Đại Tần Đế Quốc 3: Kim Qua Thiết Mã

Lượt đọc: 89 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết Thứ Sáu
Ngũ Trượng Vị Nguyên Mịt Mờ, Thầy Trò Đêm Bàn Việc Binh

❊ ❊ ❊

Ánh trăng khuyết cuối thu vừa gầy gò lại vừa thanh lạnh, con đường quan đạo Tần Xuyên bên bờ sông Vị Thủy liền chìm trong một lớp sương mù mịt mờ không bờ bến, tiếng móng ngựa dồn dập vượt qua hết tốp thương khách đốt đèn lồng đi đứng này đến tốp khác, rải dọc một đường hướng về phía Tây Nam. Qua huyện Mậu, chính là huyện Mi. Mặc dù sương dày sương mù đậm, Bạch Khởi vẫn nhìn rõ chỏm núi Thái Một trắng xóa, nhìn rõ dải nguyên núi xanh ngắt ở bờ nam sông Vị Thủy. Thái Một, chính là ngôi sao lớn ở cực Bắc. Một ngọn núi mà mang danh "Thái Một", đủ thấy ngọn núi này thần thánh nhường nào trong hai đời nhà Châu và nhà Tần.

Bạch Khởi sinh ra ở một ngôi làng khác thường tại huyện Mi, thôn này gọi là thôn Thái Bạch. Thái Bạch, chính là sao Kim phía Tây, vì nó "sáng ở phương Đông, tối ở phương Tây", nên nó có hai tên gọi khác: buổi sáng gọi là sao Khải Minh, hoàng hôn gọi là sao Thái Bạch. Trong mắt các nhà âm dương, nhà tướng số, sao Thái Bạch còn là Bạch Hạc tương đối với Thanh Long phương Đông, được gọi là ngôi sao binh đao, hoặc ngụ ý danh tướng, hoặc ngụ ý tai họa chiến tranh, tóm lại là có liên quan đến vận võ của nhà binh. Thế nhưng, thôn Thái Bạch này lại không phải lấy tên từ sao Thái Bạch, mà vì đây là ngôi làng lớn nhất của bộ tộc họ Bạch ở huyện Mi, người đương thời liền gọi là "Thái Bạch". Khi Thương Ưởng biến pháp định lại tên làng, xác định pháp lệnh liên tẩu bảo giáp, "Thái Bạch" liền trở thành cái tên chính thức mà ngôi làng họ Bạch lớn nhất này vui lòng tiếp nhận.

Thời Chiến Quốc, huyện Mi mệnh danh là "huyện số một nước Tần", quả thực uy danh lừng lẫy. Xét đến cùng, chẳng qua là vì huyện Mi là huyện quần tụ của các bộ tộc Tần cũ, là nguồn binh lính lớn nhất của nước Tần. Nhưng quan trọng hơn cả, vẫn là vì huyện Mi có ba đại bộ tộc "Mạnh, Tây, Bạch". Ba bộ tộc "Mạnh, Tây, Bạch" này là ba vị danh tướng đã giúp Tần Mục Công lập nên nghiệp bá: Mạnh Minh Thị, Tây Khất Thuật, Bạch Ất Bính. Ba vị tướng này cùng nhau tắm máu, tình nghĩa thấu sâu đậm, sau thời Tần Mục Công, hậu duệ ba tộc vẫn luôn ở gần nhau, trải qua hơn hai trăm năm, vậy mà dần dần chiếm cứ hơn nửa huyện Mi. Cả ba tộc đều là những đại tộc siêng năng cày cấy, giỏi chiến đấu, từ xưa đã là quê hương của quý tộc và bình dân, là cội nguồn của kỵ sĩ nước Tần. Sau cuộc biến pháp của Thương Ưởng, phãi bỏ ruộng tỉnh của nô lệ, toàn dân đều trở thành "quốc nhân", đặc quyền kỵ sĩ và đặc quyền ưu tiên luận công của ba tộc Mạnh, Tây, Bạch một sớm tiêu tan, liền trở thành những người Tần bình thường cùng cày cấy và chiến đấu như quốc nhân. Lúc này, tộc Mạnh và tộc Tây Khất lại vì không giỏi nghề nông mà dần dần suy yếu, bộ tộc họ Bạch tinh thông cả nông nghiệp lẫn chiến trận, liền dần dần trở thành đại tộc số một huyện Mi.

Thế nhưng, Bạch Khởi đối với bộ tộc họ Bạch, đối với thôn Thái Bạch, lại chẳng có mấy ký ức. Vừa mới sinh ra, Bạch Khởi đã không có cha mẹ, chú cũng chưa từng kể cho cậu nghe chuyện về cha mẹ. Vào lúc Bạch Khởi năm sáu tuổi, người chú Bạch Sơn đã đưa cậu đến chỗ một danh sĩ ẩn cư ở núi Thái Một để làm học trò. Mười năm sau, Bạch Khởi trở về thôn Thái Bạch, người chú đã làm đến chức tiền quân chủ tướng trong quân Tần, liền phái người đến đón cậu vào trong quân. Thiếu niên Bạch Khởi lại cự tuyệt, cậu dựng một cúp lều tranh bên rìa làng, làm phu khuân vác chở lương thực quân đội cho làng, nửa năm sau phủ huyện chiêu binh, Bạch Khởi lập tức tòng quân ứng chiến. Lúc tiếp binh so tài võ nghệ, thể lực và kỹ năng đấu kiếm của Bạch Khởi khiến viên thiên tổng tiếp binh vô cùng kinh ngạc, lập tức bổ nhiệm Bạch Khởi làm đầu mục tân binh.

Lúc rời khỏi thôn Thái Bạch, Bạch Khởi không hề có chút lưu luyến nào, đến khi vào quân doanh cũng chưa từng nhắc đến chuyện gia đình thân thế. Nếu không phải Bạch Sơn trong lúc tuần tra quân doanh vô tình gặp được Bạch Khởi, cậu có lẽ mãi mãi sẽ không tìm người chú này. Cũng chính vào đêm hôm đó, người chú Bạch Sơn lần đầu tiên kể cho cậu nghe câu chuyện về cha mẹ.

Cha của Bạch Khởi tên là Bạch Viện, là con thứ sáu, nên người trong làng gọi là "Bạch Lục". Vào lúc Thương Quân mới bắt đầu biến pháp, Bạch Viện đã bị Thái tử tuổi trẻ nông nổi giết chết khi đang nộp lương thực. Người vợ mới cưới của Bạch Viện sau khi sinh ra Bạch Khởi, cũng đập bia tự vẫn trước mộ phu quân. Tộc trưởng lớn tuổi cùng các vị bô lão bàn bạc, đều nói đứa trẻ mồ côi cha này sinh ra có tướng mạo khác thường, sau này ắt làm nên đại sự, liền giao cho chú Bạch Sơn nuôi dưỡng Bạch Khởi, toàn tộc cùng gánh vác thuế má lao dịch cho gia đình Bạch Sơn. Bạch Sơn ngẫm nghĩ bản thân nuôi mà không thể dạy, liền dốc lòng thăm dò người tài cao, cuối cùng cũng tìm được vị võ sĩ ẩn cư trong núi Thái Một. Bạch Sơn bán toàn bộ gia sản của mình cho người tộc Mạnh, vào một đêm trăng thanh gió mát, lén lút đặt một túi tiền nửa lạng của nước Tần bên ngoài cửa nhà ẩn sĩ, chỉ để lại cho người vợ trẻ hai gian nhà cùng mười mẫu ruộng dâu, rồi đi tòng quân.

