Đại Tần Đế Quốc 3: Kim Qua Thiết Mã

Lượt đọc: 89 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ Năm
Đánh Giáp Rợ Mùa Đông, Cuồng Phong Bạt Thành

❊ ❊ ❊

Tiếng trống tụ tướng lại một lần nữa rền vang!

Bạch Khởi dựng soái kỳ phát lệnh: Bộ binh năm vạn, biên thành ba đại doanh —— Xung Xa doanh một vạn năm nghìn, Cung Nỗ doanh một vạn, do trung quân chủ tướng Mông Ngao thống lĩnh; Công Thành doanh hai vạn năm nghìn, do bộ binh chủ tướng Sơn Giáp thống lĩnh; ba đại doanh xuất phát trước hai ngày từ yếu đạo Ly Thạch ở phía tây sông Hoàng Hà, dọc theo vùng núi bờ đông đại hà, tiến về cố đô An ấp của nước Ngụy một cách bí mật! Kỵ binh năm vạn, chia thành bốn đường: đường thứ nhất một vạn năm nghìn, do tiền quân đại tướng Vương Ngật suất lĩnh; đường thứ hai một vạn năm nghìn, do hậu quân đại tướng Vương Lăng suất lĩnh; đường thứ ba một vạn năm nghìn, do kỵ binh chủ tướng Doanh Báo suất lĩnh; đều từ vùng núi Thiểm Nguyên ẩn nấp vượt sông, thiết kỵ của Vương Ngật mai phục tại thung lũng bờ bắc Mạnh Tân; thiết kỵ của Vương Lăng dọc theo bãi cát vùng không người ở bờ bắc đại hà, tiến vào thung lũng bờ bắc độ khẩu Ngao Thương để mai phục; Doanh Báo đông tiến đến thung lũng cửa sông Kỳ Thủy đổ vào đại hà để mai phục; đường thứ tư năm nghìn tinh kỵ, do chính Bạch Khởi suất lĩnh, xuất phát từ hẻm núi Long Môn vượt sông, trực áp vào Bì Ấp ở cửa sông Phần Thủy đổ vào đại hà. Năm đạo đại quânvụ tất (cần phải) đến nơi tập kết trước ngày lập đông một ngày, đúng ngày lập đông đồng loạt phát độngnhmãnh công.

Bạch Khởi nghiêm lệnh: "Bộ binh trước hạ An ấp, Bồ Bản, sau đó lần lượt công chiếm các thành trì Hà Nội! Ba đường kỵ binh nhất định phải đánh tan viện quân từ phía bắc của nước Ngụy! Ta tự mình suất lĩnh năm nghìn tinh kỵ, quét sạch quân trú phòng lẻ tẻ ở Hà Nội, đồng thời nhanh chóng chi viện ứng cứu các đạo đại quân!"

Thế là, đúng vào ngày lập đông này, đại chiến công thành mãnh liệt đã đột ngột nổ ra ở Hà Nội.

Giao điểm tháng mười, lập đông là một tiết khí đại quan. Từ ngày lập đông, người ta bắt đầu bước vào thời kỳ tránh rét mùa đông. Để cầu nguyện mùa đông bình an, không phải chịu cảnh đói rét kiếp nạn, dọc theo lưu vực đại hà có một tập tục lâu đời: lập đông ăn canh ấm. Hễ đến ngày lập đông, phàm là các vùng núi thôn ấp, nhà nhà đều dựng một chiếc vạc lớn trong sân để nấu canh mùa đông ấm áp. Canh chính là cháo rau ngũ cốc. Giã gạo kê vàng óng ánh, nhân lúa mì bóng bẩy trơn tru, nhân hạnh đào trắng phau mập mạp, táo đỏ rừng vỏ tía có hột, lại thêm rau dưa mùa thu xanh mướt cùng rau hoắc phơi khô, nhà khá giả còn cho thêm các loại xương thịt vụn, đổ tất cả vào nấu chung, một hai canh giờ sau là thành một nồi canh đông ấm áp ngũ sắc rực rỡ trơn nhượt thơm phức. Húp xì xụp xong bữa cháo đặc canh nóng mồ hôi vã ra như tắm là bước vào mùa đông đằng đẵng. Khi đó dân thường chốn núi rừng đạm lửa bớt ăn, tận khả năng dùng chút ngũ cốc tích trữ đó để kéo dài đến vụ thu hoạch mùa hè năm sau. Thế là, trong dân gian cũng có tập tục ăn chay mùa đông. Thời đó, ngoại trừ vùng giang nam nước Sở, dân gian sơn dã miền bắc như Tần, Triệu, Yên, Tề, Trung Sơn, Vệ, Ngụy, Hàn đều có phong tục ăn chay mùa đông. Mặc dù có người nói rằng, "hàn thực" là do Tấn Văn Công vì tưởng niệm Giới Tử Tui ôm cây tự phần mà định ngày trước tiết Thanh Minh làm "tiết hàn thực" cấm lửa mà ra. Nhưng xét cho cùng, hàn thực lưu truyền khắp thiên hạ chốn cùng cốc nghèo nàn thành tập tục lâu đời, thực ra là do sinh kế gian nan bức bách mà ra.

Sinh kế của bách tính, sau chén canh ấm mùa đông là thời kỳ tránh rét, nông phu nghỉ ruộng, thương nhân dừng chân, trăm thợ giảm lao nhọc, mọi việc lớn đều phải đợi đến mùa xuân năm sau đất trời ấm áp trở lại mới giải quyết. Chính sự bang quốc, sau tiết khí lập đông cũng mưu tính nhiều mà hành động ít, xe ngựa sứ thần các nước vô cùng quạnh hiu, việc dùng binh càng tự nhiên đình chỉ. Vốn dĩ nước Cố định đại cử đánh Hàn, thấy mùa đông đã cận kề, liền tự nhiên phải đợi sau mùa xuân mới tính tiếp. Đây là một tập tục lâu đời, nhưng lại được thiên hạ công nhận rộng rãi hơn cả lễ pháp, bỗng trở thành một thứ quy củ bất thành văn. Dù trong đó bao gồm bao nhiêu nguyên do đi nữa, nói chung là đã hình thành phong khí thiên hạ "đông hạ vô đại sự", và từ đó mới có cái gọi là "xuân thu kỷ sự" — phàm là đại sự, đều xảy ra vào hai mùa xuân thu.

Chính vì thế, mặc dù các nước hổ rình mồi, tin đồn về đại chiến liên tiếp phát ra, khói lửa của nồi canh ấm mùa đông vẫn bao trùm khắp lưu vực đại hà. Dù có đánh nhau, cũng là chuyện sau mùa xuân, trong thời gian tránh rét nghĩ cho kỹ đối sách dưỡng đủ tinh thần là được, canh đông ấm áp vẫn phải ăn cho thật nóng hổi mới phải phép. Nhưng ai có thể ngờ rằng, giữa lúc khói bếp canh đông ấm áp đang lan tỏa, bờ bắc đại hà bỗng vang lên một tiếng sét kinh hoàng, thiên hạ tức thì trợn mắt há hốc mồm — đại quân nước Tần cuồn cuộn cuồng phong tràn tới, hơn sáu mươi thành trì Hà Nội ngàn cân treo sợi tóc!

Phần phật phi kỵ thám báo bay vụt vào Đại Lương, quân thần nước Ngụy hoảng sợ vô cùng.

Ngụy Tương Vương tuổi đã cao run lẩy bẩy thành một cục: "Cái này cái này cái này, thật là vô lý? Sao lại, lại đi chiến tranh với người ta vào mùa đông?" Các đại thần cũng hoảng loạn cả lên, thừa tướng Ngụy Tề chỉ liên tục cao giọng quát hỏi: "Mất mấy thành rồi? A! Mất mấy thành rồi?" Thấy không ai đáp lời, liền lớn tiếng gào thét: "Ai muốn thống binh chi viện? Phong vạn hộ!" Dù là vậy, mấy võ thần cũng tái mét mặt mày ngậm chặt miệng không dám hó hé. Ngụy Tương Vương sốt ruột, bật lên tiếng khóc mếu: "Quốc úy à, ngươi mau nói xem, nên để ai thống binh đây?"

Lão quốc úy tóc bạc trắng tên là Phú Vô, vốn là Tư khấu chấp trọng trách bắt trộm trị hình, nhưng vì không hòa hợp với thừa tướng Ngụy Tề, nên bị điều sang làm quốc úy không có thực quyền. Thấy quốc vương tự mình lên tiếng, ông nhíu mày mặt sầm dơ nói: "Từ khi Bàng Quyên tử trận, nước Ngụy liền không còn bái thượng tướng nữa, mấy vị đại tướng thống binh đều ở trong các doanh trại yếu đạo, trong lúc vội vàng, có thể có người nào?" Ngụy Tề thấy lão già này vào lúc yết hầu sinh tử lại lôi chuyện mình không tán thành việc đặt thượng tướng ra nói, vội vả làm ra vẻ chợt hiểu ra cao giọng cắt ngang nói: "Thần bẩm đại vương: Đại tướng Tân Viên Diễn, Công Tôn Hỷ dũng mãnh thiện chiến, có thể giải nguy Hà Nội!" Lão Phú Vô liền cười lạnh một tiếng: "Xã tắc tồn vong, thừa tướng vậy mà vẫn một mực dùng người thân, nước sắp chẳng ra nước rồi." Ngụy Tương Vương cấp bách nói: "Ngươi mau đề cử một người đi!" Lão Phú Vô mặt xanh mét nói: "Tín Lăng Quân! Đại tướng sẵn có sao không dùng?" Ngụy Tề mặt đỏ phừng phừng quát lớn: "Tín Lăng Quân đã đánh trận bao giờ chưa? Việc nước không phải là trò đùa!" Lão Phú Vô cao giọng nói: "Danh khí bó chặt trong gác cao, sao có thể phát sáng?!"

