã chất chứa bất mãn vì cơ cực, nhanh chóng bị nhồi sáu những ảo tưởng phóng đại về sung túc của công nhân xưởng ông Hardy, từ đó nảy sinh lòng ghen ghét căm thù. Chúng còn tiến xa hơn thế; những bài giảng kích động của một linh gia dòng Tên, kẻ được phái trực tiếp từ Paris đến để giảng đạo mùa Chay nhằm chống lại ông Hardy, đã tác động mạnh mẽ đến tâm trí những người phụ nữ — những kẻ chen kín nhà thờ trong lúc chồng họ lang thang ở quán rượu. Lợi dụng nỗi sợ hãi ngày càng dâng cao trước thềm đại dịch tả thời bấy giờ, vị linh mục đã gieo rắc nỗi kinh hoàng vào trí tưởng tượng nhẹ dạ cả tin khi chỉ trích xưởng của ông Hardy là một ổ nhơ nhuốc và đọa đày, có thể rước họa trừng phạt từ Thiên đàng và mang cơn dịch bệnh chết người xuống cả vùng. Cứ thế, những gã đàn ông vốn đã hằn học vì ganh tị lại càng bị thúc ép dữ dội hơn bởi người vợ của họ — những người đàn bà phát cuồng vì các bài giảng đạo, trút hàng ngàn lời nguyền rủa lên lũ vô thần có thể mang tai họa đến cho bản thân và con cái họ. Một vài kẻ bất lương từ xưởng của Nam tước Tripeaud và được lão ta trả công (bởi vị nhà tư bản đáng kính này rất mong mỏi sự sụp đổ của ông Hardy) đã xuất hiện để thổi bùng thêm ngọn lửa bất mãn chung, đồng thời đẩy căng thẳng lên đỉnh điểm bằng cách khơi mào một trong những tranh chấp lao động đáng sợ vốn từng gây ra biết bao đổ máu đáng tiếc trong thời đại chúng ta. Nhiều công nhân của ông Hardy, trước khi vào làm tại xưởng, từng gia nhập một hội kín gọi là hội Kẻ Phàm Ăn; trong khi đó, không ít thợ đẽo đá ở các mỏ lân cận lại thuộc về hội Sói. Từ lâu, một mối thù hằn không đội trời chung đã tồn tại giữa hội Sói và hội Kẻ Phàm Ăn, khơi mào cho biết bao cuộc đụng đẫm máu. Điều này càng đáng tiếc hơn bởi xét ở phương diện nào đó, ý tưởng về các liên minh này rất tuyệt vời, được xây dựng trên nguyên tắc kết đoàn mãnh liệt và đầy hoa trái. Nhưng khốn nỗi, thay vì bao trùm tất cả các ngành nghề trong một tình anh em chung thủy, các hội nhóm này lại xé nhỏ giai cấp công nhân thành những phe phái thù địch tách biệt, mà sự kình chống của họ thường dẫn đến những cuộc đụng độ đẫm máu. Suốt tuần qua, bầy Sói, bị kích động bởi biết bao lời xúi giục khác nhau, nóng lòng tìm kiếm một cái cớ hoặc cơ hội để giáp chiến với hội Kẻ Phàm Ăn; nhưng ngặt nỗi đám người kia lại không lai vãng quán rượu và hiếm khi rời xưởng trong suốt tuần, khiến một cuộc hội ngộ như vậy là bất khả thi, buộc bầy Sói phải chờ đợi ngày Chủ nhật với sự nôn nóng tột cùng.

Thêm vào đó, một số lượng lớn thợ mỏ và thợ đẽo đá vốn dĩ là những người hiền lành, chăm chỉ đã từ chối tham gia vào cuộc biểu tình thù địch chống lại công nhân xưởng ông Hardy, dẫu bản thân họ cũng thuộc hội Sói; vì thế, bọn cầm đầu buộc phải đi lơ du thủ du thực và đám lang thang ở các khu ổ chuột — những kẻ bị thu hút bởi sự hỗn loạn và dễ dàng quy phục dưới lá cờ của bầy Sói hiếu chiến. Đó chính là bầu không khí sục sôi âm ỉ đang bao trùm lấy ngôi làng nhỏ Villiers, trong lúc hai gã đàn ông mà ta nhắc đến đang ngồi bên bàn rượu trong quán.
