Đại điển xưng vương vừa kết thúc, Triệu Ung lại tất tả ngược xuôi lên phía bắc. Vừa đến Nhạn Môn quan, ông liền triệu tập Đại tướng Triệu Cố - người đang huy động binh lính ở Bình Thành, Bình Thành tướng quân Ngưu Tán, và Nhạn Môn tướng quân Liêm Pha đến bàn bạc cơ mật.
"Ta muốn thiết lập quận Vân Trung, các vị thấy thế nào?" Triệu Ung vẫn thẳng thắn như mọi khi.
Ba vị đại thần biên ải tức thì mở to hai mắt, nhưng đều im lặng không nói một lời. Vẻ kinh ngạc ngẩn ngơ của họ khiến Triệu Ung không kìm được mà cười ha hả: "Thế nào? Sợ rồi sao? Không dám tiến trú Vân Trung ư?"
"Thần bẩm đại vương," Đại tướng Triệu Cố là đại thần chính trị duy nhất tại tọa cai quản một phương, trong những đại sự quốc gia thế này tự nhiên không thể trông chờ hai vị tướng quân nói trước, bèn cẩn trọng mở lời, "Vân Trung tuy là vùng giằng co của các bên, thế nhưng yếu 1dian Vân Trung và Vạn Lý Trường Thành xưa nay vẫn là trọng trấn phía bắc nước Tần. Ta mà lập quận trú quân, rõ ràng là gây hấn với nước Tần, nhìn vào đại thế trước mắt, dường như bất lợi cho nước Triệu."
"Triệu tướng sai rồi!" Lão Ngưu Tán hào sản cất cao giọng, "Trường thành Vân Trung thuộc nước Tần là không sai, thế nhưng thảo nguyên Âm Sơn ngoài Trường Thành xưa nay vốn là nơi Hung Nô chiếm cứ. Tướng sĩ Triệu quân ta tắm máu đại chiến Hung Nô, dẹp yên họa hồ ở Âm Sơn và Hải Tử, cớ sao lại không thể lập quận Vân Trung?"
"Liêm Pha cho rằng, quận Vân Trung có thể lập, nhưng trị sở bắt buộc phải xây thành ở Hải Tử." Liêm Pha điềm đạm từng trải lần đầu tiên không đợi quân chủ hỏi đã lên tiếng.
"Lạ thật lão huynh!" Ngưu Tán ngạc nhiên cười lớn, "Xây thành làm trị sở ở Hải Tử thì còn gọi gì là quận Vân Trung nữa?"
"Chẳng lẽ ngươi hiện tại đã cướp được Vân Trung rồi sao?" Lão Liêm Pha mặt đen sì, nghiêm túc nói, "Mức độ trong chuyện này, đại vương nhà ta đã đong đếm rồi."
"Hay lắm! Lão tướng quân hiểu lòng ta." Triệu Ung vỗ hai tay cười nói, "Các ngươi hãy suy ngẫm xem: Hiện tại bảy nước chư hầu đều xưng vương, Yên Tề đều suy, Ngụy Hàn đều yếu, nước Tần ngày càng suy sụp; phóng mắt nhìn quốc lực quân lực thiên hạ, chỉ có nước Tần là sắp trở thành đối thủ thực sự của nước Triệu ta! Vào lúc này, dẫu là thăm dò hư thực, dẫu là phòng bị từ trước, việc thiết lập quận Vân Trung đều là một nước cờ mở đầu. Triệu Cố nói bất lợi cho nước Triệu, là cảm thấy ta ra tay quá sớm. Sách lược của lão tướng quân Liêm Pha vẹn toàn cả đôi đường, vừa chiếm Âm Sơn đè đỉnh đầu nước Tần, vừa lùi trị sở giảm bớt địch ý của nước Tần, quả thực đạt được tinh diệu của việc tiếp xúc cường địch lần đầu."
"Thần đã hiểu!" Triệu Cố chợt vỡ lẽ, "Đại quân đóng ở Âm Sơn, trị sở đóng ở Hải Tử, tiến lùi đều tự do!"
"Chính là thế." Triệu Ung cười nói, "Liêm Pha lão tướng quân, ngươi kiêm nhiệm chức Vân Trung tướng, lập tức trù tính việc xây thành ở Hải Tử, thiết lập quan thự và dời dân vào, trước tiên làm cho quận Vân Trung náo động lên đã. Còn Triệu Cố và Ngưu lão tướng quân, chiêu mộ người Hồ thành lập quân đội, chuyện này xưa nay chưa từng có. Trong vòng hai năm, nhất định phải hoàn thành việc này."
Ngưu Tán hào sảng vỗ bàn: "Đại vương chớ lo, Lâm Hồ và Đông Hồ đã quy thuận, người Hồ tráng kiện nhập ngũ vốn là phong tục, còn hăng hái hơn cả người Triệu ta! Hai mươi vạn đại quân, hai năm sau nhất định sẽ là một nhánh tinh binh!"
Triệu Cố lại nói: "Liêm Pha lão tướng quân kiêm nhiệm Vân Trung tướng, thế thì đại quân ở Âm Sơn do ai thống lĩnh?"
Triệu Ung cười nói: "Chuyện này trẫm đã tính toán: Lâu Hoãn đi sứ trở về liền lập tức lên phía bắc, nhậm chức Vân Trung tướng, Liêm Pha lão tướng quân trở về đại quân tiến trú Âm Sơn."