Ngoài họ Bạch này ra, Bạch Khởi đối với huyện Mi, đối với thôn Thái Bạch, đối với họ Bạch, đối với gia đình, hầu như đều vô cùng lạnh nhạt hờ hững. Ký ức tuổi thơ và thiếu niên duy nhất khắc sâu trong tâm khảm cậu, chỉ có thầy, chỉ có người sư muội thanh mai trúc mã. Khi Bạch Khởi bước vào núi Thái Một, thầy vẫn là một người trung niên ẩn sĩ vững chãi đầm ấm lại tiêu sái phóng khoáng, sự cường tráng và sức mạnh ấy khiến người ta gần như không thể tin nổi.

Có một năm mùa hè, thầy đưa Bạch Khởi đến đỉnh núi chính của núi Thái Một để luyện kỹ năng leo trèo. Bạch Khởi tay trái cầm móc sắt, tay phải cầm đoản kiếm đi trước leo lên, mục tiêu chính là ngọn núi cao chọc trời tuyết phủ quanh năm. Thầy thì cầm một sợi dây thừng và một cái rìu, ở phía sau chỉ điểm và bảo hộ. Đang lúc hai thầy trò leo lên đến lưng chừng núi, đột nhiên sấm chớp rền vang, mưa to xối xả. Chỉ trong chớp mắt, liền thấy dòng lũ dữ dội như dải lụa từ khu rừng rậm rạp xanh tươi ầm ầm tuôn ra, vậy mà ập thẳng từ trên đầu xuống! Thầy gầm lên một tiếng: "Bám chặt vào vách đá! Định thần tĩnh khí——!" Bạch Khởi dùng sức móc một cái liền cắm sâu vào một gốc cây, hai chân đạp chết một tảng đá, mặc cho dòng nước lũ ầm ầm từ đỉnh đầu bổ thẳng xuống, cuồn cuộn như muôn ngựa phi nước đại đổ xuống thung lũng, cảnh tượng ấy quả thực vô cùng kinh tâm động phách. Đúng vào lúc này, chợt nghe trong tiếng nước lũ ầm ầm mang theo một thứ mùi tanh tưởi nồng nặc xộc tới. Bạch Khởi giũ làn sương nước trên mặt, đột nhiên nhìn thấy một con trăn lớn to bằng thân cây, vảy sáng rực lửa đang cướp dòng nước ngẩng đầu vồ tới, chiếc lưỡi dài dường như còn ngoắc theo cả cóc và gà rừng bị dòng nước hất tung lên. Cho dù Bạch Khởi bẩm sinh gan dạ khác thường, cũng hoảng sợ khàn giọng hét lên: "Trăn! Trăn lớn——!" Liền thấy trước mắt tối sầm, suýt chút nữa buông tay lăn vào dòng nước lũ cuồn cuộn.

Vào ngàn cân treo sợi tóc, liền nghe phía sau vang lên một tiếng quát lớn: "Bám chắc đừng nhúc nhích! Ta tới đây——!" Hầu như đồng thời, một bóng đen vậy mà bay vọt lên ngọn sóng nước bám lấy một gốc cây, Bạch Khởi chỉ lờ mờ nhìn thấy một luồng ánh sáng trắng như chớp xẹt qua đỉnh đầu, cái đầu rắn to bằng cái đấu đã ầm ầm lăn lông lốc trên dòng nước rơi xuống thung lũng. Bạch Khởi hoàn hồn đôi chút, hét lớn: "Thầy cẩn thận——!" Ngước đầu nhìn lên, bóng đen vậy mà bị thân con trăn đỏ rực quấn chặt lấy ở gốc cây ấy! Thầy lại gầm lên xé rách cổ họng: "Bạch Khởi bám cho chắc! Nước lũ sắp dứt rồi——"

Đây chính là núi Thái Một vô cùng khó lường, mưa gió thất thường lại đến đi chớp nhoáng, dẫu là thần tiên cũng khó mà dự đoán được sự hiểm trở kỳ vĩ của nó. Ngay khi tiếng thét của thầy vừa dứt, dòng nước lũ cuồn cuộn ấy liền đột nhiên biến thành dòng suối nhỏ róc rách, chỉ còn lại những cơn gió núi mang theo cái lạnh tự tung tự tác gầm thét. Thầy lại bị ghim chặt trên cây không thể động đậy. Bạch Khởi vô cùng hoảng hốt, lòng dũng cảm bỗng nhiên tăng vọt, bổ mấy nhọc móc sắt, liền leo đến dưới gốc cây to bằng chục người ôm ấy, tay trái túm lấy cành cây, tay phải cầm đoản kiếm cạch cạch chém xối xả vào thân con trăn tanh tưởi. Thân trăn dày cộp từng đoạn từng đoạn lăn xuống thung lũng, thầy lại sắc mặt tái nhợt ôm lấy thân cây nhắm mắt thở dốc. Bạch Khởi nhìn kỹ lại, hai chân của thầy vậy mà cắm sâu hoắm vào thân cây!

Bạch Khởi cầm lấy cây rìu lớn trong tay thầy, chém nát thân cây, mới rút được đôi chân của thầy ra. Từ một con đường nhỏ khác đi xuống núi, Bạch Khởi ngẩng cao đầu hỏi: "Thầy ơi, hai chân cắm vào thân cây là công phu gì vậy? Con muốn học!" Thầy ngửa cổ cười lớn: "Đó là công phu gì chứ? Tình thế cấp bách liều mạng, vốn là thần lực mà thôi, bằng không thì sao sau đó lại không rút ra được? Cái này dạy con thế nào đây?" Bạch Khởi chớp chớp đôi mắt nhỏ hỏi: "Thầy sợ con bị trăn nuốt chửng, vậy sao không sợ chính mình bị trăn nuốt chửng? Thầy đã bị thân rắn quấn chặt rồi cơ mà." Thầy mệt mỏi cười nói: "Bạch Khởi à, đây là đạo làm thầy, nói không rõ đâu. Có lẽ tương lai con thu nhận một vị đồ đệ yêu quý, thì sẽ hiểu thôi."

Từ đó về sau, Bạch Khởi liền đinh ninh thầy chính là cha của mình, cô con gái nhỏ của thầy chính là em gái ruột của mình. Cậu theo thầy đến năm mười sáu tuổi, mới bước ra khỏi núi Thái Một mịt mờ hoang vắng, lúc ra khỏi núi, thầy chỉ nói với cậu một câu: "Không làm Đại tướng quân, đừng quay lại núi Thái Một." Nói một câu cứng ngắc rồi quay người bỏ đi. Thiếu niên Bạch Khởi hướng về tấm lưng của thầy vái thật sâu, cất tiếng gọi dài: "Thầy ơi——! Con sẽ quay lại——!" rồi cũng quay người xuống núi.

