Thủy triều đã rút; bãi biển vắng lặng; làn nước biển ấm áp vỗ về một cách lười biếng. Mặt trời thiêu đốt, chiếu những tia nắng gay gắt và rực lửa xuống lớp cát mịn, nung nóng những viên sỏi xám, xanh, đen và có vân trắng. Nó hút cạn những giọt nước nhỏ đọng lại trong hốc của những chiếc vỏ ốc uốn cong; nó tẩy trắng những dây hoa bìm bìm hồng đan xen khắp các cồn cát. Không có gì chuyển động ngoài mấy con châu chấu cát nhỏ bé. Tịch-tịch-tịch! Chúng chẳng bao giờ chịu đứng yên.
Ngoài kia, trên những mỏm đá phủ rong rêu khi thủy triều xuống trông giống như những con thú bờm xờm ra nước uống, ánh sáng mặt trời dường như quay tít như một đồng xu bạc thả xuống từng vũng nước nhỏ trên đá. Chúng nhảy múa, rung rập, và những gợn sóng ti ti vỗ về bờ viền xốp rỗ. Nhìn xuống, cúi người qua, mỗi vũng nước tựa như một hồ nước với những ngôi nhà hồng và xanh tụ tập ven bờ; ôi chao! cả một miền sơn cước rộng lớn đằng sau những ngôi nhà ấy—những khe núi, những đèo dốc, những lạch nước hiểm trở và lối mòn đáng sợ dẫn đến mép nước.
Bên dưới uốn lượn khu rừng biển—những nhành cây hồng như sợi chỉ, hải quỳ nhung, và những đám cỏ dối đốm cam. Giờ đây một hòn đá dưới đáy dịch chuyển, chao đảo, và thoáng hiện lên một chiếc râu đen sinh vật; giờ đây một sinh vật mảnh như sợi chỉ lướt qua rồi biến mất. Điều gì đó đang xảy ra với những nhành cây hồng uốn lượn; chúng đang chuyển sang màu xanh ánh trăng lạnh lẽo. Và rồi vang lên một tiếng “bỏp” rất đỗi khẽ khàng. Ai tạo ra âm thanh đó? Có chuyện gì đang diễn ra dưới ấy vậy? Và mùi rong biển mới nồng nàn, ẩm ướt làm sao dưới ánh nắng gay gắt....
Những tấm rèm xanh ở các căn nhà gỗ trong khu nghỉ mát mùa hè đã được kéo xuống. Vắt vẻo qua hiên nhà, nằm dài trên bãi cỏ, quăng trên hàng rào là những bộ đồ bơi trông phờ phạc và những chiếc khăn sọc thô ráp. Cửa sổ phía sau mỗi ngôi nhà dường như đều có một đôi giày đi cát trên bệ cửa cùng vài cục đá, một chiếc xô hoặc một bộ vỏ ốc pawa. Bụi cây rung rồng trong làn sương mù oi ả; con đường cát vắng tanh ngoại trừ Snooker—chó nhà Trouts, đang nằm dài ngay giữa đường. Đòng đọc mắt xanh của nó ngước lên, đôi chân duỗi cứng đờ, thỉnh thoảng nó lại thở hắt ra một tiếng nghe đầy tuyệt vọng, như muốn nói rằng nó đã quyết định chấm dứt mọi chuyện và chỉ đang chờ một cỗ xe tử tế nào đó đi ngang qua.
“Bà đang nhìn gì thế, bà của con? Sao cứ dừng lại và ngẩn ngơ nhìn lên tường mãi thế ạ?”
Kezia và bà đang cùng nhau nghỉ trưa. Cô bé, chỉ mặc chiếc quần đùi ngắn và áo lót trong, để hở tay chân, nằm trên một chiếc gối phồng của giường bà, còn người bà mặc chiếc áo choàng ren trắng, ngồi trên chiếc ghế bập bênh cạnh cửa sổ, với một đoạn đan màu hồng dài trên đùi. Căn phòng họ ở chung, giống như các phòng khác trong nhà gỗ, làm bằng gỗ sáng màu được đánh véc-ni và sàn nhà để trống. Đồ đạc thì tồi tàn và giản dị nhất. Chẳng hạn, chiếc bàn trang điểm vốn là một cái thùng hàng bọc lớp vải muslin có hoa nhô, và chiếc gương treo phía trên rất kỳ lạ; ngỡ như có một tia chớp nhỏ chẻ đôi bị giam cầm trong đó. Trên bàn đặt một lọ hoa cẩm chướng biển, được ép chặt đến mức trông giống như một chiếc gối cắm kim bằng nhung, cùng một chiếc vỏ ốc đặc biệt mà Kezia tặng bà để làm khay đựng kim, và một chiếc vỏ ốc khác còn đặc biệt hơn nữa mà cô bé nghĩ sẽ là chỗ rất đẹp để chiếc đồng hồ cuộn tròn nằm nghỉ.
“Kể cho con nghe đi, bà ơi,” Kezia nói.