"Đại vương lần này lên phía bắc, dường như có mưu đồ khác?" Triệu Cố thấy Triệu vương cười vô cùng thần bí, không khỏi hoài nghi.
"Chỉ ba người các ngươi biết là được." Triệu Ung vẻ mặt nghiêm nghị, "Ta muốn nam hạ Hàm Dương, thám sát nước Tần."
"A!" Cho dẫu cả ba người đều có tài lược hơn người, cũng phải kêu lên một tiếng kinh ngạc, thậm chí còn kinh ngạc hơn cả khi vừa nghe tin thiết lập quận Vân Trung lúc nãy. Triệu Ung thừa biết ba người nhất định sẽ hết lời khuyên can, liền dứt khoát xua tay nói: "Ta đã có mưu hoạch chu toàn, ba người không cần lo lắng, cứ làm tốt việc của mình là được." "Không! Đại vương không thể mạo hiểm!" Ngưu Tán vẫn mặc kệ đứng phắt dậy, "Tần là nước hổ lang, đại vương dẫu có anh hùng coi nhẹ sinh tử, cũng nên lấy đại cục nước Triệu làm trọng!" "Lời của lão tướng quân rất đúng! Đại vương không thể mạo hiểm!" Triệu Cố và Liêm Pha cũng đồng thanh nói.
Triệu Ung cười ha hả: "Mọi việc trên đời, việc gì mà không có hiểm nguy? Tần Hiếu Công năm xưa chẳng phải một mình đi chịu hiểm, mới có thể biến pháp cường Tần sao? Người Tần làm được, người Triệu ta cớ gì không làm được? Vì nghẹn mà bỏ ăn, thì chỉ có rúc trên đầu kang mà thôi, còn bàn gì đến đại nghiệp?"
"Đã như vậy, lão Ngưu xin làm hộ vệ cho đại vương!" Ngưu Tán mặt đỏ bừng lớn tiếng kêu lên.
Triệu Ung cười nói: "Lão tướng quân nói đùa rồi. Chỉ sợ chưa qua nổi Vân Trung, người Tần đã sớm nhận ra vị mãnh tướng biên cương các ngươi rồi." Sắc mặt bỗng chốc trầm xuống, "Các ngươi không cần nói nhiều nữa. Chỉ cần nhìn ta đại chiến Hung Nô ở Âm Sơn, nước Tần chẳng những không giậu đổ bìm leo, mà còn định ra tay tương trợ, thì sẽ rõ khí độ thiên hạ của nước Tần. Không tự mình đong đếm nước Tần một phen, Triệu Ung vĩnh viễn sẽ không cam tâm."
Ba vị đại thần không khỏi nhìn nhau im lặng. Khí độ anh hùng và gan dạ hơn người của vị Triệu vương này, hơn hai mươi năm qua đã thể hiện một cách trọn vẹn ở nước Triệu, những hành động kỳ lạ độc đáo đi theo lối riêng dám làm những chuyện tưởng chừng không thể tin nổi, càng thường xuyên khiến cho những vị tướng quân trăm trận trăm thắng này kinh ngạc không thôi. Mười chín năm nhẫn nhịn không phát, âm thầm đẩy mạnh biến pháp, công khai tự hạ thấp quốc cách, sự dẻo dai kiên cường ấy dẫu Việt Vương Câu Tiễn cũng chưa chắc sánh bằng; nhưng hễ phát ra là khiến người ta kinh ngạc: Hồ phục kỵ xạ, đại quân cải chế, Lâm Hồ phó hiểm, Bắc Hải cùng truy, Âm Sơn huyết chiến, có lần nào là không kinh tâm động phách? Xưa nay quân vương không dẫn binh, nhưng Triệu Ung thì trận nào cũng làm soái, thương tích đầy mình vẫn xung phong trận mạc, để rồi trở thành quân hồn thiên thần thực sự của Triệu quân, chỉ cần có Triệu vương dẫn binh, Triệu quân liền sát khí ngút trời trăm trận trăm thắng! Phàm là những điều này, đại trí đại dũng của Triệu Ung đã khiến triều đình và dân gian nước Triệu tâm phục khẩu phục, mà nay Triệu vương quyết ý nam hạ nước Tần, có lẽ chính là ý trời khiến nước Triệu vẫy vùng thiên hạ, thân là bề tôi, sao có thể cố ý trái mệnh?
Sáng sớm hôm sau, Nhạn Môn quan bay ra một đội kỵ mã, lao đi như bay trong thảo nguyên khô vàng hướng về phía quận Vân Trung rồi đi vào Trường Thành, bước vào Thượng quận của nước Tần. Ba ngày sau, đội kỵ mã này từ Bắc Địa quận đi vào Quan Trung, đi vào Hàm Dương.