Ngụy Tương Vương mặt sầm lại trầm tư hồi lâu, tự lầm bầm nói: "Tìm Tín Lăng Quân mưu tính một phen cũng được, đánh trận thì vẫn cứ là Tấn Bì, Tân Viên Diễn, Công Tôn Hỷ là chắc chắn hơn." Ngụy Tề vốn dĩ một lòng bắt bẻ sắc mặt của lão quốc vương, lập tức cao giọng nói: "Đại vương anh minh! Chưởng ấn quan lập tức thảo chiếu, triệu ba vị đại tướng vào triều nghe lệnh vương!" Lão Phú Vô vô cùng sốt ruột, mặt đỏ gay gân cổ la lên: "Hà Nội nguy trong một sợi tóc, dù có dùng ba người này, cũng phải lập tức phái nhanh tiễn đặc sứ, hạ lệnh phi ngựa ngày đêm hướng bắc! Triệu tập đến Đại Lương, đi về mất những hai ngày đấy! Ngụy Tề! Ngươi có phải là thừa tướng không hả? Đại vương anh minh a!" Ngụy Tề lúc này sao có thể trơ mắt nhìn khí diễm của lão đầu cứng đầu này phổng phao lên được, liền giận dữ quát mắng lớn: "Việc lớn quân quốc, xã tắc tồn vong, đại vương muốn mặt thụ cơ nghi, còn phải ban tứ binh phù, mở yến tiệc tráng hành! Phú Vô, ngươi cái chức quốc úy này làm hoài phí thế? Vương đạo pháp độ, sao dung cho sự cẩu thả thế này?!"

"Nhiều lời quá." Ngụy Tương Vương thiếu kiên nhẫn xua xua tay, "Được rồi được rồi, lập tức phái nhanh tiễn đặc sứ, triệu ba tướng về Đại Lương."

Đại điện chìm trong ngỡ ngàng. Lão Phú Vô tóc bạc trắng thở dài một tiếng, phất tay áo bỏ đi thẳng khỏi đại điện. Đám đại thần thấy vị lão thần ngay thẳng này còn đụng phải sứt đầu mẻ trán, cũng lặng lẽ tự tản đi mất.

Đến tận trưa ngày hôm sau, Hà Ngoại tướng Tấn Bì, Tuy Suôi tướng Công Tôn Hỷ, Trường Hằng tướng Tân Viên Diễn mới từ nơi đóng quân chạy về Đại Lương. Nước Ngụy lúc này không có thượng tướng, thừa tướng Ngụy Tề độc đoán đại quyền quân chính. Ba vị tướng quân hộc tốc chạy đến, không được trực tiếp yết kiến quốc vương nhận binh phù, mà bắt buộc phải đến thừa tướng phủ điểm danh trước. Ngụy Tề bèn bày một bữa tiệc tiếp phong, cùng ba vị tướng quân trò chuyện tâm tình rất nhiều, tiết lộ muôn vàn cục diện vi tế trong triều đại thần, đặc biệt dặn dò ba người tuyệt đối không được bén mảng đến cái phủ quốc úy xui xẻo kia. Yến tiệc kết thúc, đã là canh ba, Ngụy Tề lẩm bẩm lặp đi lặp lại: "Xã tắc tồn vong, việc nước là trên hết, lão phu đành vất vả cùng ba vị một chuyến." mới chuẩn bị đủ xe cộ, dẫn ba người đêm hôm khuya khoắt tiến cung.

Ngụy Tương Vương tuổi già hay buồn ngủ, nửa đêm bị lão nội thị đánh thức, liền vô cùng bất mãn, bị mấy cung nữ nửa ôm nửa dìu bước ra, đầu óc mụ mẫm, Ngụy Tề nói gì cũng chỉ gật đầu ừ hử. Ngụy Tề thu hết vào mắt, liền không bẩm báo quá trình nữa, chỉ nhẹ nhàng nói một câu: "Xin đại vương ban tứ binh phù."

Lạ lùng thay! Đôi mắt già nua của Ngụy Tương Vương bỗng chốc mở trừng trừng, sáng lấp lánh quan sát ba vị tướng quân một hồi, lảo đảo bước chân già nua, tự mình đến căn phòng bí mật sau tấm màn khiêng ra ba chiếc hộp đồng, lại cẩn thận gỡ từ trước ngực nơi giáp thịt ra một chiếc chìa khóa đồng tinh xảo, run rẩy mở chiếc hộp đựng binh phù.

Mỗi người có thể điều động năm vạn thiết kỵ." Ngụy Tương Vương nói một câu đầy trọng thị.

"Thần bẩm đại vương." Lão tướng Tấn Bì chắp tay nói: "Tần quân có chuẩn bị mà đến, hung hăng khó đỡ, mười lăm vạn binh lực không đủ để địch lại địch. Thần xin mỗi đường mười vạn, ba mươi vạn đại quân một trận đánh lui địch!"

"Ba mươi vạn?" Lão Ngụy vương chợt sầm mặt xuống, "Tần quân chỉ có mười vạn thôi."

"Đại vương anh giám!" Tân Viên Diễn thẳng tính: "Tần quân tuy là mười vạn, nhưng chiến lực mạnh hơn quân ta. Đại Ngụy có bốn mươi vạn đại quân, nếu có được ba mươi vạn tinh nhuệ, liền có thể cắt đứt đường về của địch, tiêu diệt gọn Tần quân, rửa sạch nỗi nhục thất bại ở Hà Ngoại!"

Hễ nhắc đến chuyện điều binh, Ngụy Tương Vương liền hoàn toàn không giống một lão già lú lẫn, mặt sầm lại nói: "Bản vương rõ chứ, Tần quân mười vạn, bộ kỵ mỗi bên một nửa. Thiết kỵ đại Ngụy mười lăm vạn, mà còn không đánh lui nổi mười vạn bộ kỵ hỗn sư ư? Chưa đánh trận bao giờ à?"

Chúng ta muốn đánh một trận đại thắng! Rửa nhục cho quốc gia!" Công Tôn Hỷ hào sảng nói một câu.

Đại thắng?" Ngụy Tương Vương cười lạnh một tiếng. "Các nước đều biến thành đồ điên rồi, nước Tề, nước Triệu, nước Sở, đều không phòng bị nữa à? Các ngươi đi đánh trận, bọn chúng đến đánh úp Đại Lương, ai bảo vệ xã tắc?" Trong khoảnh khắc, mưu tính trong miếu đường đã nắm chắc trong ngực.

Ba vị tướng quân tức thì câm lặng. Ngụy Tề vô cùng lõi đời, đúng lúc xen vào cười nói: "Đại vương anh minh. Cứ mười lăm vạn là được rồi. Còn như tiêu diệt gọn, đừng có mơ tưởng chuyện đó. Sáu nước liên quân bảy tám mươi vạn, còn chẳng tiêu diệt gọn hai mươi vạn Tần quân, ngươi mà đòi tiêu diệt gọn ư? Chỉ cần Hà Nội không mất, chính là đại thắng!"

"Đúng vậy." Ngụy Tương Vương mỉm cười đầy kiêu hãnh, "Bản vương nói thêm một câu: Hà Nội hơn sáu mươi thành, mất vài thành ấp nhỏ không hề hấn gì. Chỉ cần giữ được An ấp, Bồ Bản, Tả Ấp, Triều Ca, Dã Vương, Tu Vũ mấy thành lớn, liền hứa cho các ngươi đại công!"

"Hay lắm! Đại vương anh minh!" Ngụy Tề vô cùng phấn khích, "Ba vị tướng quân, đại công đang ở trước mắt rồi!"

Ba vị tướng quân lại nhìn nhau ngơ ngác, rốt cuộc không ai lên tiếng.

Ngụy Tương Vương mệt mỏi ngáp dài một cái: "Thôi được rồi, về nghỉ ngơi đi, trưa mai, bản vương ở Trường Đình tráng hành cho các ngươi." Nói xong run rẩy đứng dậy, liền bị bốn cung nữ vây quanh trước sau trái phải dìu đi mất.

"Đi thôi." Ngụy Tề cười nói, "Chuyện đại hỷ, còn ngẩn người ra làm gì? Về phủ ta uống một trận thật say đã!"

Trưa hôm ngày hôm sau, ngoài cửa nam Đại Lương cờ xí phấp phới nghi trượng bày biện, Ngụy Tương Vương dẫn văn võ bá quan đến Trường Đình mười dặm long trọng tráng hành cho ba tướng, tự tay ban thưởng cho mỗi người một cỗ xe thanh đồng chạm trổ minh châu to lớn, các đại thần đi theo không ai là không trầm trồ thán phục. Ban rượu, ban xe, mở đỉnh, ban yến, huấn giới, thưởng ca, bái tạ vân vân, hơn chục quy trình nghi điển tiến hành xong xuôi, mặt trời đã ngả về tây. Lúc này Ngụy Tương Vương mới vẻ mặt trang nghiêm hạ lệnh: "Xã tắc tồn vong, tướng quân phấn thân vậy! Ba vị tướng quân phi ngựa ngày đêm về doanh, suất lĩnh binh mã hướng bắc!"