Hai kẻ này đã thuê một căn phòng riêng để được yên tĩnh. Một người hãy còn trẻ và ăn mặc khá lịch sự. Nhưng sự xộc xệch trên y phục, chiếc cà vạt lỏng lẻo, chiếc áo sơ mi dính đầy vết rượu vang, mái tóc bù xù, vẻ mặt phờ phạc, nước da tái nhợt cùng đôi mắtằn gân đỏ quánh đã tố cáo một đêm trác táng vừa vắt kiệt buổi sáng hôm nay; trong khi những cử chỉ xấcược nặng nề, giọng nói khàn đợ, ánh mắt lúc sắc bén lúc đờ đẫn của hắn chứng tỏ rằng, đằng sau dư âm của cơn say tối qua lại đang nhen nhóm những triệu chứng đầu tiên của một trận cuồng say mới. Người đi cùng cạn ly với hắn và cất lời: “Chúc sức khỏe cậu nhé, bạn trẻ!”
“Cụng ly!” gã trẻ tuổi đáp, “dù trông anh chẳng khác nào quỷ sứ.”
“Tôi á?—quỷ sứ ư?”
“Đúng thế.”
“Tại sao chứ?”
“Sao anh lại biết đến tôi?”
“Cậu hối hận vì đã quen tôi à?”
“Ai bảo anh tôi từng bị giam ở Sainte-Pelagie?”
“Chẳng phải tôi đã lôi cậu ra khỏi nhà tù đó sao?”
“Sao anh lại cứu tôi?”
“Vì tôi có một trái tim nhân hậu.”
“Có lẽ anh quý tôi lắm nhỉ—giống như cách gã đồ tể cưng chiều con bò mà hắn đang dắt tới lò mổ vậy.”
“Cậu điên rồi chắc?”
“Chẳng ai tự dưng bỏ ra một trăm nghìn quan để cứu người khác mà không có vụ lợi.”
“Tôi có mục đích chứ.”
“Là gì nào? Anh muốn lợi dụng tôi vào việc gì?”
“Tìm một người bạn vui tính, biết tiêu tiền như nước và biến đêm nào cũng vui như đêm cuối. Rượu ngon, mồi bén, gái đẹp và những khúc ca rộn rã. Nghề thế này tệ lắm sao?”
Im lặng một lát, gã trẻ tuổi ủ rũ đáp lời: “Này nhé, ngay trước thềm rời khỏi ngục tối, điều kiện anh đặt ra cho sự tự do của tôi là phải viết thư cắt đứt hoàn toàn với người tình! Sao anh lại ép buộc tôi viết bức thư đó?”
“Lại thở dài ư? Gì chứ, cậu vẫn còn tơ tưởng đến ả ta sao?”
“Hoài hoài.”
“Cậu lầm rồi. Người tình của cậu giờ này đã đi xa khỏi Paris lắm rồi. Chính mắt tôi thấy ả bước lên xe khách trước khi tôi đến đón cậu ra khỏi Sainte-Pelagie.”
“Ừ, tôi từng thấy ngột ngạt đến phát điên trong cái ngục thất ấy. Chỉ cần được ra ngoài, tôi sẵn sàng bán cả linh hồn cho quỷ dữ. Anh thừa biết điều đó nên mới tìm đến tôi; chỉ có điều, thay vì linh hồn tôi, anh đã cướp mất Cephyse. Nữ hoàng Bacchanal tội nghiệp! Và sao anh lại làm thế? Sét đánh ngang tai! Anh nói xem nào!”
“Một kẻ bám dính lấy đàn bà như cậu thì chẳng còn ra dáng đàn ông nữa. Sẽ chẳng có nổi chút quyết đoán nào khi thời cơ đến.”
“Thời cơ nào?”
“Uống đi!”
“Anh chuốc cho tôi uống quá nhiều rượu mạnh rồi đấy.”
“Hừ! Nhìn tôi đây này!”
“Đó mới là điều làm tôi phát sợ. Trông anh cứ như ma quỷ ấy. Cả chai brandy mà chẳng khiến chớp mắt lấy một cái. Chắc dạ dày anh bằng sắt và đầu óc làm bằng đá cẩm thạch mất thôi.”
“Tôi từng đi lại ở Nga lâu năm. Ở đó người ta uống rượu để sưởi ấm cơ thể.”