Hôm nay, Tần Chiêu Vương đang cùng Ngụy Nhiễm, Bạch Khởi bàn thảo về sách lược ứng phó sau khi nước Triệu xưng vương, thì Trường sử Vương Kê lại dẫn theo Quan thị vội vã đi vào bẩm báo: Thượng Thương Phường có một thương nhân ngựa người Hồ khí phách kinh người, muốn dùng ba ngàn con tuấn mã để đổi ba triệu cân tinh thiết của "quan thị", xin phê chuẩn quyết định. Thượng Thương Phường vốn là khu thương nghiệp sáu nước Sơn Đông được nước Tần đặc thiết ở Hàm Dương, còn "quan thị" lại là cửa hàng mua bán lớn nhất do phủ khố nước Tần thiết lập ở Thượng Thương Phường, chuyên thu mua hàng hóa nước Tần đang cần gấp, đồng thời bán ra những đồ vật tồn kho của phủ khố nước Tần. Tinh thiết là nguyên liệu làm binh khí, nước Tần xưa nay nghiêm ngặt cấm chảy ra ngoài, tuấn mã lại là vật kỵ binh cần gấp, nước Tần xưa nay mua vào số lượng lớn. Hôm nay bất ngờ có người dùng tuấn mã đổi tinh thiết, lại số lượng kinh người như thế, nhất thời cả ba người Tần Chiêu Vương đều ngẩn người.
"Lạ thật!" Thừa tướng Ngụy Nhiễm kinh ngạc trước tiên, "Một mã thương mà muốn ba triệu cân tinh thiết? Người Hồ phương nào?"
"Hắn tự xưng là: Lâm Hồ mã thương Ô Tư Đan." Quan thị cẩn thận đáp.
Bạch Khởi nhíu mày: "Dùng vật nước Tần đang cần gấp mua vào, để đổi lấy vật nước Tần nghiêm cấm chảy ra ngoài, chuyện này có chút kỳ lạ."
"Trường sử," Tần Chiêu Vương phất tay, "Mời vị mã thương này vào cung, không được làm ồn ào là được."
"Thần rõ." Vương Kê đáp một tiếng, liền dẫn Quan thị vội vã rời đi.
Hơn nửa canh giờ sau, liền nghe hành lang điện phía đông truyền đến tiếng bước chân chắc nịch rõ ràng, mắt Bạch Khởi chợt sáng lên, tiếp đó liền thấy Vương Kê bước nhanh vào bẩm báo nhỏ giọng, Lâm Hồ mã thương đã ở hành lang ngoài điện. Tần Chiêu Vương gật đầu, Vương Kê liền quay người bước nhanh vòng qua tấm bình phong gỗ màu đen cao lớn bước ra cửa điện. Thoáng chốc, tiếng bước chân chắc nịch rõ ràng ấy đã nện vào, tiếng bước chân dồn dập vụn vặt của Vương Kê hoàn toàn không thể che giấu được sức nặng tựa đá tảng nện xuống đất. Ánh mắt ba người Tần Chiêu Vương không kiềm chế được mà cùng lúc dồn về phía tấm bình phong gỗ cao lớn, thoáng chốc đều giật mình!
Từ sau tấm bình phong lớn bước ra một người Hồ kỳ lạ chưa từng thấy – một chiếc áo ngắn da lộn lông cừu trắng muốt, quần da bó sát nhét một nửa vào trong đôi ủng chiến cổ cao, quanh lưng thắt một chiếc đai bản màu đỏ sậm rộng hơn sáu tấc, bên trái khảm một chiếc nỏ cơ đồng cỡ nhỏ, bên phải giắt một thanh cong đao vỏ da khảm ngọc; đầu đội một chiếc mũ da lớn lông cừu màu đỏ rực, mái tóc dài màu xám trắng xõa trên hai vai, trên khuôn mặt to sần sùi ngăm đen là bộ râu quai nón đan xen tua tủa như nhím, chiếc mũi cao vẳng thẳng tắp ánh lên sắc đỏ rỗng tuếch, trong đôi mắt trũng sâu lại là hai luồng quang mang u lam. Vóc dáng tuy không phải rất cao lớn, nhưng đứng sừng sững giữa điện, lại vững chãi tựa núi non không thể lay động.
"Lâm Hồ mã thương Ô Tư Đan, bái kiến Tần vương." Mã thương giơ tay trái lên, sau đó hai tay chắp lại, thực hiện một lễ nghi chuẩn mực của người Hồ.
Tần Chiêu Vương cười ngạc nhiên: "Quý thương từ xa đến, xin mời vào chỗ ngồi nói chuyện." Xoay người lớn tiếng phân phó, "Người đâu, ba tước rượu Tần!"
Ô Tư Đan cười ha hả: "Người Hồ thích uống rượu, ba tước chỉ thấm kẽ răng! Lừng danh rượu Tần mãnh liệt, ít nhất phải một vạc mới đã ghiền."
"Đúng là trang anh hùng người Hồ!" Tần Chiêu Vương thuở thiếu thời cũng từng sống chung với người Hồ trong loạn cục nước Yên, rất rõ tử lượng mãnh liệt của người Hồ, chớp mắt cảm thấy vô cùng thân thiết, vỗ bàn liền nói: "Một vạc phong tửu trăm năm!"
Vương Kê đứng trang nghiêm một bên phất tay, hai tiểu nội thị liền khiêng tới một chiếc bàn đựng rượu: ở giữa là một cái vạc đất nung màu bùn, hai bên bày lần lượt cái môi gỗ cán dài để múc rượu cùng ba chiếc tước đựng rượu. Tần Chiêu Vương cười chỉ vào bàn rượu: "Rượu Tần già một vạc sáu cân, anh hùng chia tước uống từ từ nhé." Ô Tư Đan lại cười ha hả, nhưng không nói gì, chỉ đứng dậy đi tới bên bàn rượu nhắc cái vạc rượu đã được mở phong, giơ thẳng lên miệng, ngửa cổ lên uống cạn như cá voi nuốt nước sông, không thấy tiếng cổ họng ừng ực, lại càng không có một giọt rượu nào vương vãi, chỉ nghe một tiếng húp hút nước nhỏ thanh, thoáng chốc, Ô Tư Đan đã nện bịch vạc rượu xuống bàn, "Quả nhiên là rượu ngon!"