Cuối cùng, trong khúc nhạc vũ tráng hành hoành tráng, ba vị tướng quân đứng dưới tán dù sáu thước lấp lánh lộc cộc lên đường. Chiến ngựa phi nhanh như chớp, lại bị buộc đằng sau cỗ xe thanh đồng hoa lệ đi những bước nhỏ lộc cộc. Thần tử không trương bày ân sủng của vua ban, thế thì phạm quốc pháp lắm. Trọn vẹn đi một ngày một đêm, ba vị tướng quân mới về đến đại doanh của mình. Đến khi ba đường đại quân nước Ngụy xuất phát tiến về Hà Nội, đã là nửa tháng sau rồi.

Lúc này, đại quân Bạch Khởi đã quét sạch một nửa Hà Nội, hạ được ba mươi hai thành.

Bố trí của Bạch Khởi: Đi đầu mãnh công An ấp, Bồ Bản sát bờ đông đại hà, sau đó hướng đông hướng bắc đẩy tiến, lần lượt đoạt lấy các thành ấp Hà Nội. Bạch Khởi hiểu rất rõ, trận chiến này đoạt được bao nhiêu thành, hoàn toàn ở chỗ có chống đỡ được viện quân nước Ngụy hay không. Dựa vào phán đoán này, Bạch Khởi từ đầu đến cuối kiên quyết giữ vững ba nơi yếu đạo vận binh mà nước Ngụy tăng viện cho Hà Nội — độ khẩu Mạnh Tân phía tây bắc Lạc Dương, độ khẩu Quảng Vũ bờ tây bắc Ngao Thương, Bạch Mã Tân bờ tây Bộc Dương, mà chỉ giao cho bộ binh toàn lực công thành.

Dự liệu của Bạch Khởi về đối phương: Nước Ngụy dù có chần chừ, cũng phải đại cử hướng bắc trong năm sáu ngày; nước Ngụy có bốn mươi vạn đại quân, ngoài quân trú phòng các nơi yếu đạo, ít nhất xuất động hai mươi lăm sáu vạn viện quân; thiết kỵ nước Ngụy sau khi Bàng Quyên chết đã suy lạc, đại quân lấy tinh nhuệ bộ binh — Ngụy Vũ Tiên Tốt nổi danh thiên hạ, viện quân rất có thể lấy bộ binh chiến lực mạnh nhất làm chủ; bộ binh tuy tiến chậm, nhưng với sự tinh nhuệ của Ngụy Vũ Tiên Tốt, thiết kỵ Tần quân dù mai phục đánh úp, nhiều nhất cũng chỉ có thể đánh tan, tiêu diệt gọn là hầu như không thể. Vì thế, Bạch Khởi đã chuẩn bị hậu thủ viện quân, khi cần thiết bộ binh Hàm Cốc Quan sẽ xuất kích chặn đánh! Chỉ cần chặn được bộ binh tinh nhuệ nước Ngụy một tháng, đại chiến công thành Hà Nội liền tuyên bố đại tiệp. Nếu quân Ngụy dốc toàn bộ bốn mươi vạn binh lực hướng bắc, quân Tần chỉ đành rút lui sau khi đoạt được hàng chục thành và vận chuyển tài vật kho phủ đi, mục tiêu thiết lập quận Hà Đô đành phải tạm thời gác lại.

Dẫu sao, chiến trường là nơi vạn biến trong nháy mắt, muốn đánh thắng trận, trước tiên phải tính đến mọi khả năng thất bại. Thiên phú dụng binh của Bạch Khởi nằm ở chỗ đó, sự dũng mãnh hiếm có, sự linh động hiếm có, càng có sự bình tĩnh hiếm có.

Không ngờ dự liệu của Bạch Khởi lại hoàn toàn trật lướt. Kỵ binh thám báo của doanh thám báo hầu như cứ một canh giờ lại báo cáo một lần, thế nhưng lần nào cũng là "Không thấy động tĩnh quân Ngụy!" Đến ngày thứ sáu, Bạch Khởi dấy lên nghi ngờ lớn, nghiêm lệnh tổng lĩnh doanh thám báo Hư Lợi Lý: "Đâu ra cái bang phái u mê thế này? Sáu ngày đêm, bò cũng bò tới Hà Nội rồi! Cho ta tung thám báo thẳng tới Hà Ngoại! Nếu quân Ngụy có âm mưu mà không thăm dò rõ ràng, quân pháp tusử tội!" Làm tướng như Bạch Khởi, đây là lần đầu tiên nổi giận. Hư Lợi Lý vô cùng sốt ruột, vậy mà tự mình dẫn mười ba thám báo tinh nhuệ hóa trang thành thương nhân, tiềm nhập Đại Lương thám thính. Trưa ngày hôm sau, ba thám báo liền dẫn về một người sống, Hư Lợi Lý lại vẫn ở lại Đại Lương, tiếp tục giám sát động tĩnh.

Tên tù binh này là một lại giả thừa tướng, nhát như chuột, vừa thấy khí thế âm trầm sát khí của Bạch Khởi, liền sợ đến mức run lẩy bẩy, thậm chí còn chưa đợi hỏi đã lắp bắp đem tình thế Đại Lương kể lại một lượt: Đại tướng quân Ngụy vừa mới được xác định, đang điều tập binh mã, ba đường tổng cộng mười lăm vạn đại quân, dự kiến sẽ đến Hà Nội trong vòng mười ngày tới. Bạch Khởi mặt sầm lại lặp đi lặp lại gặng hỏi chi tiết, tên lại giả đều không chút do dự ứng tiếng trả lời, hoàn toàn không có vẻ gì là giả dối. Dù là vậy, Bạch Khởi vẫn không dám tin, nước Ngụy oai phong lẫm liệt ngày xưa sao lại có thể chậm chạp đến thế này? Chẳng lẽ là kế dụ địch, muốn giam chân quân Tần ở Hà Nội để bao vây bốn phía? Thế nhưng, thám báo rải khắp ba trăm dặm xung quanh, không một nơi nào phát hiện bất thường, lại khiến cho một kẻ vốn cẩn trọng tinh tế như Bạch Khởi thấp thỏm không yên. Suy đi tính lại, Bạch Khởi cũng nghĩ mãi không ra đầu mối, liền mắng một trận tơi bời: "Mẹ kiếp! Mày làm bia thịt, ông đây đánh mạnh vào! Đợi tụi mày đâm đầu vào rồi tính tiếp! Mẹ kiếp!"

Bạch Khởi lập tức truyền xuống tướng lệnh, yêu cầu ba đường thiết kỵ vẫn mai phục các yếu đạo độ khẩu như cũ, còn mình thì tự dẫn năm nghìn kỵ binh tinh nhuệ bay thẳng đến đại doanh bộ binh đốc chiến, muốn trước khi quân Ngụy đến chiếm lấy càng nhiều thành trì càng tốt.

Năm vạn bộ binh của Mông Ngao, Sơn Giáp vốn tập trung một đường công thành, đã hạ được hai thành An ấp, Bồ Bản. Bạch Khởi đến, lập tức hạ lệnh chia bộ binh thành ba đường hoành đẩy hướng đông, thấy thành trì là công, cốt sao cho nhanh chóng quyết liệt! Mông Ngao Sơn Giáp vô cùng phấn khởi, lập tức lấy đại khí khí làm trục tâm chia binh ba đường, rầm rầm áp sát phương đông dọc theo đại hà.

Thời đại Chiến Quốc, nước Sở và nước Ngụy có nhiều thành trì nhất, nước Sở gần ba trăm thành, nước Ngụy khoảng hai trăm thành. Các nước lớn khác đều nằm trong khoảng một vạn thành, nước Tề hơn bảy mươi thành, nước Tần hơn tám mươi thành, nước Triệu hơn sáu mươi thành, nước Hàn hơn sáu mươi thành, nước Yên hơn năm mươi thành. Nước Sở có nhiều thành là vì đã thôn tính hai nước lớn Ngô Việt, hàng chục bang quốc miền núi và hàng trăm bộ tộc vùng sông nước miền núi. Các bộ tộc ở núi thường có thành trì, bình thường đều cả tộc cư trú trong các thành trì lớn nhỏ khác nhau, đoạt lấy thành trì, thực ra chính là chiếm cứ khu vực trung tâm của bang quốc hoặc bộ tộc. Trải qua mấy trăm năm thôn tính diệt nước, số lượng thành trì của nước Sở liền đứng đầu thiên hạ. Nước Ngụy là do quật khởi sớm nhất, dần dần thôn tính vùng đồng bằng trù phú nhất hai bên bờ đại hà. Hà Nội Hà Ngoại, vốn dĩ là vùng chư hầu lập lòe. Chư hầu nhỏ hễ có đất đai vài chục dặm, liền có hai ba thành ấp, nhân dân hầu như toàn bộ đều sinh sống trong thành. Sau khi nước Ngụy chiếm lĩnh, thiết lập quận thiết huyện, dần dần hóa thành chế độ quận huyện thống nhất, thành trì lớn nhỏ đều làm huyện phủ quận phủ, hoặc làm thành ấp lãnh chủ của quý tộc phong địa.

Loại thành trì này là nơi tập trung của cải, nhưng thủ quân lại rất ít, quan phủ chỉ có thủ túc quận huyện bắt trộm cướp và binh sĩ hộ vệ quan lại, thành lớn tối đa cũng chỉ ba năm trăm binh tốt mà thôi. Phong địa của quý tộc đại thần, pháp độ không cho phép có binh sĩ riêng, tối đa cũng chỉ là vài trăm hộ tráng đinh bản tộc hộ ấp mà thôi, hơn nữa không thể đường hoàng thành quân, chỉ có thể có việc thì ứng phó. Hơn sáu mươi thành trì Hà Nội lớn nhỏ, ngoại trừ An ấp từng là đô thành nước Ngụy nên trú phòng ba ngàn binh mã ra, các thành trì còn lại hầu như đều là số ít binh tốt không phải binh chiến.