“Còn ở đây chỉ để ấm lên thôi. Nào—uống tiếp đi—nhưng bằng rượu vang cơ.”
“Vớ vẩn! Rượu vang chỉ dành cho trẻ con. Brandy mới xứng mặt nam nhi!”
“Thế thì brandy; nhưng nó cay xé ruột, đốt cháy cả óc, rồi thì ta sẽ thấy cả lửa địa ngục cho xem!”
“Ta thích cái vẻ này của cậu đấy, khỉ thật!”
“Nhưng lúc anh bảo tôi quá lụy tình và sẽ thiếu quyết đoán khi thời cơ đến, rốt cuộc anh đang ám chỉ thời cơ nào?”
“Uống đi!”
“Khoan đã nào, chiến hữu. Tôi không phải kẻ ngốc để mà bị dắt mũi. Mấy lời úp mở của anh đã cho tôi khối thứ rồi đấy.”
“Ồ, thế cậu hiểu gì nào?”
“Anh thừa biết tôi từng là thợ thuyền, có rất nhiều anh em bằng hữu, và vì là một tay sống đẹp nên tôi rất được lòng mọi người. Anh muốn biến tôi thành con cờ để khều hạt dẻ trong lò lửa chứ gì?”
“Rồi sao nữa?”
“Chắc hẳn anh là một kẻ chuyên kích động bạo loạn—một nhà đầu cơ trên xương máu của các cuộc nổi dậy.”
“Tiếp đi chứ?”
“Anh đang đi cò mồi cho một hội kín nặc danh nào đó chuyên buôn bán đạn súng trường.”
“Cậu nhát gan à?”
“Nói cho anh hay, tháng Bảy năm xưa tôi từng đốt thuốc súng rồi đấy — đừng có mà coi thường!”
“Cậu không ngại đốt thêm ít thuốc súng nữa chứ?”
“Loại pháo hoa ấy thì lúc nào cũng chơi được. Chỉ có điều tôi thấy mấy cuộc cách mạng mang tính giải trí nhiều hơn là thực tế; tất cả những gì tôi kiếm được từ mấy chiến lũy trong ba ngày huy hoàng ấy chỉ là một cái quần cháy xém và chiếc áo khoác rách tươm. Mọi phong trào hô khẩu hiệu ‘Tiến lên! Xông lên!’ rốt cuộc chỉ có vậy.”
“Cậu quen nhiều công nhân của Hardy chứ?”
“À! Hóa ra đây là lý do anh lôi tôi đến vùng này à?”
“Đúng thế — cậu sẽ được gặp rất nhiều thợ thuyền từ xưởng đó.”
“Đám công nhân của Hardy lại đi tham gia bạo loạn á? Không, không đời nào; họ sung túc quá rồi nên chẳng dại gì. Anh bịa chuyện lừa tôi đấy à.”
“Cậu sẽ tận mắt thấy ngay thôi.”
“Tôi nói thật là họ đang sống sung túc. Họ còn cái nỗi gì mà phải phàn nàn?”
“Thế còn những anh em của họ — những kẻ không có được một ông chủ tử tế, đang chết mòn vì đói khát và khốn cùng, đang gọi họ cầu cứu thì sao? Cậu nghĩ họ sẽ làm ngơ trước tiếng kêu thấu trời xanh ấy chắc? Xưởng của Hardy chỉ là ngoại lệ. Chỉ cần toàn dân cùng chung sức một lần, ngoại lệ ấy sẽ thành quy luật, và tất cả mọi người sẽ được hạnh phúc.”
“Anh nói nghe có lý đấy, nhưng phải là một sức mạnh tày trời thế nào mới biến cái lão chủ cũ bủn xỉn của tôi — Nam tước Tripeaud, kẻ đã nhào nặn ra một thằng đểu cá giả như tôi — thành một người lương thiện được.”
“Công nhân của Hardy sắp tới đây; cậu là đồng môn của họ, chẳng có lý do gì để lừa gạt họ cả. Họ sẽ tin cậu. Cùng tôi thuyết phục họ nào—”
“Thuyết phục điều gì?”
“Rời bỏ cái xưởng đang biến họ thành kẻ ích kỷ, yếu mềm và quên đi những người anh em đói khổ.”