Cú này, chẳng những Tần Chiêu Vương đại kinh ngạc, mà ngay cả một người hào sảng quá mức như Ngụy Nhiễm và Bạch Khởi có can đảm trời phú cũng phải kinh ngạc. Trong Tần quân không thiếu những dũng sĩ uống rượu như hũ chìm, nhưng muốn tìm người một hơi uống cạn một vạc rượu mạnh Tần quốc mà không vương vãi một giọt, e rằng còn khó hơn lên trời. Năm xưa Bạch Khởi làm tốt trưởng, dưới trướng có hai đại lực thần Mạnh Bôn và Ô Hoạch một lần có thể uống sáu vạc rượu già nước Tần, nhưng đó là kiểu uống ào ạt ừng ực, nước rượu bắn tung tóe dọc khóe miệng khiến áo giáp cũng đẫm ướt, sao có thể so sánh với cách uống gọn gàng dứt khoát này của Ô Tư Đan chứ?
"Ô Tư Đan, quả là trang anh hùng hào kiệt!" Tần Chiêu Vương không khỏi vỗ bàn lớn tiếng tán thán.
Ô Tư Đan lại liên tục xua tay, "Uống mấy vạc rượu, tính là anh hùng gì chứ? Chỉ là người Trung Nguyên các người không biết người Hồ mà thôi, bầu da đựng đậu ngựa, thường uống ừng ực giữa lúc chiến mã phi nước đại, lâu ngày, bầu da vừa chạm miệng thì cái bụng rỗng này chính là thung lũng trống không, cái miệng rộng chính là cửa thung lũng hút gió, một hơi nuốt hút, thì có gì là khó?"
"Nói như vậy, ngươi có thể một hơi hút cạn một bầu đậu ngựa?" Tần Chiêu Vương càng thêm kinh ngạc.
"Bầu da của kỵ sĩ, mỗi bầu tám cân đậu ngựa, chính là lương thực quân đội trong hai ngày, không thể một hơi hút cạn."
Sắc mặt Ngụy Nhiễm bỗng chốc âm trầm: "Vị Ô Tư Đan này, ngươi rốt cuộc là mã thương? Hay là tướng quân Lâm Hồ?"
Ô Tư Đan cười nói: "Là mã thương, cũng là tướng quân. Người Hồ chúng ta không phân biệt quan thương, ra ngoài làm mã thương, về đến nhà chính là tướng quân ra trận. Thừa tướng không biết phong tục của người Hồ sao?"
"Sao ngươi biết ta là Thừa tướng?" Ngụy Nhiễm bỗng nhiên đổi giọng sắc bén.
Ô Tư Đan cười ha hả: "Là chim ưng thì phải bay trên trời, là tuấn mã thì phải chạy trên thảo nguyên, kẻ mục dân lang thang nào mà không nhận ra chúng? Ngươi là Thừa tướng Ngụy Nhiễm, hắn là Thượng tướng quân Bạch Khởi, người Hồ chúng ta lẽ nào lại không nên biết?"
"Lâm Hồ đã bị nước Triệu truy sát đến Bắc Hải, mấy hôm trước lại quy thuận nước Triệu, cần vạn cân tinh thiết để làm gì?" Ngụy Nhiễm bỏ qua câu chuyện, một câu chĩa thẳng vào trọng tâm.
"Bầy sói bước vào thảo nguyên, mục dân liền phải xây cho bầy cừu hàng rào vững chắc, rèn cho bầy sói những thanh đao chiến sắc bén."
Ánh mắt Tần Chiêu Vương lóe lên: "Nói như vậy, Lâm Hồ vẫn còn chí lớn báo thù?"
"Cướp thảo nguyên của ta, giết tộc nhân của ta, đuổi ta đến chốn băng giá buốt giá, nếu là anh hùng Trung Nguyên thì sẽ thế nào?"
Tần Chiêu Vương suy nghĩ một lúc liền nói: "Lâm Hồ muốn một mình báo thù? Hay là kết liên với Hung Nô cùng nhau báo thù?"
"Đao chiến còn chưa được rèn, thợ săn còn chưa bước vào bãi săn, làm sao biết được người bạn cùng đi săn?"
Tần Chiêu Vương nghiêm nghị nói: "Nếu tướng quân là đặc sứ của Lâm Hồ thiền vu, thì xin hãy nói thẳng: Nếu nước Tần giao dịch với ngươi, Lâm Hồ sẽ thế nào?"
Khuôn mặt đen sạm sần sùi của Ô Tư Đan đỏ bừng lên, dưới sự kích thích của hơi rượu dường như càng thêm phấn khích: "Đại bang nếu bán cho ta ba triệu cân tinh thiết, mười vạn dũng sĩ Lâm Hồ ta sẽ đoạt lại thảo nguyên hai hải, mãnh công sau lưng nước Triệu! Nếu nước Tần có thể từ phía nam kẹp đánh nước Triệu, thì Lâm Hồ và nước Tần, liền chia nhau con cừu béo nước Triệu này!"