Thoắt cái, mười ba năm đã trôi qua, Bạch Khởi tuy vẫn chưa làm Đại tướng quân, nhưng dẫu sao cũng đã đánh một trận đại thắng khiến thiên hạ phải nhìn bằng con mắt khác, lúc này nghe tin dữ thầy đang lâm trọng bệnh, cậu sao có thể câu nệ vào lời hứa ấy chứ?

Mặt trời vẫn chưa mọc, sương mù mùa thu vẫn bao trùm non sông sông ngòi. Dựa vào sự quen thuộc đặc biệt với làn sương mù mờ ảo trên sông, Bạch Khởi biết mình đã đến bãi cát bên bờ bắc sông Vị Thủy, vượt qua sông Vị Thủy, chính là Ngũ Trượng Vị Nguyên mãi mãi khắc sâu trong tâm khảm. Đang độ mùa thu nước cạn, Bạch Khởi nhẹ kẹp hai chân, con chiến mã hùng dũng hí dài một tiếng liền lao xuống dòng sông, vậy mà chỉ trong chớp mắt đã lội qua nước, rầm rập bước lên bãi cát sỏi. Bạch Khởi nén dây cương, liền trong sương mù dày đặc hướng về phía Tây Nam mà đi, đi chưa đầy một dặm, lại là một con sông nhỏ.

Đây chính là một nhánh sông bắt nguồn từ phía bắc núi Thái Một chảy vào sông Vị Thủy, vì nó vừa giáp với cổ đạo Bao Tắc, lại vừa có lòng sông từ Tây Nam hướng Đông Bắc đi chéo tới, người đương thời liền gọi nó là sông Tà Thủy.

Ngay ở cửa thung lũng sông Tà Thủy đổ vào sông Vị Thủy, sừng sững một ngọn núi nhỏ cây cối rậm rạp, người Tần cũ gọi nó là "Ngũ Trượng Vị Nguyên". Có người nói, nguyên cao năm trượng danh xứng với thực. Lại có người nói, ngọn núi nằm ở phía nam sông Vị Thủy và phía tây sông Tà Thủy mỗi bên năm trượng, chính là Ngũ Trượng Vị Nguyên. Xét cho cùng, rốt cuộc không ai nói rõ được, nhưng ai nấy đều gọi là Ngũ Trượng Vị Nguyên. Từ Ngũ Trượng Vị Nguyên hướng về phía nam, chính là từng lớp nguyên núi trùng điệp vươn lên bầu trời xanh, cho đến tận ngọn núi Thái Một quanh năm đội chiếc mũ ngọc lớn trắng ngọc ngà. Ngũ Trượng Vị Nguyên này chính là tựa lưng vào núi Thái Một, đối mặt với sông Vị Thủy cuồn cuộn, cây cối tươi tốt thuận tiện cho việc săn bắn đánh cá, lại thêm phía tây bắc gần cổ đạo Trần Thương, phía tây nam sát vách cổ đạo Bao Tắc, đi về phía tây ra vùng hoang mạc hay đi về phía nam xuống Ba Thục đều rất thuận tiện, liền trở thành vùng trọng yếu vừa ít dấu chân người lại vừa nằm ngay trục lưu động. Lúc ban đầu vào núi, thiếu niên Bạch Khởi đối với ngọn nguyên núi u tĩnh này vẫn chưa có nhiều cảm nhận, cho đến khi tòng quân chinh chiến đã có kinh nghiệm nhà binh, nay quay lại ngẫm nghĩ về Ngũ Trượng Vị Nguyên này, lại cảm thấy thầy thật là lợi hại.

Sương mù dần tan, Bạch Khởi xuống ngựa chiến, tháo chiếc nải trên lưng ngựa, cởi bỏ yên cương đồ đạc, trải một túi đậu nát lên một tảng đá lớn, lại quấn dây cương quanh cổ ngựa, nhẹ nhàng vỗ vỗ đầu ngựa nói: "Hỏa Tích Lịch, ở đây có cỏ có nước có thức ăn chắc, mày cứ tự nhiên đi, nghỉ ngơi cho thật tốt." Con chiến mã đỏ rực như một ngọn lửa cọ cọ vào cánh tay Bạch Khởi, khẽ hí lên một tiếng, Bạch Khởi liền vác nải lên núi.

Giữa đám cỏ cây úa vàng, một con đường nhỏ trải đá cuội vụn kéo dài ngoằn ngoèo vào trong nguyên núi, bên đường có một tấm bia đá cao ba thước, khắc bốn chữ lớn — Cổ đạo Bạch Kinh. Bạch Khởi thẫn thờ đứng trước tấm bia đá, mơn man những chữ lớn bong tróc sơn đỏ, trong lòng chấn động mạnh, không kìm được ngã ngồi xuống con đường nhỏ... Tiếng cười của một thiếu niên vang vọng bay lượn trong rừng núi: "Đại ca, muội nhặt được rất nhiều đá trắng, lát thành một con đường nhỏ, huynh xem!" Bạch Khởi giẫm giẫm lên mặt đường ra vẻ ta đây người lớn nói: "Khảm khít đều đặn, không cấn chân, rất tốt rồi." Thiếu niên cười khúc khích: "Đồ ngốc nghếch! Huynh nói xem, nên đặt tên là gì?" Bạch Khởi gãi đầu trầm ngâm: "Cái này, cứ gọi là đường đá vậy." "Đồ ngốc nghếch!" Thiếu niên cười càng thêm lanh lảnh, "Muội đặt tên rồi, Cổ đạo Bạch Kinh! Có hay không?" Bạch Khởi lắc đầu: "Không hay. Phải con đường trăm năm, mới được gọi là cổ đạo chứ." Thiếu niên đánh vào cánh tay Bạch Khởi một cái làm nũng: "Đồ ngốc nghếch thật đấy! Chính là hay! Không cho phép Bạch Kinh trăm năm sao?" Bạch Khởi cười: "Được được được, liền gọi là Cổ đạo Bạch Kinh vậy." Thiếu niên lại cười khúc khích: "Vậy, huynh phải dựng một tấm bia đường, khắc chữ lớn lên!" Bạch Khởi vỗ ngực hiên ngang nói: "Cái này dễ thôi, để anh đục một phiến đá lớn là được!"

Mười ba năm rồi, tiểu muội đã về chưa? Năm Bạch Khởi ra núi, thầy đã đưa tiểu muội đến "Mặc gia Tín viện" của núi Thái Một rồi. Thầy nói: "Thầy thuốc không tự chữa bệnh cho mình, người thầy không tự dạy con mình. Con bé này bướng bỉnh, phải đến nhà Mặc gia để rèn giũa." Mặc gia Tín viện vô cùng nổi tiếng, sau khi Mặc tử đại sư qua đời, phái Mặc gia chia thành mấy nhánh, một nhóm đệ tử Mặc gia có duyên gốc với nước Tần đã rời khỏi tổng viện Mặc gia ở núi Thần Nông, xây dựng Mặc gia Tín viện ở núi Thái Một. Nước Tần từ sau đời Hiếu công, từ trước đến nay vẫn có quan hệ tốt với Mặc gia, quan phủ lại đặc biệt chiếu cố Mặc gia, chưa từng coi Mặc gia là học phái "lấy văn loạn pháp, lấy võ phạm cấm". Dần dần, Mặc gia Tín viện này vậy mà trở thành gốc rễ Mặc gia đối kháng lại với tổng viện Mặc gia ở núi Thần Nông, sau thời Huyền Kỳ, lại xuất hiện hai vị đại sư Mạnh Thắng, Phúc Đản, uy danh lừng lẫy trong thiên hạ!