Thành trì bình thường không trú quân, vốn dĩ là thông lệ trong thiên hạ. Thành nào cũng trú quân, binh lính sẽ nhiều như lông trâu, mặc cho ngươi là bang quốc trù phú thế nào, cũng gánh không nổi. Chính vì thế, ngoại trừ các nơi trọng yếu cần phòng thủ như quan hiểm độ khẩu là chanh tranh mà binh gia hướng tới, đại quân một nước tập trung trú phòng tập trung tác chiến, cũng là quy tắc chung từ xưa. Có địch tình ở đâu, đại quân liền lập tức chạy đến đó, đó chính là đạo lý binh vô thường thế. Nếu có hiểm tình mà đại quân không thể đến kịp, có nghĩa là khu vực gặp hiểm chắc chắn sẽ thất thủ! Dẫu sao, bách tính bình thường căn bản không thể chống lại quân đội hùng mạnh được huấn luyện chu đáo trang bị tinh lương.

Quân Ngụy muộn màng không đến, Hà Nội liền biến thành chiến trường không có đối thủ.

Quân Tần mở màn tấn công An ấp. Hàng trăm cỗ đại pháo cùng vạn chiếc cường nỗ, được dựng bày đen kịt dày đặc vô biên dưới chân thành. Xung xa vân thê vọng lâu, chất chồng như núi. Hai mươi vạn công thành giáp sĩ đại trận xếp hàng, thuẫn đen sáng lòa đầy sát khí! Chỉ riêng khí thế chưa từng có này, đã khiến ba ngàn thủ quân trên đầu thành An ấp kinh hãi biến sắc. Đến khi chiến trống như sấm tù và vang dội, đá lớn tên kén trút xuống tường thành lầu cung như mưa bão, xung xa rầm rầm húc mạnh vào cửa thành! Trong khoảnh khắc, lầu cung đổ sập ầm ầm, cửa thành vỡ nát tung tóe! Chưa đầy một canh giờ, quân Tần đã ào ạt kéo vào pháo đài lớn nhất Hà Nội này như sóng triều.

Lại đánh Bồ Bản. Phương trận màu đen của quân Tần vừa mới xếp thành, trên đầu thành liền treo một tấm vải trắng khổng lồ, trên đầu thành có một người khản giọng hô lớn: "Ta là Bồ Bản lệnh! Quân Tần không làm tổn hại bách tính, Bồ Bản nguyện đầu hàng Tần —!" Mông Ngao trên vọng lâu cao vút hô lớn: "Chuẩn cho các ngươi đầu hàng! Quan lại quân tốt tất cả ra khỏi thành! Quân Tần không phạm bách tính —!"

Cứ hạ hai thành như thế, các thành trì lân cận liền trông gió mà quy hàng. Bộ binh quân Tần hành quân ngày đêm gấp rút đường sá, chỉ bận rộn tiếp nhận thành trì. Chưa đầy mười ngày, liền "đoạt lấy" hơn ba mươi thành phía tây Hà Nội. Người lo việc thu xếp hậu sự, tiếp quản là đội ngũ văn quan của Ngụy Nhiễm cùng đại đội xe bò, bước vào một thành là lập tức kiểm điểm kho phủ, đem tài vật cất giữ cùng quan lại đầu hàng, chất đầy xe chở thẳng về Hàm Cục; sau đó là đại khái điểm danh nhân hộ, lập tức phân định liên tội lữ lý, khôi phục thị dịch vân vân. Cứ thế mãi, ngay cả phi ngựa không ngừng nghỉ cũng khó mà theo kịp tốc độ quân đội công chiếm. Ngụy Nhiễm vừa bực vừa buồn cười, cứ liên tục cười mắng: "Mẹ kiếp! Cái lão Ngụy Tứ này sao mà nhát gan thế không biết, lão phu ăn còn không kịp đây!"

Trong lúc cấp bách, Ngụy Nhiễm chỉ đành phi thư Hàm Cục cáo cấp. Tuyên Thái Hậu nhìn thấy, liền khúc khích cười với Tần Chiêu Vương: "Bạch Khởi này quả thực là một con ác lang xông vào bầy cừu. Ngươi xem, phải nghĩ cách thôi." Tần Chiêu Vương tuổi trẻ tâm tính, vui mừng vỗ bàn đứng dậy: "Ta đến Hà Nội đây, miếng mồi béo bở lớn thế này, không tin là không nuốt nổi!" Tuyên Thái Hậu cười nói: "Cũng được, đi rèn luyện một phen cũng tốt. Chỉ là việc này không thể để Bạch Khởi biết, tránh để hắn phân tâm."

Tần Chiêu Vương làm việc nhanh gọn, ban đêm hạ lệnh: Trưng dụng toàn bộ xe bò Quan Trung, mỗi huyện ba trăm chiếc, hạn trong ba ngày phải tập kết tại Hàm Cục! Sau đó mang tên giả là Công Tử Quý, dẫn theo một trăm văn lại cùng một đội thiết kỵ một trăm người lập tức phi ngựa hướng đông, bí mật đến Hà Nội hội hợp với Ngụy Nhiễm. Ngụy Nhiễm tinh thần đại phấn, lập tức phân phái một trăm lại viên phi ngựa vừa văn vừa võ này đến tiền quân tiếp quản thành trì, đem mấy ngàn chiếc xe bò theo sau biên đội, ngày đêm vận chuyển tài vật các kho phủ. Thoáng cái, trên đại đạo Hà Nội xe bò nườm nượp khói bụi mịt mù, của cải vô số kể mà nước Ngụy tích lũy ở Hà Nội hơn một trăm năm, liền theo những vòng bánh xe lăn cuồn cuộn chảy không ngừng vào nước Tần. Người Ngụy bên đường nhìn thấy tim rỉ máu, nhưng cũng chỉ đành ngửa mặt thở dài. Không mấy ngày, liền có một bài đồng dao lưu truyền khắp Hà Nội:

Ba mươi Hà Đông ba mươi Hà Nội

Ngô Bạch hai khởi trời tạo huyền cơ

Đồng dao truyền đến tai một văn lại tùy tùng, hắn liền hát cho Tần Chiêu Vương nghe. Tần Chiêu Vương vốn có thiên phú thông tuệ, ngâm nga bài đồng dao mấy lần liền mỉm cười: "Hay lắm! Người Ngụy coi trận chiến này là quả báo, thế thì đỡ được mối thù lớn oán lớn, xem ra quận Hà Đông này coi như đã vào tay rồi." Văn lại bừng tỉnh cười nói: "A, hiểu rồi! Ngô Khởi năm xưa đoạt Hà Tây nước Tần, làm giàu cho nước Ngụy. Bạch Khởi hôm nay đoạt Hà Đông nước Ngụy, làm giàu cho nước Tần?" Tần Chiêu Vương thong thả cười: "Đây là huyền cơ trời đất, không cho phép tiết lộ, cứ để mặc họ hát đi."

Ngay giữa làn khói bụi của muôn ngàn bánh xe ấy, ba đường đại quân nước Ngụy đã tiến về phía bắc.

Ngụy Tương Vương quái dị u uất, tại vị hai mươi ba năm, vậy mà suốt không lập thượng tướng, cũng là một chuyện kỳ lạ của thời Chiến Quốc. Vì nguyên nhân này, các tướng lĩnh thống binh của nước Ngụy đều trực tiếp nhận lệnh từ quốc vương, không thuộc quyền quản lý lẫn nhau. Lần cứu viện bắc thượng này, cũng không chỉ định chủ tướng, mà là tự điều binh ba đường chi viện. Trong ba tướng, Tấn Bì có tư lịch lâu năm nhất lại nổi tiếng trung quân ái quốc nhưng tài năng thì bình thường. Tân Viên Diễn trẻ tuổi thiện chiến, nhưng tư lịch lại quá nông cạn, trận chiến Hà Ngoại duy nhất lại đại bại mà về, nếu không phải rất được thừa tướng Ngụy Tề sủng ái, thì tội chết khó tránh. Công Tôn Hỷ xuất thân thế gia đại tộc, có quan hệ thông gia đời đời với gia tộc Ngụy Tề, liền làm Tuy Suôi tướng, nhưng chưa từng đánh một trận lớn nào. Dù thế nào đi nữa, ba người lâm nguy nhận lệnh, vẫn rất muốn đánh cho tốt trận chiến này. Nhưng muôn vàn nghi điển long trọng nối tiếp nhau kéo nhau đến, ba tướng lại không có thời gian tụ tập bàn bạc phương lược cùng nhau, ngày rời khỏi Đại Lương, qua loa nói vài câu, cũng chỉ thương định độ khẩu của mỗi người và phương hướng tấn công sau khi vượt sông — đại quân Tấn Bì vượt sông từ Mạnh Tân, đại quân Công Tôn Hỷ vượt sông từ Tu Vũ, Tân Viên Diễn vượt sông từ Bạch Mã Tân; ba quân hợp lực tấn công hướng bắc, ép quân Tần vào vùng núi Thượng Đang, ít nhất cũng phải đẩy lui về Hà Tây.