"Sau đó thì sao?" Tần Chiêu Vương mỉm cười.
"Nước Tần là chim ưng trên trời, nước Triệu là cáo thỏ dưới đất. Lâm Hồ quy thuận nước Tần!"
"Ồ, cuối cùng cũng lòi cái đuôi ra rồi." Tần Chiêu Vương cười ha hả.
"To gan!" Ngụy Nhiễm vỗ bàn đứng phắt dậy, "Người Hồ Hung Nô, mấy trăm năm cướp bóc Trung Nguyên xâm lược Hoa Hạ, nay lại muốn mượn sức mạnh nước Tần để quay trở lại, dã tâm lang sói thật là cuồng vọng biết bao! Nay ta nói rõ cho ngươi hay: Nước Triệu xua đuổi người Hồ là tráng cử của Hoa Hạ! Nước Tần sao có thể giậu đổ bìm leo? Nước Triệu đại chiến với Hung Nô, thì đã có mười vạn thiết kỵ Đại Tần của ta ở phía sau! Dẹp xong họa hồ, dẫu nước Triệu có đối địch với nước Tần, thì đó cũng là cuộc tranh giành giữa các nước bang quốc Hoa Hạ, Tần và Triệu tự khắc sẽ quang minh chính đại quyết chiến trên chiến trường! Các ngươi là những kẻ tiểu nhân ngoại địch nếu dám đục nước béo cò, hãy cẩn thận Tần Triệu liên thủ, lột sạch hai mươi vạn tấm da sói của các ngươi!" Ngụy Nhiễm vốn có tính cách hào sảng sắc bén, lời nói này chẳng khác nào tiếng sét đánh, làm vang dội cả đại điện.
"Đúng là một con chim ưng!" Ô Tư Đan kia lại ánh mắt sáng ngời giơ ngón cái lên cao giọng tán thán, "Người Hồ tuy đối địch với Trung Nguyên, nhưng lại kính trọng bạn bè anh hùng. Thừa tướng mắng hay lắm!" Cười ha hả, nhưng lại vừa hạ thấp giọng vô cùng thần bí hướng về phía Tần Chiêu Vương, "Ô Tư Đan đã nghe nói, nước Triệu muốn thiết lập quận Vân Trung, chẳng phải là khi dễ đến đầu nước Tần rồi sao, nước Tần thực sự không hận nước Triệu ư?"
Trên mặt Tần Chiêu Vương lộ nụ cười, giọng điệu lại vô cùng nghiêm túc: "Mật sứ Lâm Hồ Ô Tư Đan hãy ghi nhớ cho kỹ: Nước Tần nước Triệu, cùng giống cùng gốc, dẫu có tranh chấp, tự có đạo lý đại tranh quy nhất. Còn với ngươi Lâm Hồ, thì hoàn toàn không liên quan."
Ánh mắt Ô Tư Đan bỗng chốc thu lại, im lặng hồi lâu, đột nhiên đứng dậy nói: "Nước Tần không quên cùng giống cùng gốc, chính là bang quốc đại nghĩa. Ô Tư Đan kính trọng quân thần nước Tần!" Nói xong liền cúi sâu người hành lễ với Tần Chiêu Vương, thẳng người lại tiếp tục hào sảng chắp tay, "Buôn bán không thành, Ô Tư Đan xin cáo từ." Xoay người bước lớn nện cộp cộp đi ra ngoài, thoáng chốc, tiếng cười ha hả vang như chuông đồng vang vọng trong hẻm núi của cung điện.
"Bạch Khởi, ngươi thấy vị Ô Tư Đan này thế nào?" Tần Chiêu Vương nhìn Thượng tướng quân nãy giờ vẫn không lên tiếng.
Bạch Khởi thản nhiên cười: "Theo thần suy đoán, người này tuyệt không phải là mã thương Lâm Hồ, cũng không phải mật sứ Lâm Hồ."
"Ồ? Vậy là người nào?"
"Có lẽ chính là Triệu Ung mới xưng vương gần đây."
"A——!" Tần Chiêu Vương và Ngụy Nhiễm không khỏi toàn thân chấn động.
"Thúc phụ của thần là Bạch Sơn, năm xưa từng mấy lần hộ tống Thừa tướng Trương Nghi vào Triệu, từng gặp Thái tử Triệu Ung năm đó, sau đó mấy lần nói với thần về tướng mạo khác thường của Triệu Ung. Hôm nay để tâm quan sát, mơ hồ trùng khớp."
"Sao không vạch trần ngay tại chỗ?" Ngụy Nhiễm vội vàng truy vấn.
Bạch Khởi cười: "Thừa tướng không cảm thấy kết quả hôm nay là tốt nhất sao?"
Tần Chiêu Vương chợt vỡ lẽ dậm chân nói: "Nói mau! Có đuổi theo tên này không, Triệu Ung ấy!"
Ngụy Nhiễm lập tức nói: "Bạch Khởi đã lên tiếng, ngươi vẫn luôn suy tính, chắc chắn đã có tính toán rồi!"
"Không những không thể đuổi, mà còn phải bí mật bảo vệ Triệu Ung xuất quan." Bạch Khởi đứng dậy, "Có Triệu Ung ở đây, Tần Triệu ít nhất mười năm không có đại chiến. Thần đang định trở về Lam Điền đại doanh, chuyện này cứ để thần sắp xếp."