Bạch Khởi đương nhiên biết Mặc gia, lúc ấy liền nói với thầy rằng: "Bạch Khởi cũng muốn đến Mặc gia tu học ba năm năm, rồi mới quay về tòng quân!" Thầy lại dứt khoát xua tay: "Đừng có suy nghĩ đó! Con phải đi theo con đường chính đạo của nhà binh, không thể vào Mặc gia. Con đường của Mặc gia, suy cho cùng vẫn là lối đi lệch."

Tận cùng con đường nhỏ, chính là một khu rừng thông xanh ngắt, ra khỏi rừng thông, chính là một tiểu viện ẩn mình dựa lưng vào vách nguyên trong một rừng trúc. Tường đá màu xanh mọc đầy dây leo đã ngả vàng, hai cánh cửa nhỏ đã bạc phếch vì mưa gió xối xả đang đóng chặt, ngoài tiếng chim hót líu lo, vậy mà không hề có thứ hơi ấm gia đình mà Bạch Khởi hằng quen thuộc hằng mong mỏi, tiêu điều u tịch đến mức khiến tim đập thắt lại.

Nhẹ nhàng đẩy cửa gỗ, sân viện vốn luôn gọn gàng ngăn nắp nay lại phủ một lớp lá vàng dày đặc, dưới chòi tranh quen thuộc đến không thể quen hơn ấy vậy mà đã mọc đầy cỏ dại lơ thơ. Bạch Khởi thẫn thờ đứng giữa sân, quan sát bốn gian nhà chính lát đá phiến và phòng bếp bên tay trái, mặc cho những chiếc lá cây khô vàng bay lượn xoay vòng dưới chân. Khoảnh khắc ấy, sống mũi Bạch Khởi cay xè, một dòng nước mắt nóng hổi liền trào ra khóe mi... Thầy? Thầy còn ở đó không... Đột nhiên, từ trong căn nhà đá truyền tới một tiếng ho khàn khàn già nua.

"Thầy——" Bạch Khởi khàn giọng hét lên, một bước lao thẳng vào căn nhà đá.

"Bạch Khởi... là, là con sao?" Trong căn phòng trống trải vẫn đơn sơ như mọi khi, một chiếc giường gỗ, một chiếc màn gai, một giọng nói khàn khàn già nua đang khó nhọc thở dốc trong màn.

"Thầy!" Bạch Khởi vội xốc tấm màn gai lên, liền quỵ sụp xuống đất trước mép giường khóc nức nở, "Bạch Khởi đến muộn."

Ông lão trên giường gỗ gầy gò trơ xương, tóc bạc trắng như tuyết, nằm dưới một tấm chăn lớn gầy mỏng đến mức không nhìn rõ hình dáng. Ông lão ngưa ngựa đánh giá vị tướng quân mặc giáp đội mũ choàng áo choàng đen tuyền trước giường, trong mắt đột nhiên lóe lên tia sáng rực rỡ: "Bạch Khởi à, cuối cùng cũng, trưởng thành rồi."

"Thầy!" Bạch Khởi nghẹn ngào đứng phắt dậy, "Con lập tức cõng thầy xuống nguyên, đến Hàm Dương, mời thái y chữa bệnh!"

"Không cần. Ta không bệnh." Ông lão mỉm cười lắc lắc tay, vậy mà kỳ diệu ngồi dậy, "Bạch Khởi à, ra sân ngồi chút đi, bao nhiêu ngày nay không nhìn thấy ánh mặt trời rồi." "Đúng vậy!" Bạch Khởi vui mừng cười nói, "Sương tan rồi, mặt trời vừa mọc, đang ấm áp đây!" rồi tiến lại đỡ thầy. Ông lão lại chỉ vào góc tường: "Cây gậy trúc kia, để ta tự thử xem." Bạch Khởi vâng lời, vội vàng chạy ra góc tường lấy cây gậy trúc có vẻ ít khi dùng tới đó. Thầy cầm lấy gậy trúc, đầu gậy chấm đất, vậy mà cắn răng đứng dậy, đi run rẩy hai bước rồi cười lên: "Bạch Khởi à, được! Đi, ra ngoài nắng nói chuyện." "Vâng!" Bạch Khởi liền vui mừng đỡ lấy một cánh tay của thầy, từng bước từng bước đi ra sân viện, ngồi xuống chiếc đôn đá dưới chòi tranh quen thuộc đến không thể quen hơn.

"Thầy ngồi xuống trước đã, để con dọn dẹp một chút." Bạch Khởi biết thầy vốn ưa sạch sẽ, một khu sân viện hoang vu thế này, trong lòng thầy chắc chắn không dễ chịu gì. Vừa nói cậu vừa ba chân bốn cẳng cởi áo choàng giáp trụ, chỉ mặc một bộ áo ngắn vải thô lót giáp, lanh lẹ cầm lấy chiếc chổi làm bằng rau chổi phơi khô bó lại ở hàng hiên, soàn soạt quét dọn. Thầy chỉ nhìn Bạch Khởi, trên mặt tràn ngập ý cười: "Con bé Kinh Mai này, về nhà cũng không thèm bén mảng. Bạch Khởi à, con nói xem nó đi đâu rồi?"

"Thầy, tiểu muội về rồi sao?" Bạch Khởi kinh ngạc dừng chiếc chổi trong tay.

"Ba ngày trước đã về, liếc ta một cái, bảo ta đợi nó, rồi biến mất tiêu."

Bạch Khởi trầm ngâm một lát, đôi mắt liền sáng bừng lên: "Thầy, tiểu muội chắc chắn là lên núi Thái Một hái thuốc rồi. Trong núi lắm hiểm nguy, con đi tìm nó!" Buông chổi cầm lấy giáp y trường kiếm định bước đi, nhưng lại ngẩn người đứng khựng lại.

Ngay trước cửa tiểu viện, đang đứng một thiếu niên mồ hôi nhễ nhại, mặc bộ y phục vải thô màu xanh lam pha đen, đầu chít khăn lụa trắng trùm mái tóc đen nhánh, dáng người thon dài gần bằng cửa nhỏ, trên lưng đeo một chiếc gùi tre, tay cầm một chiếc cuốc thuốc dài mảnh, lồng ngực đầy đặn đang phập phồng kịch liệt, khuôn mặt vốn dĩ đẫm mồ hôi lấm lem ngăm đen mà vẫn ánh lên vẻ đỏ hồng. Bạch Khởi ngẩn ngơ ngắm nhìn thiếu nữ, đôi mắt to của thiếu nữ cũng chớp chớp quét qua Bạch Khởi.

"Muội? Kinh Mai tiểu muội?"

"Đại ca——" Thiếu nữ vừa khóc vừa cười kêu lớn một tiếng, vậy mào ào lao tới ôm chặt lấy Bạch Khởi.

"Ái chà! Tiểu muội cao bằng ta rồi." Bạch Khởi đỏ mặt cười với thầy.