“Nhưng nếu bỏ xưởng, họ lấy gì mà sống?”
“Chúng ta sẽ lo việc đó — vào ngày đại sự.”
“Thế còn trước ngày đó thì làm gì?”
“Như những gì cậu làm đêm qua — uống rượu, cười đùa, ca hát, và để gọi là ‘luyện tập’, hãy bí mật tập dượt cách sử dụng vũ khí.”
“Ai sẽ dẫn dắt đám công nhân này đến đây?”
“Có kẻ đã đánh động họ rồi. Họ đã nhận được những truyền đơn vạch trần sự dửng dưng của họ đối với anh em mình. Nào, cậu có đồng hành với tôi không?”
“Tôi theo anh — càng hay chứ sao, vì bản thân tôi còn chẳng lo nổi thân mình. Trên đời này tôi chỉ quan tâm đến mỗi Cephyse; tôi biết mình đang sa chân vào con đường tối, và anh lại đang đẩy tôi lún sâu hơn; cứ để mặc dòng nước cuốn đi! — Dù chúng ta có lao xuống địa ngục bằng cách nào đi nữa thì cũng chẳng khác biệt là bao. Uống tiếp đi.”
“Cạn ly cho cuộc vui đêm nay; bữa tối qua chỉ là màn tập dượt thôi.”
“Rốt cuộc anh được làm bằng chất liệu gì thế hả? Tôi nhìn mãi mà chẳng thấy anh đỏ mặt, mỉm cười hay biến sắc dù chỉ một lần. Trông anh chẳng khác nào người làm bằng sắt.”
“Tôi đâu còn là cậu nhóc mười lăm tuổi. Phải có thứ gì nặng đô hơn thế mới làm tôi cười được. Đêm nay tôi sẽ cười.”
“Tôi chẳng biết có phải do vị brandy này không; nhưng có quỷ mới tha nếu anh không làm tôi thấy rợn tóc gáy khi tuyên bố tối nay mình sẽ cười đấy!”
Nói đoạn, gã thanh niên lảo đảo đứng dậy; cơn say trong hắn dường như đang tái phát.
Có tiếng gõ cửa. “Vào đi!” Chủ quán bước vào.
“Có chuyện gì thế?”
“Dưới nhà có một thanh niên xưng tên là Olivier. Hắn muốn diện kiến ông Morok.”
“Đúng lúc lắm. Bảo hắn lên đây.” Chủ quán liền lui ra.
“Một trong số người của chúng ta đây rồi, nhưng ngặt nỗi hắn đi có một mình,” Morok nói, vẻ mặt hung ác lộ rõ sự thất vọng. “Lạ thật, tôi cứ nghĩ số lượng phải đông lắm chứ. Cậu có biết mặt hắn không?”
“Olivier ư? Có chứ — hình như là một gã tóc vàng.”
“Chốc nữa là thấy mặt ngay thôi. Hắn đây rồi.” Một thanh niên với nét mặt bộc trực, quả cảm và thông minh vừa bước vào phòng.
“Ôi chao! Lão Sâu Ngủ đây mà!” hắn thốt lên khi nhận ra kẻ ngồi cạnh Morok.
“Chính là tôi. Lâu lắm rồi không gặp cậu đấy, Olivier.”
“Chuyện hiển nhiên thôi, bạn trẻ. Chúng ta có làm chung chỗ đâu.”
“Thế mà cậu lại đi một mình!” Morok kêu lên, đoạn chỉ tay về phía Sâu Ngủ và nói thêm: “Cứ tự nhiên nói trước mặt hắn — hắn là người của chúng ta. Nhưng sao cậu lại đi một mình thế này?”
“Tôi đến một mình, nhưng đại diện cho các anh em của tôi.”
“Ồ!” Morok thở phào mãn nguyện, “họ đồng ý rồi chứ.”
“Họ từ chối — y hệt như tôi vậy!”
“Cái quái gì thế, họ từ chối á? Chẳng lẽ gan tụi nó bé bằng con kiến chắc?” Morok nghiến ken két vì giận dữ.
“Nghe đây,” Olivier điềm tĩnh đáp. “Chúng tôi đã nhận được thư của anh và gặp cả người đại diện của anh rồi. Bọn tôi có đủ bằng chứng rằng hắn thực sự có liên hệ với các hội kín lớn, mà nhiều hội viên trong số đó chúng tôi đều biết mặt.”