"Triệu Ung? Thật là không thể tưởng tượng nổi!" Tần Chiêu Vương thở dài một hơi dài, tựa người vào bàn ngự lầm bầm một mình, "Không thể tin nổi! Thật sự không thể tin nổi!"
Bạch Khởi và Ngụy Nhiễm vừa đi, Tần Chiêu Vương liền nhận được mật báo của Vân Trung tướng quân: Triệu vương giả trang làm mã thương vùng đất Hồ, dẫn theo một đội kỵ sĩ trăm người bí mật bước vào nước Tần! Tần Chiêu Vương cầm bức thư phong kín lông vũ, ngẩn ngơ mất nửa ngày không nói lời nào.
Trở về Hàm Dương, trời đã ấm băng tan, Triệu Ung vậy mà đóng cửa suốt mười ngày không ra khỏi cửa.
Chuyến đi nước Tần đã tạo ra sự chấn động quá lớn đối với Triệu Ung. Ông vứt bỏ con đường chính đạo của sứ giả bang giao mà dùng phương thức kỳ lạ như vậy để nam hạ, xét từ căn bản, chính là muốn thực sự thăm dò ra giới hạn thủ đoạn tranh bá thiên hạ đặc biệt là đối kháng với nước Triệu của nước Tần, nói cách khác, liệu sự bành trướng tranh bá của nước Tần có bất chấp thủ đoạn không từ thủ đoạn nào hay không? Cụ thể mà nói, chính là nước Tần rốt cuộc có mượn sức mạnh của các tộc Hồ và Hung Nô để kẹp đánh nước Triệu hay không? Dù sao đi nữa, đối với một nước Triệu đang gánh chịu tám phần họa hồ trên thiên hạ, đối thủ đối xử và tận dụng lực lượng này như thế nào, đối với nước Triệu mà nói hầu như là chuyện trọng đại hàng đầu. Nói ngược về quá khứ, năm xưa vào thời điểm sáu nước chia Tần trước khi Tần Hiếu Công biến pháp, nước Triệu từng lợi dụng uy tín lịch sử với người Hồ, coi việc kết liên với nhung địch phương Tây là thủ đoạn quan trọng để kẹp đánh nước Tần. Dù việc chia Tần không thành công, nhưng bài bản này người Tần hiểu rất rõ. Nói gần lại đây, thời kỳ đầu Tần Huệ Vương, lão thế tộc muốn phục hồi chế độ cũ, cũng đi theo con đường kết liên với nhung địch phương Tây để kẹp đánh trong ngoài. Trải qua hàng trăm năm, các bộ tộc man di như nhung địch chư hồ Hung Nô gây họa cho Trung Nguyên, nước Tần và nước Triệu là chịu đựng sâu sắc nhất, thủ đoạn dung hợp với các bộ tộc du mục vùng biên ải cũng nhiều nhất, kinh nghiệm tận dụng biên tộc cũng phong phú nhất, nước Tần nếu tận dụng sức mạnh của tam hồ Hung Nô để kiềm chế nước Triệu, Triệu Ung tuyệt đối sẽ không thấy kỳ lạ. Đại chiến Hung Nô ở Âm Sơn, sở dĩ Triệu Ung muốn kéo chiến trường đến thảo nguyên Âm Sơn ngoài Trường Thành Vân Trung do Tần quân đồn trú, chính là muốn đưa ra một lời cảnh cáo công khai với nước Tần: Ngươi muốn tận dụng Hung Nô người Hồ, nước Triệu không sợ! Lúc đó nếu Tần quân nhân cơ hội kẹp đánh Triệu quân, trong lòng Triệu Ung trái lại sẽ cảm thấy yên tâm hơn, dù Âm Sơn không thể thắng, cũng sẽ suy tính lại việc làm thế nào để dẫn họa thủy Hung Nô về phía nước Tần, lấy đạo của người trả lại cho người! Không ngờ Tần quân không những không đánh lén kẹp đánh, ngược lại còn chuẩn bị ra tay tương trợ, sau khi Triệu quân chiến thắng, tiếng reo hò nhảy múa của Tần quân từng khiến các chiến sĩ Triệu quân cảm xúc dạt dào biết bao?
Chính lần này, Triệu Ung trái lại vô cùng kinh ngạc, cách làm chưa từng có trong lịch sử này của nước Tần, mưu đồ rốt cuộc nằm ở đâu? Có phải thực sự xem họa hồ biên ải là đại họa chung của Hoa Hạ không? Nước Tần quả thực có tâm khôn khí lượng này sao? Trách chi Triệu Ung hoài nghi, trong thời đại chiến tranh đẫm máu, bọ ngựa bắt ve, quả thực chưa từng có ai buông bỏ bất kỳ cơ hội nào để làm chim hoàng tus. Triệu Ung là người quả quyết, nhưng Triệu Ung càng có mưu tính sâu xa, nước Tần quả thực như thế, nước Triệu đối với đối thủ này liền nên mưu tính phương sách khác, đi con đường cũ của tiền bối rõ ràng là không được. Nhưng rốt cuộc, nước Tần rốt cuộc có thực sự là như vậy không?