Bộ đội của Tấn Bì vốn dĩ là năm vạn đại quân, không cần tăng điều, vừa về đến đại doanh liền lập tức vượt sông từ Mạnh Tân. Độ khẩu Mạnh Tân này cách hai thành lớn An ấp, Bồ Bản ở phía tây bắc chỉ hơn hai trăm dặm, thiết kỵ tinh nhuệ hai canh giờ là có thể đến nơi. Tấn Bì đã nhận được thám báo: Chủ lực quân Tần chiếm lĩnh An ấp Bồ Bản xong đã tiến về phía đông, hai thành chỉ có một đám văn lại của nước Tần và đoàn xe phu khuân vác của cải. Tấn Bì lập tức hạ lệnh: Trước tiên đoạt lại An ấp Bồ Bản, sau đó tiến về phía đông bắc! Quả thực làm được như vậy, tin thắng trận đầu tiên truyền về, Đại Lương sẽ vô cùng phấn chấn, tự nhiên cũng là một phần đại công của Tấn Bì.

Quân lệnh vừa xuống, năm vạn thiết kỵ lập tức cuồn cuộn cuồng phong cuốn tới An ấp dọc theo sơn nguyên bờ bắc đại hà. Vừa đến một vùng thung lũng, liền nghe hai bên đầu núi trống trận như sấm tù và nổi dậy, hắc sắc thiết kỵ từ khắp núi đồi ào ạt lao tới! Đại quân Tấn Bì đều biết chủ lực quân Tần đã tiến về phía đông, nơi này đã là hậu phương của quân Tần, tuyệt vạn lần không ngờ tới lại có thiết kỵ chủ lực của quân Tần giết đến, nhất thời hoảng loạn đại loạn. Trong lúc vội vàng, tuy có năm vạn kỵ binh, nhưng lại không thể triển khai, trước chen sau lộn tự giẫm đạp lẫn nhau, liền bị mắc kẹt trong những gò đống lũng sâu.

Thiết kỵ của Vương Ngật đã chịu đựng hơn nửa tháng, các kỵ sĩ mắt thấy bộ binh công thành cướp đất tiến triển cực nhanh, sớm đã đỏ ngầu gào thét um sùm, chỉ sợ quân Ngụy không đến, mình mất trận đánh không thể chém đầu lập công. Nay quân Ngụy cuối cùng đã xuất hiện, kỵ sĩ quân Tần sớm đã dồn đủ sức mạnh lấy nhàn chống mệt, dũng mãnh xung phong, quả thực là thế như chẻ tre! Nửa tháng nay, Vương Ngật đã xử lý tỉ mỉ đoạn đường mai phục, những rừng cây khô ở các thung lũng gò đống, từng gốc cây lớn đều được quét hơn chục lớp mãnh hỏa du, mỗi đầu núi đều giấu tay châm lửa. Thiết kỵ quân Tần một phen xung phong ép quân Ngụy vào các lũng gò lớn nhỏ xong, tay châm lửa lập tức tung mạnh đuốc, trong khoảnh khắc, lửa lớn liền bùng cháy dữ dội trong các gò đống lũng sâu! Thiết kỵ quân Ngụy mặc giáp da trâu, kỵ sĩ xung đột trong biển lửa, giáp da bỗng chốc trở thành nguyên liệu bắt lửa cực mạnh, các kỵ sĩ toàn thân bốc lửa, lần lượt xuống ngựa hoảng loạn lăn lộn trên đất dập lửa! Cứ thế, chiến ngựa liền rời xa chủ nhân hoảng loạn bôn đẩu, quấn lấy nhau, rốt cuộc không thể hình thành chiến lực xung phong nữa. Quân Tần lại chỉ thủ ở cửa khẩu yếu đạo, chém giết kỵ sĩ tháo chạy.

Tấn Bì từng trải chiến trường, hễ thấy lửa bốc lên, liền biết là không ổn, lập tức khản giọng thét lớn: "Quay quân hướng nam! Giết về hướng bãi cát!" Tàn quân hỗn loạn hô lên một tiếng, liền lao mạnh về phía bãi cát hoang vắng phía tây nam. Quân Tần lại chỉ truy sát một hồi, liền rút lui, chỉ giữ chặt yếu đạo thông về An ấp không nhúc nhích. Tàn binh của Tấn Bì vào bãi cát, thấy quân Tần không truy sát cùng đường, liền tranh nhau lăn vào vũng bùn ao nước dập lửa, nửa canh giờ sau, lửa đã tắt, thế nhưng ai nấy đều mình đầy bùn nước, thảm hại đến mức không thể kịch chiến nổi nữa. Tấn Bì không kìm được rơi lệ đầy mặt ngửa mặt thở dài: "Trời diệt đại Ngụy vậy! Lão phu biết làm sao đây?" Suy đi tính lại, chỉ đành hạ lệnh lập tức quay quân, đồng thời phi mã báo cho Đại Lương, xin Ngụy vương khẩn trương phái bộ binh tinh nhuệ hướng bắc.

Công Tôn Hỷ ở trung lộ lại lê bước khó khăn. Vì phải điều tập đủ năm vạn thiết kỵ mà trì hoãn ba ngày, đến khi hộc tốc chạy đến độ khẩu Ngao Thương, lại đúng lúc hơn chục đại thuyền chở binh đều bị Ngao Thương lệnh trưng dụng, độ khẩu chỉ còn lại hơn ba mươi chiếc thuyền vừa và nhỏ. Những chiến thuyền lớn đó là do Ngô Khởi làm thượng tướng năm xưa, xin chuẩn Ngụy Vũ Hầu tinh xảo chế tạo, mỗi thuyền có thể chở năm trăm binh sĩ vượt sông, tổng cộng hơn năm mươi chiếc, tập trung tại ba đại độ khẩu Mạnh Tân, Ngao Thương, Bạch Mã Tân. Pháp độ nước Ngụy: Không có lệnh tiễn của tướng quân xuất chiến, bất kỳ quan thự thương lữ nào cũng không được động đến chiến thuyền. Nếu chiến thuyền lớn còn đó, cộng với hơn ba mươi chiếc thuyền vừa và nhỏ, năm vạn thiết kỵ người lẫn ngựa, khoảng nửa ngày là qua sông rồi. Nay chiến thuyền lớn không còn, rõ ràng là ba ngày ba đêm cũng không chở hết năm vạn quân mã.

Đồ heo! Đồ súc sinh!" Công Tôn Hỷ chửi rủa tư mã cở sở chuyên phụ trách chuẩn bị thuyền ở độ khẩu đến muộn, "Mày gan bằng trời, lại dám tự ý thả chiến thuyền đi, ông diệt cả nhà mày!"

Tướng quân xin xem." Tư mã cở sở đưa lên một mặt cổ đồng lệnh bài với vẻ mặt đưa đám, "Ngao Thương lệnh nói, phải vận chuyển sơn hóa mùa đông đến vương cung Đại Lương, không thể chậm trễ, năm nào mùa đông cũng trưng dụng chiến thuyền. Ngao Thương lệnh có vương mệnh kiếm tiên trảm hậu tấu, mạt tướng không dám trái lệnh."

Một tiếng động lớn vang lên, Công Tôn Hỷ đập mạnh tấm lệnh bài vương mệnh đó xuống hòn đá ở bến tàu, gầm lên một tiếng: "Mẹ kiếp! Vượt sông!"

Đoạn sông Ngao Thương là thủy đạo chính kết nối nam bắc đại hà nước Ngụy, dòng nước phẳng lặng lòng sông rộng rãi, hơn ba mươi chiếc thuyền vừa và nhỏ xếp thành một hàng giương buồm trắng, trông cũng vô cùng tráng lệ. Chỉ là mỗi chiếc thuyền người lẫn ngựa chỉ đứng được mười mấy người, vượt sông suốt bốn canh giờ mới qua được hai nghìn quân mã, mắt thấy mặt trời mùa đông đã gối đầu lên đỉnh núi. Công Tôn Hỷ mặt xanh mét gầm lớn: "Châm đuốc lên! Đêm vượt sông!" Trong khoảnh khắc, ráng chiều tắt ngấm, ngọn đuốc liên miên liền chiếu rọi độ khẩu Ngao Thương sáng rực như ban ngày. Dù là vậy, cho đến khi trời hửng sáng, mới miễn cưỡng qua được hơn năm nghìn quân mã, còn làm lật năm chiếc thuyền nhỏ trong đêm tối. Giọng Công Tôn Hỷ lạc cả đi, thế nhưng hoàn toàn không có cách nào khác. Rề rà đến chiều tối, chiến thuyền lớn bất ngờ quay về được sáu chiếc, Công Tôn Hỷ vô cùng phấn khởi, lập tức hạ lệnh quân mã lên thuyền lớn vượt sông. Chập tối, nhìn thấy quân mã qua sông đã hơn ba vạn, Công Tôn Hỷ liền lớn tiếng hạ lệnh: "Quân mã còn lại tất cả đêm vượt sông! Nhất định phải qua sông toàn bộ trước khi trời sáng!" Nói xong giao cờ lệnh tướng quân đôn đốc vượt sông cho phó tướng, còn mình thì lên thuyền vượt sông chỉnh đốn đại quân.

Đêm tối mịt mờ, chiến thuyền vừa ra giữa sông, bỗng thấy bờ bắc đại hà vốn đang u ám bỗng chốc lửa bùng dữ dội tiếng sát trời vang! Chợt phắt, Công Tôn Hỷ đứng ở đầu thành liền cảm thấy một cơn lạnh thấu xương lan khắp toàn thân, thét khàn cả giọng: "Mau! Thuyền mau!"