“Tốt lắm! Thế sao các người còn chần chừ?”
“Trước hết, chẳng có gì đảm bảo là những hội nhóm đó đã sẵn sàng hành động cả.”
“Tôi bảo là sẵn sàng rồi cơ mà.”
“Hắn — bảo là — sẵn sàng rồi đấy,” Sâu Ngủ ngọng nghịu nói “còn tôi (nấc!) thì khẳng định luôn. Tiến lên! Xông vào!”
“Thế hãy còn chưa đủ,” Olivier đáp lời. “Hơn nữa, chúng tôi đã bàn bạc kỹ lưỡng. Suốt một tuần nay xưởng đã bị chia rẽ. Ngay ngày hôm qua tranh cãi đã nổ ra căng thẳng đến mức khó chịu. Nhưng sáng nay cha Simon đã triệu tập tất cả; chúng tôi đã bày tỏ rõ ràng mọi chuyện trước mặt cụ, và cụ đã thu phục lòng người, đưa tất cả về cùng một mối. Bọn tôi quyết định cứ chờ xem sao, nếu có biến cố gì xảy ra thì tính tiếp.”
“Đó là quyết định cuối cùng của các người ư?”
“Quyết định cuối cùng rồi.”
“Im lặng!” Sâu Ngủ bất ngờ thét lên, vừa dỏng tai nghe ngóng vừa chao đảo trên đôi chân lảo đảo. “Nghe cứ như tiếng một đám đông đang ồn ào ở gần đây ấy.” Quả thực, một thứ âm thanh đục ngầu đang vang lên, mỗi lúc một rõ hơn và cuối cùng trở nên vô cùng đáng sợ.
Olivier kinh ngạc thốt lên: “Âm thanh gì thế kia?”
“Giờ thì,” Morok cười nhạt với vẻ đầy nham hiểm, “tôi chợt nhớ chủ quán từng bảo trong làng đang sục sôi căm phẫn xưởng làm việc. Nếu cậu và đám đồng nghiệp đã tách rời khỏi nhóm công nhân kia như tôi từng kỳ vọng, thì chính cái đám đang gào thét ngoài kia sẽ đứng về phía cậu, thay vì chĩa mũi giáo chống lại các cậu.”
“Hóa ra đây là một cái bẫy nhằm xúi giục nửa số công nhân xưởng ông Hardy chống lại nửa còn lại!” Olivier hét lên; “anh hy vọng chúng tôi sẽ cùng phe với lũ người này để chống lại xưởng, và rằng—”
Chàng thanh niên chưa kịp dứt lời. Một tràng tiếng hò hét, tru tréo và la ó đinh tai nhức óc vang dội cả quán rượu. Cùng lúc ấy, cánh cửa bất ngờ bị đẩy mạnh, chủ quán với khuôn mặt tái mét, run lẩy bẩy lao vào phòng và hoảng hốt kêu lên: “Các ông! Có ai trong số các ông làm việc ở xưởng của ông Hardy không?”
Olivier bước lên: “Tôi đây.”
“Thế thì các ông tiêu đời rồi. Bầy Sói đang kéo đến đông nghìn nghịt ngoài kia, chúng bảo có đám Kẻ Phàm Ăn đang trốn trong này nên đòi khiêu chiến — trừ khi đám Kẻ Phàm Ăn chịu từ bỏ xưởng và sang đầu quân về phe chúng.”
Olivier trừng mắt nhìn Morok và Sâu Ngủ đầy đe dọa: “Quả nhiên là một cái bẫy! Nếu đồng đội của tôi mà kéo đến đây thì thể nào cũng sập bẫy hết lượt.”
Jacques Rennepont lắp bắp: “Tôi mà đi giăng bẫy ư, Olivier? Không bao giờ!”
Đám đông phẫn nộ đồng thanh gầm lên: “Nghênh chiến với Kẻ Phàm Ăn! Hoặc là gia nhập bầy Sói, không thì chết!” khi chúng ào ạt xông vào quán.
Chủ quán giục giã: “Đi nhanh lên!” Chẳng đợi Olivier kịp đáp lời, ông chộp lấy cánh tay anh, giật mở cánh cửa sổ dẫn ra phần mái nhà cách mặt đất không xa lắm, và bảo: “Trốn qua cửa sổ này mau, cứ trượt xuống rồi chạy thẳng ra đồng; vẫn còn kịp đấy.”