Thầy cười ha hả: "Sinh ra như quả dưa, chỉ lớn cái xác, mà chẳng lớn khôn gì cả."

"Mau! Ngồi xuống nghỉ ngơi đi." Vội vàng tháo gùi thuốc của Kinh Mai xuống cầm lấy cuốc thuốc của con bé, "Con đi xách nước đây."

"Không cần." Kinh Mai kéo phắt Bạch Khởi ấn ngồi xuống đôn đá ngoài chòi, "Huynh chỉ ngồi đây nói chuyện với lão gia tử, nước nôi cơm cháo đã có muội!" Nói đoạn như một cơn gió lướt vào nhà bếp, xách ra ba cái vò gốm: "Trà mát, muội nấu sẵn từ lúc đi rồi." Nói xong liền tự mình bưng một vò ngửa cổ ực một hơi cạn sạch, vừa đặt vò gốm xuống, Bạch Khởi vừa vặn bưng vò khác đứng đợi bên tay con bé. Kinh Mai mỉm cười, cũng không nói năng gì, cầm lấy vò trà lại ực một hơi cạn sạch. Đôi mắt Bạch Khởi sáng lên, sải bước đến hàng hiên lấy chiếc nải mang ra mở tung: "Nào, thịt bò ngâm nước muối, bánh mì giã, ăn tạm mấy miếng lót dạ trước đã." "Thơm quá đi!" Kinh Mai cười rạng rỡ, liền không chút khách khí tay trái thịt tay phải bánh ăn ngấu nghiến, chẳng mấy chốc, đã quét sạch ba chiếc bánh mì giã và ba miếng thịt bò ngâm nước muối.

Bạch Khởi đứng bên cạnh nhìn thấy xót cả ruột, cậu ở trong quân ngũ lâu ngày đương nhiên hiểu rõ, nếu không phải nhịn đói lao động hoặc cưỡi ngựa bôn ba từ ba ngày trở lên, thì tuyệt đối không thể sinh ra cơn đói khát thế này. Thầy tuổi già có bệnh, bản thân không thể hết lòng hầu hạ, lại liên lụy tiểu muội vất vả nhường này, há lại nỡ lòng nào? Thầy lại cười: "Miệng không giấu tâm, ăn được ngủ được, Kinh Mai chỉ thiếu điều không phải thân nam nhi thôi." Kinh Mai cười khúc khích liếc nhìn Bạch Khởi: "Chính là con trai của ngài ấy chứ, suốt ngày chê bai con lắm điều phải không?" Ông lão và Bạch Khởi không nhịn được liền cười ha hả. Kinh Mai lại mang gùi thuốc tới nói: "Đại ca huynh xem, muội hái được bảo bối gì về này?" Nói đoạn từ trong gùi cẩn thận nâng ra một vật cứng có vỏ tròn vo vẫn còn dính đất.

"Phục linh!" Bạch Khởi kinh ngạc kêu lên một tiếng, "Đào ở đâu thế?"

“Dưới đỉnh Ngọc Quan núi Thái Một! Cây thông già đó, to đến mười mấy người ôm cũng chưa chắc xuể!” Kinh Mai cười tít mắt, ra vẻ ra điều người lớn khoa chân múa tay nói: “Phương thuốc này của muội, phải có một củ phục linh làm thuốc, hiệu quả cao nhất thượng hạng. Tiên sinh đã nói vậy mà!”

Nhìn dáng vẻ vui mừng của Kinh Mai, Bạch Khởi và thầy đều vui vẻ cười theo. Phục linh này, các thầy thuốc nói tính ấm bổ an thần ích tỳ trừ thấp, đặc biệt hợp với bệnh già. Còn người trồng thuốc, nhà âm dương và phương sĩ, thì coi phục linh như thần vật vậy. Nói rằng nhựa tùng bách ngấm xuống đất ngàn năm, mới có thể hóa thành phục linh, phục linh ngàn năm hóa thành hổ phách. Hổ phách là thần phẩm đan dược, phục linh là thần phẩm thảo dược, người uống vào có thể trừ bách bệnh mà trường thọ sống lâu. Như chứng bệnh già tạp bệnh của thầy thế này, phục linh không khác gì linh dược cứu mạng, Bạch Khởi và Kinh Mai sao có thể không tinh thần phấn chấn? Bạch Khởi vốn dĩ không hay cười nói lúc này lại liên tục cười nói: “Nấu sắc thế nào đây? Để ta sắc thuốc, tiểu muội cứ xuống bếp là được!” Kinh Mai cười xua tay: “Huynh ngồi đi, đừng có làm vướng víu thêm! Tiên sinh nói, đợi phục linh khô mấy ngày, ngài ấy sẽ tự cắt thái phân phối thuốc, mấy ngày nay vẫn còn thuốc lưu lại, vội cái gì chứ?” Bạch Khởi nói: “Phương vị tiên sinh nào? Lại chu đáo thế nhỉ. Huynh còn định mời thái y từ Hàm Dương đến cơ.” Kinh Mai chớp chớp đôi mắt to nói: “Chuyện này ngược lại có chút kỳ lạ đấy. Từ khi huynh đi, lão gia tử liền nam hạ nước Sở du ngoạn rồi. Muội ở núi Thái Một, Phúc Đản đại sư bỗng nhiên bảo với muội rằng, lão gia tử về rồi, bảo muội về nhà thăm hỏi. Muội vừa về đến nơi, liền gặp vị tiên sinh do huyện lệnh huyện Mi dẫn tới, một cụ già tóc bạc phơ, kê đơn thuốc xong là muội vào núi hái phục linh ngay. Huynh nói xem, huyện lệnh huyện Mi sao lại biết lão gia tử bị bệnh? Là huynh quan tâm sắp xếp à?”

Bạch Khởi trầm ngâm lắc đầu: “Có lẽ là Thái hậu, cũng có lẽ là Thừa tướng, nhất thời không nói rõ được.”

Thầy cười nói: “Còn không rõ ư? Đây là đạo lý dùng tướng, cũng là tình nghĩa quân thần đấy thôi.” Nói đoạn liền thở dài thườn thượt: “Năm xưa Ngô Khởi yêu binh như con, binh lính bị thương, ngài ấy tự tay mút mủ máu cho thương binh. Mẹ già của thương binh đều xem đến khóc, nói rằng kẻ yêu con ta là Đại tướng quân, mà kẻ giết con ta cũng là Đại tướng quân vậy. Người hàng xóm không hiểu, người mẹ già khóc nói rằng, con ta vết thương lành lặn, ắt sẽ liều chết chiến trường vì Ngô Khởi, há chẳng phải là giết con ta sao? Đạo của vua yêu tướng, nào có lý do nào khác chứ?”