Bẩm báo tướng quân!" Tên đầu mục chèo thuyền bước tới, "Bến tàu bờ bắc có lửa lớn! Không thể cập thuyền!"

Cập! Dù là núi dao, cũng phải cập lên cho ta!" Mắt Công Tôn Hỷ trừng muốn rướm máu.

Hô!" Tên đầu mục thét lên một tiếng bén nhọn, "Thuyền chậm giữ tay chèo! Cập bến tàu —!"

Công Tôn Hỷ lớn tiếng thét: "Toàn thể giương cung! Bắn ra khỏi bến tàu cho ta!"

Trong khoảnh khắc kỵ sĩ giương cung lắp tên, trong đêm tối vô tận bỗng vang lên tiếng rít liên miên, tên nỗ lớn mang theo ngọn lửa rít lên, tựa như những con rắn lửa dày đặc trút xuống mạn thuyền buồng lái đầu thuyền cột buồm, cắm vào đâu là ở đó bùng lên ngọn lửa dữ dội! Đợt tên dài của quân Ngụy còn chưa bắn xong, người ngựa đầu thuyền đã ngã xuống hơn nửa, toàn bộ chiếc thuyền lớn cũng bị thiêu thành một ngọn núi lửa sáng rực!

Tần lang! Ông liều mạng với tụi mày —!" Một tiếng gầm thét trong biển lửa, liền có một cục lửa từ đầu thuyền cao hai trượng bay lên, lao thẳng xuống dòng đại hà cuồn cuộn chảy. "Tướng quân!" "Tướng quân lên bờ giết địch rồi!" "Nhảy đi! Liều mạng thôi!" Biển lửa đầu thuyền vang lên tiếng kêu hoảng loạn, liền có từng cục lửa theo nhau lao xuống đại hà, mặt sông u ám bỗng chốc sáng bừng lên.

Theo từng cục lửa lao xuống nước, mũi tên trên bờ cũng lập tức bay tới, nhìn thấy những binh sĩ mình đầy lửa ngã xuống nước kêu gào thảm thiết, nhưng lại chợt nghe vài tiếng tù và ngắn ngủi trên bờ, mũi tên bỗng nhiên ngừng bặt! Một giọng nói to khỏe từ trên bờ truyền thẳng tới: "Công Tôn Hỷ nghe đây: Đại tướng quân ta Vương Lăng, người lên bờ của ngươi từng lớp từng lớp, đã bị ta giết sạch không còn một mống! Nể ngươi liều chết lao vào hiểm nguy, người Tần già cho ngươi lên bờ thu thây, chất lên thuyền lớn chở về —!"

Công Tôn Hỷ chật vật bơi đến bến tàu tơi tả, mình đầy bùn nước lảo đảo lên bờ, nhưng lại thấy trên bến hàng rộng lớn ngày thường chứa đầy hàng hóa vậy mà thây chất như núi, trong tàn khói của ngọn lửa chưa tắt hết khiến người ta kinh hãi, mùi thối rữa nồng nặc của xác chết ùa tới trong cơn gió bắc rít gào, khiến người ta suýt ngạt thở. Công Tôn Hỷ chưa từng thấy trận địa thảm khốc đến thế, lập tức lộn ruột nôn mửa dữ dội! Giọng nói to khỏe đó lại theo gió văng vẳng tới, lại là một tràng cười lớn ha hả: "Công Tôn Hỷ, không chịu nổi xác chết mà đòi đánh trận cái nỗi gì? Mau cẩn thận quay về đi, cẩn thận trời sáng ta đổi ý đấy! A ha ha ha ha!"

Công Tôn Hỷ mặt tái mét tim đập thình thịch run rẩy đứng dậy, đối diện với tiếng cười muốn gầm lên một tiếng, nhưng rốt cuộc toàn thân mềm nhũn không gầm nổi, nhìn thấy đống thây người có một lưỡi dao trắng sáng ngời sừng sững cắm đứng, liền lảo đảo lao thẳng tới, "Phập!" một tiếng máu tươi văng khắp nơi, Công Tôn Hỷ liền mềm nhũn ngã gục xuống. Tiếng hò hét chìm lắng, ánh lửa tắt lịm. Trong bóng tối chỉ nghe Vương Lăng thở dài một tiếng: "Thằng nhóc có khí phách! Đáng tiếc thật!"

Đúng lúc này, một kỵ mã phi nhanh đến bến tàu: "Quốc úy tướng lệnh: Tướng quân Vương Lăng giữ chặt Hoài Thành không nhúc nhích, đợi thừa tướng đến tiếp quản, đồng thời đi theo hộ vệ thừa tướng." Vương Lăng vô cùng sốt ruột: "Không đánh trận mà giữ ở đây làm cái quái gì? Ta đi chi viện Bạch Mã Tân!" Sứ giả phi ngựa cao giọng nói: "Quốc úy có lời: Mỗi người làm tròn chức trách, không được trái lệnh tranh chiến!" Vương Lăng vội vã nói: "Được được được, ta không tranh chiến. Thế ngươi nói xem, Bạch Mã Tân thế nào rồi?" Sứ giả đáp một câu: "Đang kịch chiến!" rồi phi ngựa đi mất.

Kỳ Dương Xuyên đối diện Bạch Mã Tân, lại là một trận chiến máu me vô cùng thảm liệt!

Tân Viên Diễn dũng mãnh thiện chiến, sau trận đại bại Hà Ngoại lòng lập công vô cùng thiết tha, vừa về đến đại doanh liền ngày đêm điều binh, hai vạn kỵ binh đóng quân ở đầm Cửu Dã còn chưa kịp chạy tới, Tân Viên Diễn đã suất lĩnh ba vạn thiết kỵ vượt qua đại hà trước. Vừa qua sông Tân Viên Diễn liền nhận được thám báo: Bộ tốt quân Tần một vạn năm nghìn, đã tiến về phía đông đến vùng Tu Vũ, cách Kỳ Thủy chỉ còn khoảng hai trăm dặm! Tân Viên Diễn nghe thấy thế tim đập thình thịch, ba vạn kỵ binh đối chọi với hơn vạn bộ tốt, đó chính là nắm chắc phần thắng. Lúc ấy chính là thời điểm xế chiều, Tân Viên Diễn lập tức chỉnh đốn quân mã, dọc theo đại đạo bờ bắc đại hà tiến nhanh gấp rút về phía tây nam. Chiếu theo tốc độ phi nước đại của thiết kỵ, nhiều nhất hai canh giờ là có thể đến Tu Vũ.

Con đại đạo này, ở giữa lại vắt ngang một dòng Kỳ Thủy từ bắc chảy nam đổ vào sông Hoàng Hà, vùng kẹp giữa bờ đông Kỳ Thủy và bờ bắc đại hà, chính là một dải sơn nguyên liên miên, người thời đó gọi là Kỳ Dương Xuyên. Nơi yếu hại trên đại đạo dựng một tòa pháo đài, chính là Kỳ Dương. Thành Kỳ Dương này lại được xây dựng trên sơn nguyên, tựn gò gối Kỳ Thủy, sừng sững cực kỳ hiểm trở. Đại đạo từ Bạch Mã Tân thông về phía tây Hà Nội vừa vặn đi qua dưới chân thành, Kỳ Dương chính là chiếm chỗ cao ngạo nghễ trấn thủ nơi yết hầu. Thiết kỵ Doanh Báo đã sớm đến từ trước, chỉ là mai phục ở Kỳ Dương Xuyên nghiêm trận đợi địch. Không ngờ ba ngày sau, vậy mà không thấy động tĩnh quân Ngụy. Doanh Báo cơ biến, liền lệnh năm nghìn kỵ sĩ cải trang thành bộ tốt, đêm khuya ngày hôm đó đột kích một mẻ, đánh chiếm pháo đài hiểm yếu chỉ có mấy trăm quân sĩ không phải binh chiến này. Vừa chiếm được Kỳ Dương, Doanh Báo lập tức phi báo Bạch Khởi, đồng thời chia binh trấn thủ: Một vạn thiết kỵ mai phục ở sơn nguyên hai bên đại đạo, năm nghìn thiết kỵ ẩn nấp trong thành. Kiên nhẫn chờ đợi nửa tháng, Doanh Báo hoàn toàn không dám lơ là, thám báo phi kỵ tung ra vòng quanh trăm dặm, sợ nhất là quân Ngụy không đi đại đạo Bạch Mã Tân. Tân Viên Diễn vừa nhúc nhích, Doanh Báo vô cùng phấn khởi, lập tức tự mình tọa trấn ngọn đồi mai phục ngoài thành, muốn một mẻ tiêu diệt ba vạn thiết kỵ của Tân Viên Diễn.

Thiết kỵ của Tân Viên Diễn nhanh như chớp, chưa đầy nửa canh giờ, liền xông vào đại đạo Kỳ Dương Xuyên, đợi đến khi đại đội lướt đi như bay dưới chân thành Kỳ Dương, thì vừa vặn là toàn bộ đại quân đã vào trong thung lũng. Đúng lúc này, liền nghe hai bên đỉnh núi trống trận như sấm tù và réo rắt, trên sườn đồi cây cối thưa thớt cờ xí phấp phới, hắc sắc thiết kỵ từ khắp núi đồi gào thét áp đỉnh lao xuống. Hầu như cùng lúc đó, trên đầu thành Kỳ Dương cũng trống trận rền vang, năm nghìn hắc sắc thiết kỵ mở cửa thành giết ra, trực tiếp chặn đứt cửa thung lũng.