Thấy chàng thợ trẻ còn lưỡng lự, chủ quán hoảng hốt giục thêm:
“Một mình chống lại cả trăm người, cậu làm gì nổi? Chậm một phút nữa là bỏ mạng đấy. Cậu không nghe thấy chúng đang đến sao? Chúng vừa tràn vào sân và đang leo lên lầu rồi kìa.”
Quả thật, lúc này tiếng la ó, tiếng huýt sáo và tiếng hò reo càng lúc càng bạo liệt hơn; chiếc cầu thang bằng gỗ dẫn lên tầng một rung bần bật dưới những bước chân dồn dập của rất nhiều người, cùng tiếng thét sắc lẹm vang lên: “Giáp chiến với Kẻ Phàm Ăn!”
Sâu Ngủ — giờ đã gần như tỉnh rượu trước mối nguy hiểm trước mắt — hét lên: “Trốn mau đi, Olivier!”
Vừa dứt lời thì cánh cửa căn phòng lớn thông với căn phòng nhỏ nơi họ đang trú ẩn đã bị phá tung với một tiếng động kinh hoàng.
Chủ quán chắp tay tuyệt vọng: “Chúng đến rồi kìa!” Đoạn, ông lao về phía Olivier, gần như đẩy xô anh ra ngoài cửa sổ; bởi lúc này một chân đã đặt lên bệ cửa mà chàng thợ trẻ vẫn còn chần chừ.
Cửa sổ vừa đóng lại thì chủ quán quay phắt người hướng về phía Morok, cũng là lúc nhóm cầm đầu bầy Sói vừa phá cửa xông vào phòng lớn, trong khi đồng bọn của chúng đang gào thét vang trời ở ngoài sân lẫn trên cầu thang. Tám hay mười kẻ cuồng loạn bị đám đông kích động đã lao đầu tiên vào phòng, gương mặt đỏ bừng vì men rượu và cơn thịnh nộ; hầu hết lăm lăm gậy gộc dài trong tay. Một gã thợ nổ mìn vạm vỡ có thể hình và sức mạnh như lực sĩ Hercules, đầu quấn chiếc khăn đỏ cũ kỹ với tua rua rách rưới xõa qua vai, mình khoác chiếc áo da cừu rách rưới, đang lăm lăm thanh xà beng khoan đá và tỏ vẻ chỉ huy đám đông. Với đôi mắtằn gân đỏ ngầu cùng vẻ mặt hung hãn tàn bạo, hắn tiến thẳng về phía căn phòng nhỏ như muốn đánh bật Morok ra, rồi gầm lên như sấm:
“Lũ Kẻ Phàm Ăn đâu rồi?—bầy Sói sẽ nuốt sống tụi bay!”
Chủ quán vội vã mở toang cửa phòng nhỏ, thanh minh: “Các bạn ơi, chẳng có ai ở đây cả — không một bóng người. Các vị cứ tự nhiên vào kiểm tra đi.”
Gã thợ mỏ ngó nghiêng vào trong phòng tỏ vẻ ngạc nhiên: “Đúng thế thật; chúng trốn đâu mất tiêu rồi nhỉ? Người ta bảo có cả tá mống trong này cơ mà. Lẽ ra chúng phải cùng tụi tao hành quân đi đập phá xưởng rồi, bằng không sẽ có một trận thư hùng và bầy Sói sẽ cho chúng nếm mùi lợi hại!”
Một tên khác tiếp lời: “Nếu chúng chưa tới thì thể nào cũng tới thôi. Cứ chờ xem.”
“Đúng, đúng; cứ đợi chúng xem sao.”
“Rồi tụi mình sẽ giáp mặt nhau cho ra ngô ra khoai.”
Morok châm chọc: “Nếu bầy Sói muốn tìm Kẻ Phàm Ăn, sao không kéo nhau đến gào thét quanh cái xưởng của lũ vô thần khốn nạn kia kìa? Chỉ cần bầy Sói tru lên một tiếng là chúng sẽ khắc chui đầu ra nghênh chiến ngay thôi.”
Sâu Ngủ cũng lảm nhảm nhắc lại: “Chúng sẽ — nghênh chiến với tụi mày.”