Cử đặc sứ công khai nói thẳng ra sao? Một là nước Tần và nước Triệu hai mươi năm sống chung hòa bình, đề tài nhạy cảm như thế này đột ngột đưa ra, há chẳng phải tự thừa nhận muốn đối địch với đối phương? Dù có cắn răng nói ra, nếu đối phương dùng một tràng lời quan liêu không đau không ngứa, trái lại sẽ càng mờ mịt khó lòng phỏng đoán. Suy nghĩ lặp đi lặp lại, Triệu Ung mới có chuyến đi thương nhân Lâm Hồ kỳ lạ này. May mắn hơn nữa là Tần vương còn hiểu lầm ông là mật sứ Lâm Hồ, vậy mà lại thật sự thử nghiệm một phen.
Thế nhưng, điều khiến Triệu Ung chấn động nhất, so với việc xem xét nền tảng đối với nước Triệu của quân thần nước Tần, chi bằng nói là những gì tận mắt thấy tai nghe trong ba tháng ở nước Tần. Từ khi bước vào nước Tần, một làn sóng vô khổng bất nhập cứ thế liên tục va đập vào ông, vỗ về ông, khiến ông không thể an định nổi một khắc. Cho đến ngày bước ra khỏi Hàm Cỗ quan, ông vậy mà ở một quán rượu ngoài quan ngoại uống cạn ba vạc rượu Tần già, dưới ánh chiều tà hoàng hôn gào thét thỏa thích một trận hướng về Hàm Cỗ quan tựa như loài hổ lang.
Cùng là chiến quốc, cớ sao thiên hạ lại có một quốc gia như thế này? Cùng là quân vương, Triệu Ung cuối cùng mới biết trời ngoài trời còn có trời.
Trong hơn ba tháng, Triệu Ung không ngừng nghỉ đi khắp nước Tần. Do nước Tần tiếp giáp với nước Triệu, trong tâm trí người Triệu, nước Tần và nước Triệu đều là đại bang phương bắc cường hãn, cường hãn thì có thể cường hãn đến đâu cơ chứ? Từ Thượng quận vào Bắc Địa quận, các quan ải biên tái nước Tần tuy chỉnh tề nghiêm ngặt, nhưng rốt cuộc cũng chẳng khác biệt mấy so với nước Triệu, Triệu Ung không cảm thấy có nhiều điểm mới lạ. Thế nhưng vừa bước vào Quan Trung, sự sung túc giàu có của vùng đất màu mỡ vô tận ấy đã khiến Triệu Ung mở rộng tầm mắt chấn động tâm can. Cho đến khi bước vào Hàm Dương, chỉ riêng khí tượng nuốt trọn tài phú thiên hạ chảy vàng róc rách của Thượng Thương Phường thôi cũng đã khiến ông chấn động sâu sắc. Nói một cách công bằng, chỉ riêng tài phú của một thành Hàm Dương, hai nước Triệu cũng khó lòng chống đỡ. Ra khỏi Hàm Dương, Triệu Ung lại nảy sinh một ý niệm: Đi khắp nước Tần, nắm bắt triệt để cỗ máy khổng lồ này.
Thật khéo làm sao, dưới nguyên Lam Điền, Triệu Ung lại vô tình chạm trán với Thượng tướng quân Bạch Khởi đang phi ngựa về doanh. Hai người bắt đầu từ chuyện buôn bán ngựa, vậy mà lại vô cùng tâm đắc. Bạch Khởi mời Ô Tư Đan trước mùa thu năm sau cung cấp cho ông năm ngàn con ngựa Hồ, Ô Tư Đan hào sảng đồng ý, nói rằng sau khi nam hạ Ba Thức mua được một mẻ tơ lụa sẽ lên phía bắc trù tính chiến mã cho ông. Bạch Khởi vô cùng vui mừng, mời ông vào Lam Điền đại doanh uống rượu thỏa thích, còn đưa ông đi xem xét tường tận trong ngoài Lam Điền đại doanh, đặc biệt là quan sát tỉ mỉ các loại trang thiết bị công thủ cỡ lớn của Tần quân, cười nói nếu Tần quân có thêm ba vạn con chiến mã, thì có thể dùng lực quét sạch các bộ tộc Hồ ở Âm Sơn, Lâm Hồ phải cẩn thận đấy. Ô Tư Đan cười ha hả, liền nói không đánh lại thì chạy, Lâm Hồ không tiêu diệt được, Ô Tư Đan vẫn cứ cung cấp chiến mã cho ngươi! Đêm hôm ấy, hai người uống rượu luận binh trong mạc phủ của Bạch Khởi, Bạch Khởi không hề giấu giếm mà kể cho tướng quân Ô Tư Đan nghe về sáu trận đại chiến mà Tần quân đã tiêu diệt hơn hai mươi tòa thành trong hơn hai mươi năm qua, đặc biệt là hai trận đại chiến đoạt lấy Hà Nội của nước Ngụy và Nam quận của nước Sở. Ô Tư Đan nghe với vẻ mặt chăm chú hết sức, cuối cùng cười hỏi một câu, Thượng tướng quân cho rằng căn bản của đại chiến nằm ở đâu? Bạch Khởi chỉ cười một câu, nằm ở quốc lực, quốc gia không có thực lực, tuy có thể thắng nhiều lần nhưng cuối cùng vẫn sẽ bại. Ô Tư Đan mượn hơi men bất ngờ truy vấn một câu, thực lực của nước Tần so với nước Triệu thế nào? Bạch Khởi vậy mà cười ha hả, tướng quân Ô Tư Đan, quân lực Tần Triệu có thể so sánh, nhưng thực lực thì không thể so sánh. Ô Tư Đan vô cùng không phục, miền bắc nước Triệu có thảo nguyên vạn dặm, núi non hoang dã Ba Thức cùng cực xó núi sao có thể sánh bằng? Bạch Khởi lại cười ha hả, tướng quân Ô Tư Đan, sự trù phú của Ba Thức đã đuổi kịp Quan Trung, được mệnh danh là thiên phủ, ngươi tin hay không? Không tin! Ô Tư Đan trả lời cứng ngắc một câu. Được! Bạch Khởi mang hơi men vỗ bàn một cái, tướng quân Ô Tư Đan cũng không cần lặn lội đường núi, ta phái một chiếc chiến thuyền, ngươi cứ từ Di Lăng đi ngược dòng sông lên Ba Thức xem thế nào?.