Tân Viên Diễn liếc nhanh một cái sang hai sườn đồi, liền gầm lên một tiếng: "Quân Tần không nhiều! Trăm kỵ một trận, giết ra khỏi Kỳ Dương Xuyên!" Gầm xong một tiếng, giật lấy lá cờ lớn trong tay tư mã trung quân liên tục vẩy ra lệnh: "Tiền quân một vạn, tiến lên giết! Hậu quân một vạn, quay đầu giết! Trung quân một vạn, giết lên hai bên sườn đồi —!" Phát lệnh xong một loạt, đem lá cờ lớn nhét lại vào ngực tư mã trung quân, giơ cao kiếm hô lớn: "Theo ta giết!" liền dẫn theo một ngàn tinh nhuệ hộ vệ lao vùn vụt như gió lốc về phía sườn đồi phía đông.

Phàm là gặp phải phục kích bất ngờ đường về bị cắt đứt, lòng dũng cảm của đại tướng là quan trọng nhất. Cùng là quân Ngụy, Tân Viên Diễn thân trận đi đầu dũng mãnh kịch chiến, ba vạn kỵ sĩ quân Ngụy liền bừng bừng ý chí chiến đấu, ai nấy ôm ấp quyết tâm tử chiến, cục diện chiến trường liền tức thì thay đổi. Thiết kỵ quân Tần lúc đó, chiến lực đã đứng đầu thiên hạ, lại thêm dưỡng sức lấy nhàn, ai nấy đều cho rằng chỉ một đợt xung phong là có thể đánh tan quân Ngụy. Nào ngờ quân Ngụy không những không hoảng loạn đại loạn, ngược lại còn xông lên muốn cắn ngược lại quân Tần! Dù rằng chiến lực có chênh lệch lại còn rong ruổi đường xa, nhưng binh lực lại nhiều gấp đôi quân Tần, lại thêm ý chí tử chiến phá vây, trong khoảnh khắc liền quấn lấy nhau quy mô lớn với quân Tần, đánh nhau đến mức bất phân thắng bại.

Doanh Báo là chủ tướng kỵ binh của quân Tần, vào những ngày bình thường, toàn bộ mười vạn thiết kỵ đều quy thuộc trướng hạ của ông, là một vị tướng mãnh tướng uy danh lẫm liệt của quân Tần. Trận phục kích hôm nay, ông vốn ở trên đầu núi dùng trống chiêng cờ xí phát hiệu tống lệnh, chỉ huy toàn quân cắt chặn phương hướng, cốt là vì binh lực quân Tần ít, sợ không vây nổi quân Ngụy. Giao chiến chốc lát, ông liền thấy tình thế không ổn, chân mày đang nhíu chặt chợt giật mạnh một cái: "Tư mã chưởng kỳ! Thiết Ưng kỵ sĩ lên ngựa, theo ta xuống núi, trực đảo đại kỳ Tân Viên Diễn!" Dứt lời, người đã phi thân lên ngựa, thanh kiếm chỉ giơ lên một cái, liền dẫn theo hai trăm Thiết Ưng kỵ sĩ tinh nhuệ nhất áp đảo xuống núi như sấm chớp sét đánh!

Thiết Ưng kỵ sĩ của quân Tần là kỵ binh giáp nặng, bản thân kỵ sĩ trước hết phải là Thiết Ưng kiếm sĩ, ai nấy một thanh trường kiếm nặng mười lăm mười sáu cân, người lẫn ngựa đều khoác giáp sắt kín mít, chỉ lộ ra hai con mắt, leng keng áp tới, đao kiếm mũi tên bình thường chạm phải là văng ra, căn cứ không thể xáp lại gần mà chém giết. Hai trăm kỵ binh cuốn cuồn cuộn bụi mù như thế, vậy mà không có bất kỳ tiếng hò hét nào, lại chĩa thẳng vào lá cờ chữ "Tân" mà cuốn tới. Thông lệ quân pháp Chiến Quốc: Đại tướng bị bắt, quan chức từ năm mươi người trở lên bị chém đầu toàn bộ! Hộ vệ cùng chết với đại tướng, có công không tội. Chính vì thế, binh lính hộ vệ thân cận của đại tướng đều là tử sĩ tinh nhuệ, một ngàn thiết kỵ hộ vệ của Tân Viên Diễn tự nhiên cũng không nghi ngờ gì là kỵ sĩ tinh nhuệ của quân Ngụy. Nhìn thấy dòng thác đen không có cờ xí này đang ào ạt áp tới, thiên phu trưởng hộ vệ liền gầm lên một tiếng: "Đội trăm người bảo vệ cờ bảo vệ tướng! Đội khác xếp trận ba lớp! Giết!" Trong khoảnh khắc liền va chạm ầm ầm với dòng thác đen.

Vừa giao thủ, Thiết Ưng kỵ sĩ của Doanh Báo liền đại hiện uy phong, không xếp theo đội hình tam giác ba kỵ mà kỵ sĩ quân Tần giỏi nhất, chỉ đơn binh tản ra một hình quạt, vậy mà một đường chém giết lao tới. Dù hộ vệ quân Ngụy tử chiến không lùi, thế nhưng giống như mụn gỗ đâm vào tháp sắt, hễ đụng vào là văng tung tóe kêu rắc rắc. Tân Viên Diễn từng có ác chiến với quân Tần ở Hà Ngoại, liếc mắt nhìn lạnh lùng, liền biết không phải đối thủ, giơ kiếm gầm lớn: "Rút lui khỏi sườn đồi! Hướng đông phá vây!" Lúc này vừa vặn có một đợt kỵ binh quân Ngụy xông tới bao bọc lấy dòng thác đen, Tân Viên Diễn cùng vài trăm kỵ sĩ hộ vệ tàn dư nhân cơ hội thoát khỏi chém giết, lao xuống núi rồi hạ lệnh quân Ngụy toàn bộ quay đầu xông về đường cũ chém giết phá vây.

Nhìn thấy kỵ binh màu đỏ của quân Ngụy cuồn cuộn cuộn cuộn cuộn sóng quay về, năm ngàn thiết kỵ quân Tần ở cửa thung lũng nhanh chóng lùi về phía sau, bày ra ba phương trận luân phiên cắt chặn. Thế nhưng, quân Ngụy liều chết phá vây lại ào ạt lao lên, kỵ sĩ quân Tần liều mạng chiến đấu, thương vong quá nửa cũng không thể chặn nổi. Đúng lúc này, tiếng hò hét phía đông bỗng chốc bùng lên, giữa bầu trời lửa đuốc lại thấy đại đội hắc sắc thiết kỵ như cuồng phong giết tới, một lá cờ chữ "Bạch" dưới ánh lửa chiếu rọi lại vô cùng rõ ràng.

Tân Viên Diễn trong loạn quân tức thì lạnh thối đỉnh đầu, khản giọng hét lớn: "Chủ lực Bạch Khởi đến rồi! Cuộn cờ! Mau chạy —!" Quân Ngụy nổ tung ầm ầm, lần lượt tìm đường trốn chạy vào bóng tối vô tận, lá cờ chữ "Tân" đột ngột biến mất, Tân Viên Diễn cùng kỵ sĩ hộ vệ tàn dư cũng tản mác biến mất trong bóng tối mênh mông vô tận. Quân Tần truy sát ra ba năm dặm, Bạch Khởi liền quả quyết hạ lệnh hồi binh. Doanh Báo đã giết đến hăng máu, lớn tiếng kêu đòi bắt sống Tân Viên Diễn để tế cờ. Bạch Khởi quát lớn: "Quân lệnh như sơn! Thu binh!" Doanh Báo thấy Bạch Khởi nổi giận, mới hậm hực thu binh về doanh.

Sáng sớm hôm sau kiểm điểm chiến trường, xác quân Ngụy hai vạn sáu nghìn hơn; quân Tần chết trận tám nghìn, trọng thương hơn hai nghìn, khinh thương hơn ba nghìn, nói cách khác, một vạn năm nghìn thiết kỵ của Doanh Báo hầu như không chết thì bị thương, quả thực là một chiến thắng thảm thiết chưa từng có. Quan trọng hơn nữa, nếu không có năm ngìn tinh thiết kỵ của Bạch Khởi giết đến, thương vong rất có thể còn thảm trọng hơn nữa. Khiến Doanh Báo nghiến răng nghiến lợi thề thốt: "Tân Viên Diễn! Lần tới không giết ngươi báo thù, Doanh Báo thề không làm người!" Bạch Khởi trầm mặc nửa ngày, lại là tiếng thở dài thê lương: "Chiến thắng thảm thiết như thất bại, là lỗi của ta! Quân ta ít binh, Tân Viên Diễn mới dám tử chiến. Xem ra, không thể thuần túy dựa vào chiến lực, vẫn phải có ưu thế binh lực." Thấy Bạch Khởi tự trách như vậy, Doanh Báo cười lớn bảo: "Nói gì thế? Đánh trận mà không chết người á? Hắn tử chiến, ta mới có hứng thú, mới có chỗ để cắn chứ!" Bạch Khởi lắc lắc đầu, lại không nói gì nữa.