Morok bồi thêm: “Trừ phi bầy Sói đang sợ đám Kẻ Phàm Ăn.”
Gã thợ nổ mìn lực lưỡng gầm lên giận dữ, tiến sầm sập về phía Morok: “Đã mở mồm ra chê tụi tao nhát gan thì mày phải đi cùng để chứng minh xem đứa nào mới là kẻ sợ hãi!”
Hàng loạt giọng nói hùa theo: “Ai bảo bầy Sói sợ đám Kẻ Phàm Ăn cơ chứ?”
“Chưa bao giờ có chuyện đó nhé!”
“Đánh đi! Giáp chiến cho dứt điểm đi!”
“Tụi tao chán ngấy cái cảnh này lắm rồi. Cớ sao chúng được sung sướng hạnh phúc còn tụi tao lại khốn cùng thế này?”
Một tay chân sai vặt của Nam tước Tripeaud rống lên: “Chúng dám bảo thợ mỏ chỉ là lũ vô tri, sinh ra chỉ để quay bánh xe trong hầm mỏ chẳng khác nào chó quay lò nướng.”
Tên khác bồi thêm: “Và rằng đám Kẻ Phàm Ăn sẽ dùng da sói để may mũ đội.”
Tay sai của gã linh mục giảng đạo gào lên: “Cả vợ lẫn chồng chúng chẳng bao giờ đi lễ nhà thờ. Chúng toàn lũ ngoại đạo với đám súc sinh!”
“Đàn ông muốn giữ ngày Chủ nhật thế nào mặc xác họ; nhưng đến vợ con chúng mà cũng bỏ bê lễ lạc thì quả là không thể chấp nhận được.”
“Thế nên cha xứ mới bảo cái xưởng đầy tội ác ấy có thể rước dịch tả về vùng này là vì thế.”
“Chuẩn đấy chứ? Ngài giảng thế trong bài kinh mà.”
“Vợ tụi mình nghe thấy tận tai cơ mà.”
“Đúng thế, đúng thế; đập nát cái xưởng của lũ Kẻ Phàm Ăn định rước dịch tả về làng đi!”
Cả đám đông đồng thanh gầm rú: “Muôn năm chiến đấu!”
Morok thét lên với chất giọng vang dội như chuông đồng: “Tiến về xưởng thôi, những chú Sói dũng mãnh của ta! Xông lên xưởng nào!”
“Đúng! Tới xưởng thôi! Xưởng thẳng tiến!” đám đông dậm chân rầm rầm hưởng ứng; bởi chẳng mấy chốc, tất cả những kẻ có thể chen chân vào phòng hay leo lên cầu thang đều đã tụ họp kín mít ở đây.
Những tiếng thét gào cuồng loạn kéo Jacques trở về thực tại trong giây lát, hắn thì thầm với Morok: “Anh định khơi mào một cuộc tàn sát đấy à? Tôi xin rửa tay gác kiếm đấy nhé.”
Morok đáp lời: “Chúng ta sẽ kịp phao tin cho xưởng biết. Cứ đánh lừa tụi này dọc đường là được.” Đoạn, hắn lớn tiếng quát vị chủ quán đang tái mặt vì sợ hãi cảnh hỗn loạn: “Brandy! — mang rượu ra đây để chúng ta cạn chén chúc sức khỏe bầy Sói dũng mãnh! Tao khoản đãi tất!” Hắn ném một nhúm tiền cho chủ quán, lão ta biến đi rồi quay lại ngay với mấy chai brandy cùng vài chiếc ly.
Morok quát lớn: “Gì thế này? Ly với cốc ư? Những chiến hữu chí cốt như chúng ta mà lại uống rượu bằng ly à?” Nói đoạn, hắn giật tung một nút chai, ngửa cổ dốc thẳng miệng chai vào họng, làm một hơi cạn sạch rồi chuyền tay sang cho gã thợ mỏ khổng lồ.
Gã thợ nổ mìn nhận lấy chai rượu: “Thế mới phải phép chứ! Cạn ly chào mừng bữa nhậu này nào! — Thằng nào từ chối thì chỉ là đồ hèn nhát, vì thứ thuốc này sẽ mài sắc răng của bầy Sói đấy!”
Morok vừa đi phát các chai rượu vừa hô: “Cạn sức khỏe anh em nhé!”