“Thầy nói phải lắm.” Bạch Khởi cảm khái thở dài một tiếng, “Hiến mạng vì nước, là thiên chức của tướng sĩ. Thái hậu, Tần vương và Thừa tướng, quả là hiếm có lòng yêu tướng yêu binh, sĩ khí quân Tần, xưa nay chưa từng có sự hừng hực thế này.” Nói xong liền đem tình hình Tế tự trên đại yến mà Tuyên thái hậu tự miệng hứa hẹn “mỗi người có vợ con” kể lại một lượt. Thầy vậy mà từ tận đáy lòng gật đầu tán thán: “Một vị Thái hậu, có trí tuệ tình hoài thế này, từ nghìn đời nay, khó có ai sánh kịp!” Kinh Mai cười nói: “Hiếm có lão gia tử thật đấy! Chưa từng khen ngợi phụ nữ bao giờ cơ mà.” Bạch Khởi không nhịn được cười ha hả. Ông lão cũng cười: “Quân tâm vương đạo, thì liên quan gì đến nam nữ?” Kinh Mai cười nói: “Muội lại cảm thấy, Bạch Khởi đại ca mệnh tốt, gặp được một vị minh chủ rồi.” Ông lão lại thở dài: “Lòng vua khó lường. Cái này thì khó nói lắm.” Bạch Khởi nói: “Thầy cứ yên tâm, Bạch Khởi chỉ lấy việc nước làm trọng, không cần đoán lòng vua để lấy lòng ngài ấy.” Ông lão dậm mạnh gậy trúc: “Thế thì tốt! Đại tài danh sĩ, đều phải lập thân như thế.” Kinh Mai xen vào cười nói: “Ấy chà, mặt trời nghiêng rồi! Hai ông cháu các người cứ nói chuyện đi, muội ra bếp đây. Thịt rau mì do phủ huyện đưa tới, cả một đống lớn kìa.” Nói đoạn quay người bước đi.

Lúc hoàng hôn sắp buông xuống, Kinh Mai đem cơm canh đã sửa soạn xong từng món bưng ra, hóa ra là mấy chậu gốm lớn: một chậu lớn thịt giò heo rút xương, một chậu lớn cháo đậu canh rau đậu, một chậu lớn bánh hấp hoa củ cải, một chậu lớn rau đắng trộn tỏi băm, một chậu lớn cơm nắm hạt kê, chậu nào chậu nấy vun cao chót vót, vậy mà trắng phau phau xanh rờn vàng óng ánh nóng hổi thơm phức bày đầy một chiếc mâm lớn, toàn là những món ăn gia đình dân dã mà người Tần thích nhất. Thịt giò heo rút xương thì không cần phải nói, thêm gừng tươi, hành núi hầm đến độ bảy tám phần chín, lọc bỏ xương mà vẫn còn vương chút máu tươi, bên cạnh đặt một đĩa muối trắng để chấm thịt, chính là một trong những món chính nổi tiếng khắp thiên hạ của người Tần. Cháo đậu canh rau đậu, chính là cho lá non rau đậu vào cháo đậu nấu chung thành cháo đậu xanh ngắt. Người Tần từ lâu đã có truyền thống nửa nông nửa mục, vẫn chuộng ăn khô, hễ là các loại thịt khô bánh khô đều là lương thực chính.

Cách ăn nấu lẫn rau và cơm thành cháo hồ này, vốn là tập tục gia đình của dân sơn cước nước Hàn. Trương Nghi từng nói với Hàn Huệ vương rằng: “Đất Hàn hiểm trở, dân phần lớn ở núi, ngũ cốc sinh trưởng, không là lúa mì thì là đậu. Thức ăn của dân, đại khái là cháo đậu canh rau đậu. Một năm thất bát, dân cũng không ghét bỏ cám bã.” Sau đó, cách ăn này cũng truyền vào vùng núi non hoang dã nước Tần, thường có dân sơn cước hái lá non cây đậu phơi khô, chuyên dùng sau vụ thu hoạch làm cháo đậu canh rau đậu. Thế nên, cháo đậu canh rau đậu này liền trở thành món ăn quen thuộc nhất trong bát của dân thường hoang dã nước Tần hai mùa đông xuân. Còn bánh hấp hoa củ cải, chính là đem lá củ cải hái sau khi sương rơi xé nhỏ, cùng với nước rau trộn đều vào bột đậu hoặc bột mì đã giã nhỏ, quấy thành hồ trân trong lồng tre hấp chín, vừa xanh vừa mềm dẻo, ngon miệng vô cùng. Điểm cốt yếu của bánh hấp hoa củ cải, là lá củ cải hái phải sau khi sương rơi móc đọng. Người đương thời có câu tục ngữ: “Chạm sương chớ hái củ cải, giữa trưa chớ cắt hẹ.” Chính là nói không thể hái hoa củ cải vào lúc sương mù giá lạnh. Kinh Mai ngắt củ cải trong vườn vào buổi chiều, đương nhiên là đúng lúc đúng chỗ rồi. Còn cơm nắm hạt kê, chính là đem kê giã sạch thành gạo vàng (kê), hấp thành cơm nắm gạo vàng, vàng óng ánh thơm ngát mùi gạo. Rau đắng lại là một loại non mềm cỏ dại mọc đầy đồng ruộng, thanh đắng tươi non, nhúng qua nước sôi, thêm tỏi nhỏ giấm núi trộn vào, chính là một món rau lạnh giải ngấy.

Bạch Khởi kinh ngạc ngắm nhìn từng chậu lớn vun cao, cười toét miệng: “Hì hì hì, cơm nhà, ngon! Trong quân doanh làm gì có cái phúc phận này.” Kinh Mai lại xách hai vò rượu đến đặtịch bên bàn đá: “Rượu ngon Thái Bạch, mặc sức cho huynh uống!” Thầy liền cười nói: “Kinh Mai đây là quy củ nấu nướng của Mặc gia Tần, cứ làm là chậu to bát lớn. Bạch Khởi à, toàn là những món con thích ngày trước, cứ thả phanh mà ăn đi.” Bạch Khởi đáp một tiếng “Vâng”, định cầm đũa, Kinh Mai liền ngăn lại cười nói: “Cứ vội ăn hoài! Nào, cạn một chén tẩy trần đã!”

Bạch Khởi sực tỉnh, bốp một cái tự đánh vào đầu mình: “Đồ ngốc! Ta kính thầy trước, thầy không uống được rượu, con cạn đây!” Ngửa cổ uống cạn rồi cười lớn, “Lại kính tiểu muội, nào!” Kinh Mai ôm vò rượu vừa rót rượu vừa cười nói: “Ai cần huynh kính chứ? Chẳng có lời lẽ gì, cứ cắm cổ uống ừng ực, đồ ngốc! Nào, vì đại ca tướng quân tẩy trần, cạn đi!” Bạch Khởi cười nói: “Tiểu muội vào Mặc gia không uổng phí, văn phong tăng trưởng rồi đấy, hay!” Chén gốm đụng cộp một tiếng, hai người đồng thời ngửa cổ uống cạn một chén lớn. Thầy liền cười nói: “Bạch Khởi uống ba chén là say rồi đấy, thôi được rồi.” Kinh Mai cười nói: “Lạ thật đấy, ăn cơm thì như hổ đói, mà uống rượu thì ngoan như cừu con, thế mà sao làm được Đại tướng quân cơ chứ?” Thầy lần này lại không cười, gõ gõ lên bàn đá nói: “Con hiểu cái gì chứ? Đây chính là bản tính bẩm sinh của Bạch Khởi khi làm tướng: bất cứ lúc nào cũng tỉnh táo hơn người. Uống say ba trận một ngày, thì còn đánh đấm gì nữa?” Kinh Mai cười khúc khích: “Ai muốn uống say ba trận một ngày chứ? Huynh ấy rõ ràng là uống quá ít đấy chứ.” Bạch Khởi xoa xoa tay hì hì cười lớn: “Thầy quá khen rồi. Ngày thường con không dám uống, tự kìm chế bản thân. Hôm nay vui, nên uống cho thỏa thích!” “Được!” Kinh Mai vô cùng vui vẻ, lanh lẹ rót đầy một chén, “Chính là hai vò này, uống hết thì thôi, lão gia tử còn có chuyện muốn nói với con đấy.” Bạch Khởi hào sảng cười nói: “Uống rượu mà không được nói chuyện, thì tính là gì chứ? Chỉ tiếc là thầy không uống được rượu. Thầy ơi, Bạch Khởi cạn thay người!”