Người bà thở dài, quấn cuộn len hai vòng quanh ngón cái, rồi kéo chiếc kim xương qua. Bà đang gầy mũi đan.
“Bà đang nghĩ đến Chú William của con, cục cưng ạ,” bà điềm tĩnh đáp.
“Chú William ở Úc của con á?” Kezia hỏi. Con bé còn một người chú khác.
“Ừ, tất nhiên rồi.”
“Người mà con chưa từng gặp bao giờ ấy hả?”
“Chính là người đó.”
“Thế, chuyện gì đã xảy ra với chú ấy ạ?” Kezia thừa biết, nhưng con bé muốn được nghe kể lại.
“Chú ấy đến các mỏ quặng, bị say nắng ở đó rồi mất con ạ,” cụ bà Fairfield đáp.
Kezia chớp mắt và hình dung lại bức tranh ấy.... Một người đàn ông nhỏ bé ngã nhào như chú lính chì bên cạnh một cái hố đen to lớn.
“Nghĩ về chú ấy có làm bà buồn không ạ?” Con bé rất ghét thấy bà buồn.
Đến lượt người bà trầm ngâm suy nghĩ. Điều đó có làm bà buồn không? Nhìn lại, nhìn lại phía sau. Nhìn chằm chằm vào những năm tháng đã qua, như Kezia từng thấy bà làm. Nhìn theo chúng như cách một người phụ nữ vẫn làm, tận lâu sau khi chúng đã khuất tầm mắt. Điều đó có làm bà buồn không? Không, cuộc đời vốn là thế.
“Không đâu, Kezia.”
“Nhưng tại sao ạ?” Kezia hỏi. Con bé giơ một bên tay trần lên và bắt đầu vẽ những hình thù trên không trung. “Tại sao Chú William lại phải chết? Chú ấy có già đâu.”
Bà Fairfield bắt đầu đếm các mũi đan theo cụm ba. “Mọi chuyện diễn ra ngẫu nhiên vậy thôi,” bà nói với giọng đăm chiêu.
“Ai cũng phải chết hả bà?” Kezia hỏi.
“Ai cũng thế!”
“Cả con nữa ạ?” Giọng Kezia đầy vẻ hoài nghi sợ hãi.
“Đến một ngày nào đó, cục cưng của bà ạ.”
“Nhưng mà, bà ơi.” Kezia lúc lắc chân trái và nguây nguẩy các ngón chân. Chúng dính đầy cát. “Nếu con nhất quyết không chịu thì sao?”
Người bà lại thở dài và rút một sợi chỉ dài từ cuộn len.
“Chúng ta đâu được phép chọn lựa, Kezia,” bà buồn rầu nói. “Chuyện đó sớm muộn gì cũng xảy đến với tất cả chúng ta.”
Kezia nằm im ngẫm nghĩ điều này. Con bé không muốn chết. Chết có nghĩa là nó sẽ phải rời khỏi nơi này, rời khỏi mọi nơi, mãi mãi, rời xa—rời xa bà của mình. Con bé xoay người thật nhanh.
“Bà ơi,” con bé cất giọng hoảng hốt.
“Sao thế, cục cưng của bà!”
“Bà không được chết đâu đấy.” Kezia ra điều rất kiên quyết.
“À, Kezia”—bà ngẩng lên mỉm cười và lắc đầu—“đừng nói về chuyện đó nữa.”
“Nhưng bà không được phép chết. Bà không thể rời bỏ con. Bà không thể không có mặt ở đó được.” Thật là khủng khiếp. “Hứa với con là bà sẽ không bao giờ làm thế đi, bà ơi,” Kezia nài nỉ.
Người bà vẫn tiếp tục đan.
“Hứa với con đi! Nói là không bao giờ đi!”
Nhưng bà con bé vẫn im lặng.
Kezia trượt khỏi giường; con bé không thể chịu đựng thêm được nữa, liền nhanh nhẹn nhảy chồm lên đùi bà, vòng tay ôm lấy cổ người bà và bắt đầu hôn bà, dưới cằm, sau tai, và thổi vào cổ bà.
“Nói không bao giờ đi... nói không bao giờ đi... nói không bao giờ đi—” Con bé thở dốc giữa những nụ hôn. Và rồi nó bắt đầu, rất nhẹ nhàng và êm ái, cù lét bà.
“Kezia!” Người bà đánh rơi cả đồ đan. Bà ngả ngửa ra sau trên chiếc ghế bập bênh. Bà bắt đầu cù Kezia. “Nói không bao giờ đi, nói không bao giờ đi, nói không bao giờ đi,” Kezia khúc khích cười khi hai bà cháu nằm ôm nhau cười nắc nẻ trong lòng nhau. “Thôi nào, thế là đủ rồi, con sóc nhỏ của ta! Thế là đủ rồi, con ngựa hoang của ta!” cụ bà Fairfield nói, vừa chỉnh lại chiếc mũ cho ngay ngắn. “Nhặt hộ bà cuộn len lên xem nào.”
Cả hai bà cháu đều đã quên bẵng mất cái điều “không bao giờ” ấy nói về chuyện gì.