Sâu Ngủ lầm bầm: “Rồi thể nào cũng có đổ máu cho xem.” Dù đang ngấm men say, hắn vẫn nhận thức rõ ràng mối hiểm họa từ những lời kích động chết người này. Quả thực, một phần lớn đám đông đã ùn ùn rời khỏi sân quán rượu và tiến như vũ bão về phía xưởng của ông Hardy.
Phần lớn những thợ thuyền và người dân trong làng không muốn dính líu đến cuộc bạo động này đã chọn cách né tránh khi đoàn người hung hãn đi qua con phố chính; nhưng bù lại, rất nhiều phụ nữ bị kích động cuồng tín bởi các bài giảng của vị linh mục đã hò hét cổ vũ cho đoàn quân hiếu chiến. Dẫn đầu đoàn người là gã thợ nổ mìn vạm vỡ đang lăm lăm thanh xà beng đáng sợ, theo sau là một đám đông hỗn tạp tay gậy tay đá. Đầu óc còn đang chếnh choáng hơi men, chúng đã đạt đến trạng thái cuồng loạn tột độ. Gương mặt mỗi tên đều dữ tợn, hằn học và đáng sợ. Sự trỗi dậy của những bản năng tăm tối nhất này dường như đang báo trước những hậu quả vô cùng thảm khốc. Khoác tay nhau đi thành từng nhóm bốn năm người, bầy Sói trút hết sự kích động vào những khúc ca chiến trận kết thúc bằng những câu thơ sau:
Tiến lên! vững dạ kiên cường!
Thử ngay tay thép phi thường xông pha!
Xưa nay sự khôn đã già;
Nay ta chứng tỏ chẳng hề biết sợ!
Dòng dõi vua hiền muôn thuở,(28)
Hôm nay há sợ sờn lòng,
Dù cho thắng trận hay vong,
Dù khi bỏ mạng, dù hòng vinh quang!
Hỡi con cháu Solomon hùng vương vĩ đại,
Hãy cùng nhau chung sức ra tay,
Cho đến lúc ca vang khúc khải hoàn ngày chiến thắng!
Morok và Jacques đã biến mất từ lúc nào trong lúc đám đông náo loạn rời quán rượu để kéo đến xưởng làm việc.
(27) Xin được ghi nhận, để làm rạng danh giai cấp công nhân, rằng những cảnh tượng phẫn nộ như thế này ngày càng hiếm hoi khi họ được giác ngộ đầy đủ về giá trị bản thân. Những xu hướng tiến bộ ấy có được là nhờ ảnh hưởng đúng đắn từ một tiểu luận tuyệt vời về các liên đoàn lao động do ông Agricole Perdignier chấp bút và xuất bản năm 1841 tại Paris. Tác giả này, vốn là một thợ mộc, đã tự túc lập ra một cơ sở tại khu Faubourg St. Antoine, nơi khoảng bốn, năm mươi thợ mộc cùng ngành được trọ học và theo học các lớp hình học ứng dụng vào nghệ thuật chạm khắc gỗ sau giờ làm. Chúng tôi từng dự một buổi giảng và nhận thấy sự minh bạch ở người giảng viên cũng như sự chăm chú, thông minh ở người nghe. Đúng mười giờ, sau khi đọc xong các trích đoạn, toàn bộ học viên giải tán đi ngủ, dù với mức lương cạn kiệt, có khi bốn người phải chen chúc trong một phòng. Ông Perdignier cho chúng tôi hay rằng việc học tập và trau dồi kiến thức có sức mạnh cải tạo lớn lao đến mức suốt sáu năm trời, ông chỉ phải đuổi duy nhất một học viên. “Chỉ ít ngày,” ông nhận xét, “những quả trứng ung sẽ tự nhận ra đây không phải chỗ để chúng làm thối rữa những quả trứng lành!” Kính thưa độc giả, chúng tôi rất đỗi vui mừng khi được bày tỏ lòng tôn kính công khai đối với một con người uyên bác, chính trực và tận tụy vì anh em lao động.
(28) Bầy Sói (cùng nhiều hội nhóm khác) quy nguồn gốc lập hội của chúng về Vua Solomon. Xin đọc tác phẩm kỳ thú của ông Agricole Perdignier — nguồn trích dẫn khúc ca chiến trận nói trên.