Cứ như vậy, Triệu Ung một cách nhẹ nhàng đơn giản trực tiếp bước vào Ba Thức. Chưa nói đến việc đóng chiến thuyền, luyện tinh thiết, tơ lụa dược liệu của hẻm núi sông lớn ở Ba quận đã khiến ông vô cùng chấn động, khi ông đứng bên bờ Đô Giang Yến, nhìn từ xa những thửa ruộng trong thôn liền kề tiếng chó gà vang vọng khói bếp nghi ngút hơi nước cuồn cuộn ở vùng bình nguyên đất màu mỡ Xuyên Trung, cảnh tượng vùng đất màu mỡ Quan Trung vậy mà đột ngột hiện lên trước mắt ông, gần như suốt một canh giờ, ông chỉ ngẩn ngơ đứng đó nhìn ngắm suy nghĩ, vậy mà không nói một lời nào.
Lý Băng đó thật quá kỳ diệu, cớ sao nước Tần lại có vị thủy công khó tin đến thế?
Đi về phía đông ra hẻm núi sông, lại bước chân vào Nam quận, ông đã từ tận đáy lòng sinh ra lòng kính trọng đối với nước Tần. Cùng lúc tranh đoạt đất đai thời chiến quốc, quốc gia nào mà chẳng từng có những chiến thắng đoạt đất vài trăm dặm, có thể nhanh chóng ổn định biến đất đai đoạt được hòa nhập vào hệ thống pháp độ, mà ngay lập tức hình thành thực lực hiệu quả của bản thân quốc gia, có ai làm được chứ? Nước Triệu chiếm được ba trăm dặm đồng nguyên Tế Tây của nước Tần, cho đến nay vẫn là đất rộng người thưa, vừa không giữ lại được người Tề ban đầu, người Triệu cũng không muốn dời vào, chỉ có thể làm phong địa của Bình Nguyên Quân mà thôi. Nước Ngụy từng chiếm lĩnh đất Hà Tây nước Tần hơn năm mươi năm, nhưng từ đầu đến cuối vẫn là trị không hóa dân đất không nuôi người, thời Ngụy Huệ Vương trái lại trở thành gánh nặng của nước Ngụy. Nước Tề diệt nước Tống, giữ mười năm cũng không sưởi ấm nổi, người Tống ly tâm ly đức, cuối cùng cũng trở thành một cục than hồng đành phải buông tay. Nước Yên diệt nước Tề sáu năm, ngoài cướp bóc tài vật ra, cuối cùng vẫn là hai bàn tay trắng. Nước Sở lại càng nuốt hàng ngàn dặm đất Ngô Việt, nhưng lại cứ làm cho vùng đất Ngô Việt ngược lại không bằng sự phú quý hùng cường của Ngô Việt thời Xuân Thu. Ngay cả nước Hàn, cũng từng diệt nước Hàn, sau đó lại chiếm đoạt yếu ải Thượng Đảng, nhưng sau khi thôn tính đất đai thì mỗi năm một kém đi, kinh đô Tân Trịnh thua xa sự phồn hoa sung túc thời kỳ Tử Sản nước Hàn, người dân miền núi Thượng Đảng thì nghèo đến mức chạy trốn hàng loạt, ngay cả lương thực cho thủ quân cũng khó lòng duy trì...
Phàm là những điều này, đều khiến cho Triệu Ung trằn trọc không thể an giấc.
Ngươi buộc phải thừa nhận, nước Tần là một nước chiến quốc hoàn toàn mới — pháp lệnh hoàn thiện, triều đình sai khiến như cánh tay sai khiến ngón tay; nông dân vào nước Tần thì có được sự an định cày cấy, thương nhân vào nước Tần thì có được lợi ích tiền tài, bách công vào nước Tần thì có được sự giàu có về công cụ dụng cụ, tráng đinh vào nước Tần thì có được phần thưởng chiến công, sĩ tử vào nước Tần thì có được sự sử dụng hết tài năng; một quốc gia như thế, sĩ nông công thương đổ xô về như vịt, sao có thể không ngày càng hưng thịnh? Giữa đất trời lại có loại lực lượng nào có thể ngăn cản đây? So sánh với nhau, nước Triệu vẫn chưa đủ cường đại. Muốn đứng vững trong thời đại chiến quốc, nước Triệu buộc phải đi theo lối đi riêng!