Trăng sáng vừa lên, tiểu viện ngập tràn ánh trăng. Hai người trẻ tuổi uống rượu sảng khoái, ông lão nhìn thấy mắt rưng rưng lệ, vậy mà còn say sưa hơn cả chính mình uống. Kinh Mai cứ liên tục rót rượu, hai vò rượu lớn nặng năm cân vậy mà tám chín phần mười đều bị Bạch Khởi uống cạn từng chén từng chén, chưa đầy nửa khắc, hai vò rượu lớn năm cân đã trống không! Bạch Khởi sắc mặt vẫn không đổi, vẫn còn thòm thèm chưa đã: “Còn nữa không? Lại đây!” Kinh Mai cười khúc khích: “Đồ ngốc! Uống say sưa rồi là không phanh lại được đâu, hết rồi, ăn cơm đi!”

“Được! Ăn cơm.” Bạch Khởi như một đứa trẻ nghe lời, vứt bát rượu sang một bên, kéo ngay chậu thịt giò heo rút xương ra ăn ngấu nghiến, tiếp đến là bánh hấp hoa củ cải, rồi lại đến cơm nắm hạt kê, chớp mắt đã quét sạch ba chậu lương thực chính chắc nịch, giơ tay áo quẹt miệng cười nói: “Ăn no rồi, món nào cũng ra trò!” Kinh Mai vẫn nhìn Bạch Khởi ăn ngấu nghiến, chỉ vào bàn đá cười khúc khích: “Đồ ngốc! Chẳng thay đổi mảy may nào cả! Không ăn rau, chỉ ăn thịt không thôi!” Bạch Khởi lại nghiêm túc nói: “Chẳng phải muội nói ta là hổ đói, chỉ ăn thịt không ăn cỏ sao?” Kinh Mai cười ngã nghiêng ngã ngửa: “Ái chà! Trách gì cái đồ ngốc nhà huynh đi làm lính, chứ ở nhà thì ai nuôi nổi chứ?” Bạch Khởi hì hì cười: “Gà thì bới đằng trước, lợn thì ủi đằng sau, kẻ ăn lắm thì có lương thực quân đội, mỗi người có cách sống riêng mà.” Đến đây ngay cả thầy cũng phải cười ha hả: “Nói hay lắm! Thiên hạ rộng lớn, vốn dĩ mỗi người có một cách sống riêng.”

Ăn uống xong xuôi, trăng núi đã treo lơ lửng giữa trời, gió thu bắt đầu hơi se lạnh. Bạch Khởi nói nhỏ với Kinh Mai đang dọn dẹp bàn đá: “Để anh dọn cho, em đi lấy áo bông cho thầy trước đi.” Kinh Mai sững người, nhìn đôi mắt to của Bạch Khởi bỗng chốc ngấn lệ, nhưng không để Bạch Khởi phát hiện, chỉ gật đầu một cái rồi vội vã rời đi. Chớp mắt dọn dẹp xong xuôi, Bạch Khởi liền trải sẵn hai chiếc chiếu cỏ trong sân, khiêng đôn đá đặt lên chiếu cỏ, nhìn trong nhà không có đệm bông, bèn gấp áo choàng của mình lót lên đôn đá, lúc này mới đỡ thầy ngồi xuống đôn đá trên chiếu cỏ. Lúc này Kinh Mai cũng vừa vặn bưng tất cả các dụng cụ nấu trà ra, chốc lát đọn lửa than được nhóm lên, hương trà liền lan tỏa khắp sân.

“Bạch Khởi à, kể đi, mấy năm nay con đánh những trận đó như thế nào?” Thầy cuối cùng cũng vào chủ đề.

Bạch Khởi đỏ mặt nói: “Con sớm có ý định, muốn thỉnh giáo thầy, chỉ vì chiến tích quá nhỏ, không dám mặt mũi nào đến gặp thầy, không ngờ thầy lại lâm trọng bệnh thế này.” Cúi đầu quẹt nước mắt, liền xốc lại tinh thần, đem những trận đánh trong mấy năm qua lần lượt kể lại một lượt.

“Không tệ! Đã đánh được đại trận rồi, rốt cuộc cũng có tiền đồ.” Thầy khẽ thở dài một tiếng, “Con ở núi Thái Một mười năm, thầy chỉ dạy con rèn luyện thể lực võ công, cùng với gan dạ chí khí, chứ chưa từng dạy con binh pháp trận pháp, lần này đánh đại trận, trong lòng có thấy quá sức không?”

“Từng có.” Bạch Khởi thành khẩn nhìn thầy, “Nếu như Tề vương Điền Đạo kia không lén nuốt chửng nước Tề, ba mươi vạn đại quân của Mạnh Trưởng Quân không rút lui trong đêm, con thực sự không biết có giữ nổi hơn sáu mươi vạn đại quân kia không? Hoặc giả, hai vạn bộ binh của Sơn Giáp không cản được hơn mười vạn liên quân của Xuân Sân Quân, Vũ Quan thất thủ, con thực sự cũng không dám nghĩ kết cục sẽ ra sao nữa?”

“Hễ đánh trận, luôn có vài phần rủi ro không thể nắm bắt, cái này gọi là không hiểm nguy thì không thành việc binh.” Thầy mỉm cười, “Thế nhưng, sau sự việc con có thể suy nghĩ như thế, coi hai chỗ trọng yếu này là vận võ, chứ không coi đó là bản lĩnh của mình, đây chính là sự ngộ tính, chính là gốc rễ của sự tiến bộ. Phải biết rằng, đại kỵ của nhà binh, nằm ở tâm mù lòa. Kẻ tâm mù lòa, vì lòng tướng kiêu ngạo cuồng vọng mà dẫn đến mờ mịt không rõ. Hạng người này dù cho có thắng vài trận, cuối cùng vẫn sẽ ngã một cú đau.”

Bạch Khởi nghiêm trang cúi đầu lạy rạp xuống đất: “Lời dạy của thầy, Khởi trọn đời không dám quên.”