Ba ngày sau, tin tức từ Đại Lương truyền đến: Tín Lăng Quân liều chết can giam, xin tự mình suất lĩnh hai mươi vạn bộ tốt hướng bắc, quyết chiến với quân Tần ở Hà Nội, thế nhưng lại bị Ngụy Tương Vương và thừa tướng Ngụy Tề lấy cớ từ chối. Tần Chiêu Vương vô cùng thắc mắc: "Ngụy Tứ này quả thật già rồi sao? Vẫn còn mấy chục vạn đại quân, sao lại không phát binh? Lạ thật!" Ngụy Nhiễm cười nói: "Lão già này, chỉ cần giữ được cái vương tọa của mình, mặc kệ ngươi mất thành mất đất! Tín Lăng Quân vốn dĩ suýt chút nữa đã thành thái tử, nếu đại quân nắm trong tay, lão già ấy có yên tâm nổi không?" Tần Chiêu Vương vô cùng cảm thán, lắc đầu thở dài một tiếng: "Quốc vương mà làm đến mức độ này, chỉ sợ là trời cứu cũng không nổi!" Ngụy Nhiễm vỗ bàn nói: "Mặc kệ hắn! Ta thấy, lập tức thiết lập quận Hà Đông, bước một bước lớn ra ngoài Sơn Đông!" Tần Chiêu Vương trầm tư nói: "Thiết lập quận giữ đất, muôn việc bề bộn, vương cửu đã nghĩ kỹ hết chưa?" Ngụy Nhiễm thong thả cười: "Vào thời điểm này, trước tiên phải có phách lực thiết lập quận. Hà Nội thiết lập quận, bước ra ngoài Sơn Đông ba trăm dặm, oai lực chấn động biết bao? Còn như những việc vụn vặt, ta tự sẽ thương lượng thỏa đáng với Bạch Khởi, bẩm báo thái hoạ quyết định. Ngươi còn trẻ, về Hàm Cục đọc sách là được, bận tâm cái gì?" Ánh mắt Tần Chiêu Vương lóe lên cười nói: "Ta ở lại bên cạnh vương cửu, cũng là muốn học hỏi thêm chút bản lĩnh, về Hàm Cục ngột ngạt muốn chết ấy chứ." Ngụy Nhiễm cười nói: "Chỉ là đừng để xảy ra chuyện, thì tùy ngươi vậy."

Tin tức Đại Lương không phát binh nhanh chóng lan truyền khắp Hà Nội, người Ngụy ở Hà Nội thất vọng tột cùng, hễ quân Tần đến là lập tức mở thành đầu hàng. Chẳng mấy chốc, quân Tần đã không tốn một mũi tên tiếp nhận các pháo đài còn lại. Đến lúc này vừa tròn một tháng, sáu mươi ba thành Hà Nội đã bị quân Tần chiếm lĩnh toàn bộ, lại là không sót một mẻ.

Bạch Khởi phi ngựa đến Hoài Thành hội hợp với Ngụy Nhiễm. Vội vã ăn xong một bữa cơm quân sự, Ngụy Nhiễm liền đưa tới một cuốn trúc giản: "Xem đi, ngươi và ta thương lượng một phen, liền bẩm báo thái hậu quyết định thi hành." Bạch Khởi mở trúc giản, trước mắt liền sáng ngời!

Thỉnh thiết lập Hà Đông quận thư

Thần bẩm thái hậu: Hà Nội vừa mới bình định, đoạt sáu mươi ba thành, đất đai hơn bốn trăm dặm. Hà Nội giáp ranh Hàm Cục quan, liền một khối với bản thổ của chúng ta, nếu được thiết lập quận để cai trị, hóa nhập vào nước Tần, thì có thể một lần chấn động thiên hạ, lập nên căn cứ đại Tần vươn ra biển Đông, quả thực là nghiệp lớn bất hủ vậy. Chính vì thế, thần xin thiết lập quận Hà Đông, các việc như sau:

Thứ nhất, trị sở của quận đặt tại Hoài Thành. Hoài nằm ở trung trục Hà Nội, có sự tiện lợi trấn thủ.

Thứ hai, quận Hà Đông thiết lập mười ba huyện, Bồ Bản, An ấp, Tả Ấp, Bì Ấp, Dã Vương, Chỉ, Tu Vũ, Sơn Dương, Hà Ung, Triều Ca, Kỳ Dương, Cộng, Cấp.

Thứ ba, quận thủ huyện lệnh xuất thân từ bản thổ, thuộc viên tuyển chọn từ lại cũ, số lượng giảm một nửa so với các huyện Quan Trung.

Thứ tư, trong vòng mười năm, không thi hành pháp luật Tần, không thu thuế phú, không trưng binh dịch.

Thứ năm, quân trú phòng Hà Nội hai vạn thiết kỵ, lương thảo trọng chất do bản thổ nước Tần vận chuyển.

Thần Ngụy Nhiễm Bạch Khởi đốn thủ

"Được!" Bạch Khởi cuộn trúc giản lại, "Thừa tướng suy nghĩ chu toàn, ta không có ý kiến gì. Chỉ là, thừa tướng lần này lôi cả ta vào..." Ngụy Nhiễm vung tay lớn cắt ngang cười nói: "Không phải tặng công lao cho ngươi, là lão phu muốn mượn oai phong đại tướng quân của ngươi!" Bạch Khởi không quen nói đùa, mặt đỏ bừng nói: "Thừa tướng nói gì thế? Trận chiến này đánh không sạch sẽ, có oai phong gì đâu?" Ngụy Nhiễm cười lớn: "Ô hô ai tai! Một tháng hạ hơn sáu mươi thành, mà còn gọi là không sạch sẽ?" Bạch Khởi lẩm bẩm: "Kỳ Dương Xuyên quá bực bội, tám nghìn kỵ sĩ tử trận." Mắt Ngụy Nhiễm liền trợn trừng: "Từ nay về sau không được nhắc đi nhắc lại chuyện này bên miệng! Thiên hạ vốn không có chuyện gì, nhắc nhiều thì sinh chuyện. Ngươi là nghiêm khắc với bản thân, chưa chắc ai cũng nhìn như vậy! Hiểu chưa? Ngươi chỉ nhớ cho kỹ: Hễ đánh thắng, đừng nói chết tám nghìn người, cho dù chết tám vạn người, lão phu cũng gánh cho ngươi! Xem kẻ nào dám lém lỉnh nhiều lời?" Bạch Khởi liền mỉm cười: "Khí phách của thừa tướng, cũng là phúc khí của kẻ làm tướng vậy." Ngụy Nhiễm lại thở dài một tiếng: "Quan trường như chiến trường, xưa nay đều vậy. Lão phu cũng chỉ là giữ lấy eo sau cho kẻ làm việc, nào có gì khác đâu!"

Bạch Khởi chợt nhớ lại ý nghĩ vừa rồi, chỉ vào cuộn thẻ tre cười nói: "Thừa tướng à, quận sở này sao lại đặt ở Hoài Thành? An ấp là cố đô của nước Ngụy, sao không đặt ở đó?"

"Cái này thì ngươi lại không hiểu rồi." Ngụy Nhiễm cười ha hả, "An ấp tuy là cố đô, thành lớn phồn hoa, nhưng cũng là gốc rễ lâu đời của nước Ngụy, nhiều chuyện chỉ có thể nhắm một mắt mở một mắt. Nếu quan phủ ở đây, ngược lại sẽ có nhiều điểm bất tiện. Phàm là cố đô của địch, chỉ có thể dùng lửa nhỏ ninh kỹ, lấy năm tháng để hóa giải. Hoài thì khác, nơi này vốn là nước Hình cổ thời Ân Thương, tên thành là Hình Câu, Chu Võ Vương đánh Trụ diệt xong, đổi Hình Câu thành Hoài. Hoài nghĩa là an phủ truy niệm vậy. Hoài Thành nằm ở nơi trọng yếu của ba sông, lại giáp ranh Lạc Dương, vốn là gốc rễ người Chu cũ của nước Tấn. Dân có câu nói Chu Tần đồng nguyên, việc kiểm tra dân số và xử lý công việc sẽ thuận suôn hơn một chút. Lại nói, Quốc úy không cho rằng đất Hoài chính là cổ họng của binh gia sao?"

Bạch Khởi gật đầu cười nói: "Thì ra là thế. An ấp có chuyện, đại quân Hàm Cốc Quan nửa ngày có thể đến. Hai vạn thiết kỵ Hoài Thành, cái này khiến Triệu, Ngụy, Hàn ăn ngủ không yên rồi."

"Đúng vậy! Chính là đạo lý này." Ngụy Nhiễm cười lớn một trận.

Ba ngày sau, thư lệnh của Tuyên Thái hậu trực tiếp truyền đến Hà Nội, do Tần Chiêu Vương tuyên đọc thi hành: Đại gia khen ngợi chiến công của Bạch Khởi và mưu hoạch của Ngụy Nhiễm, tại chỗ đề bạt Bạch Khởi làm Đại Lương Tạo tước, chức phong Thượng tướng quân; Ngụy Nhiễm tiến tước phong hầu, hư phong đất Nhượng, gọi là Nhượng Hầu; tướng sĩ tam quân cùng lại viên Hà Nội, tức thì luận công phong thưởng, đều được tiến tước từ một đến ba cấp, nhất thời ai nấy đều phấn chấn. Ngụy Nhiễm lập tức nhanh chóng thiết lập quận huyện ở Hà Nội, ban hành Tần pháp, muốn đem mảnh đất trọng yếu chốn Trung Nguyên này kết kết thật thật sáp nhập vào nước Tần.

Đúng vào khoảnh khắc bận rộn này, Hàm Dương nhận được tin báo phi ngựa gấp từ thương nhân nước Tần ở Dĩnh Đô: Lỗ Trọng Liên vào Sở, đang mưu động Khuất Nguyên xuất trở lại để khôi phục hợp tung, liên binh kháng cự nước Tần!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.