Thầy vẫy vẫy tay: “Kinh Mai à, đi khiêng chiếc hòm sắt kia ra đây cho ta.” Kinh Mai đáp một tiếng “Vâng”, liền sải bước vào nhà khiêng ra một chiếc hòm sắt nhỏ vuông vức ba thước. Thầy dùng gậy trúc khỏ khỏ vào hòm sắt nói: “Mở ra đi, cho con đấy.” Bạch Khởi dạ một tiếng, thấy hòm sắt tuy không khóa, nhưng lại không có khe nắp hòm có vẻ liền một khối như đúc, liền biết đây là loại hòm mộng ngầm khớp nhau, cực kỳ cần sức tay mới có thể mở được. Bạch Khởi áp hai lòng bàn tay vào hai bên nắp hòm, tĩnh tâm một chút rồi dùng sức ấn mạnh rồi thả ra, nắp hòm sắt vậy mà “bộp!” một tiếng bật mở tung. Thầy cười nói: “Chiếc hòm ngầm Mặc gia này, nếu không có lực đánh mạnh năm trăm cân, thì tuyệt đối không mở được đâu. Con chỉ ấn mà không đánh, lực lẩy liên hoàn, lực đạo vậy mà tiến bộ lớn rồi đấy.” Bạch Khởi cười nói: “Ăn mấy trăm thạch lương quân rồi, chẳng lẽ không tăng chút sức lực nào sao?” Kinh Mai ở bên cạnh liền cười: “Tăng được mấy cân sức mà khoe khoang, không xấu hổ à!” Bạch Khởi chỉ biết hì hì cười không ngừng. Ông lão liền nói: “Đừng nói nhảm nữa, đem đồ vật bên trong lấy ra đi.”

Bạch Khởi đưa tay vào lấy, vậy mà là một hòm thẻ tre, từng bó từng bó khiêng ra, dưới ánh trăng những chữ lớn ngoài phong bao nhìn vô cùng rõ ràng — ba bộ 《Tôn tử binh pháp》, 《Tôn Tẫn binh pháp》, 《Ngô tử binh pháp》, trọn vẹn mười sáu quyển!

“Bạch Khởi à, ba bộ binh pháp này, là chí bảo nhà binh đấy.” Thầy thở dài thườn thượt một tiếng, chậm rãi nói, “Từ cổ chí kim, sách binh pháp thì không ít, nhưng người suy ngẫm kỹ lưỡng về trận chiến bộ kỵ đương thời, chỉ có ba bộ này. Bộ 《Tôn tử binh pháp》 này tuy là tác phẩm thời Xuân Thu, nhưng lại là tổng yếu của nhà binh, có kinh nghiệm thực chiến rồi mới đọc 《Tôn tử binh pháp》, mới có thể nghiền ngẫm thấu đáo tinh hoa của nó, giúp con nâng lên một tầm cao mới. 《Tôn Tẫn binh pháp》 và 《Ngô tử binh pháp》 lại bàn về chiến trận một cách thiết thực. Tôn Tẫn coi trọng mưu lược nhà binh. Ngô Khởi coi trọng rèn luyện tinh nhuệ. Tôn Tẫn phiêu diêu linh động, dùng binh thần diệu, thường lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Ngô Khởi lại vững chãi đầm ấm, đánh chắc tiến chắc, không gì không phá, cả đời đại chiến với các chư hầu bảy mươi hai trận, vậy mà không một trận bại nào. Ba bộ binh pháp gia này, nếu con có thể nghiền ngẫm thấu đáo mà hóa giải vào tâm thần, ngày tung hoành thiên hạ, sẽ đến không hẹn mà gặp thôi.”

Kinh Mai cười nói: “Đã như vậy, sao lão gia tử không sớm đưa cho đại ca? Thật là!”

“Con thì hiểu cái gì chứ?” Ông lão cười thanh thản, “Khổng phu tử từng nói, dạy học theo năng lực. Bạch Khởi bẩm tính thích binh, nói là kẻ si mê binh pháp cũng chẳng ngoa. Nếu trước tiên đã có định kiến về binh pháp, thì sẽ không có lòng hiếu học thực chiến, ngược lại sách binh pháp lại thành cái lồng giam. Hơn nữa, lúc mới bắt đầu từ hàng ngũ binh sĩ, sách binh pháp đại khái cũng chẳng dùng được mấy. Có phải không?”

Bạch Khởi bỗng nhiên vỡ lẽ, nhớ lại hôm xuất núi thầy dặn dò: “Nhất định phải làm từ chức cấp trượng tiểu tốt, không được tham công tham tước!” Ý sâu xa vốn dĩ ở chỗ này, không kìm được cất tiếng cảm thán: “Thầy thật là cao minh!”

“Bạch Khởi à, binh học uyên thâm như biển, thực chiến lại càng biến hóa khôn lường!” Thầy thở dài thườn thượt, “Con có thiên bẩm nhà binh, thế nhưng, tài năng bẩm sinh phải nhờ học vấn nuôi dưỡng mới có thể thành đại gia. Học vấn không đủ để nuôi dưỡng tài năng, con cũng chỉ dừng lại ở đó mà thôi.”

Bạch Khởi tính vốn điềm đạm, nghe thầy nói một cách nghiêm trang, không kìm được dập đầu một cái “cốp”: “Bạch Khởi ghi nhớ rồi.”

Kinh Mai ở bên cạnh lại cười: “Lão gia tử mãi đến hôm nay mới nhớ ra dạy đệ tử đấy. Muội lại nghe người ta nói, Bạch Khởi đánh trận vừa hiểm vừa quắt, không giết sạch đối phương là không chịu dừng tay cơ.”

Bạch Khởi lại cất giọng hiên ngang: “Đánh trận tắm máu, ai mà chẳng hiểm? Đều học Tống Tương công cả, thì đánh đấm cái nỗi gì?”

“Kẻ làm tướng, phải có đạo.” Ông lão thở dài thườn thượt, “Đạo đến đâu, chính là thiên ý đó. Bạch Khởi cũng không sai, đều học Tống Tương công, thì chi bằng đừng đánh trận. Bạch Khởi à, con chỉ nhớ kỹ cho ta: đánh trận không giết hàng binh, thì không đánh mất gốc rễ của đạo làm tướng.”

“Vâng!” Bạch Khởi hào sảng đáp lời: “Bạch Khởi xin ghi nhớ: đánh trận không giết hàng binh!”

Trăng sáng lặn về tây, sương mù từ thung lũng sông Vị Thủy sông Tà Thủy bắt đầu mịt mờ phủ kín nguyên núi, cái lạnh trong gió thu cũng dần trở nên đậm đặc. Bạch Khởi cõng thầy, Kinh Mai thu dọn hòm sắt chiếu cỏ và nước trà, ba người chuyển lui vào trong nhà, lại bắt đầu những câu chuyện gia đình triền miên, trơ mắt nhìn sương dày sương mù đậm, trơ mắt nhìn mặt trời đỏ rực dâng cao, ông lão vậy mà cứ thế lặng lẽ nhắm nghi mắt lại.

“Cha——!” Tiếng thét khàn khàn của Kinh Mai xé toạc lớp sương mù buổi sáng ở Ngũ Trượng Vị Nguyên.

Bạch Khởi lặng lẽ đứng dậy, hướng về phía thầy vái thật sâu, hồi lâu run rẩy, vậy mà đột nhiên ngửa cổ khóc nức nở. Đang lúc Bạch Khởi và Kinh Mai đau đớn không biết phải làm sao, bỗng nghe Hỏa Tích Lịch hí lên một tiếng, trên cổ đạo Bạch Kinh tiếng móng ngựa dồn dập kéo đến!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.