Tiệc Vườn Và Những Truyện Khác

Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hôn Nhân Kiểu Mẫu

❊ ❊ ❊

Trên đường ra ga, William chợt nhớ ra với một nỗi hụt hẫng mới mẻ rằng anh chẳng mang chút quà nào về cho lũ trẻ. Tội nghiệp mấy đứa nhỏ! Thật bất công cho chúng. Câu đầu tiên của chúng luôn là thế, khi chúng chạy ra chào đón anh: “Bố mua gì cho con đấy ạ?”, vậy mà anh chẳng có gì cả.

Anh sẽ phải mua cho chúng ít kẹo ở ga tàu. Nhưng đó lại là điều anh đã làm trong suốt bốn ngày thứ bảy vừa qua; mặt chúng xịu xuống vào lần trước khi thấy lại những chiếc hộp quen thuộc ấy.

Và Paddy đã nói: “Hộp của con có ruy-băng đỏ rồi cơ mờ!”

Và Johnny đã nói: “Của con lúc nào cũng màu hồng. Con ghét màu hồng.”

Nhưng William phải làm sao đây? Chuyện đó đâu phải dễ giải quyết thế. Ngày trước, dĩ nhiên, anh đã tạt vào một cửa hàng đồ chơi tử tế bằng taxi và chọn cho chúng món gì đó trong vòng năm phút. Nhưng dạo này chúng toàn dùng đồ chơi Nga, đồ chơi Pháp, đồ chơi Xéc-bi — đồ chơi từ xó xỉnh nào Chúa mới biết. Đã hơn một năm kể từ khi Isabel vứt xó lũ lừa gỗ, xe lửa cũ kỹ và đủ thứ khác chỉ vì chúng “quá đỗi sướt mướt” và “vô cùng tai hại đối với năng khiếu thẩm mỹ của bọn trẻ.”

“Quan trọng lắm chứ,” Isabel phiên bản mới đã giải thích, “rằng chúng phải ưa thích những thứ đúng đắn ngay từ thưở ban đầu. Điều đó đỡ tốn bao nhiêu thời gian về sau. Thật đấy, nếu mấy cưng tội nghiệp cứ phải trải qua những năm tháng ấu thơ ngắm nhìn những thứ kinh dị này, người ta có thể tưởng tượng ra cảnh chúng lớn lên và đòi được dẫn tới Viện Hàn lâm Nghệ thuật Hoàng gia cho mà xem.”

Và cô nói cứ như thể một chuyến viếng thăm Viện Hàn lâm Nghệ thuật Hoàng gia chắc chắn sẽ mang lại cái chết tức tưởi cho bất cứ ai...

“Ừ, anh không biết nữa,” William chậm rãi nói. “Hồi bằng tuổi chúng, anh toàn đi ngủ mà ôm khư khư cái khăn mặt cũ thắt nút.”

Isabel phiên bản mới nhìn anh, đôi mắt nheo lại, đôi môi hé mở.

“William thân mến! Em chắc là anh đã thế rồi!” Cô cười theo cái điệu cười mới.

Rốt cuộc vẫn phải là kẹo thôi, William ủ rũ nghĩ, vừa thọc tay vào túi tìm tiền lẻ trả tài xế taxi. Và anh hình dung cảnh lũ trẻ truyền tay nhau những chiếc hộp — chúng là những đứa nhóc hào phóng khủng khiếp — trong khi những người bạn quý hóa của Isabel chẳng hề ngần ngại tự tay lấy phần...

Còn hoa quả thì sao? William chần chừ trước một quầy hàng ngay trong ga. Hay là mua mỗi đứa một quả dưa hấu? Liệu chúng có phải chia nhau cả món đó nữa không? Hay một quả dứa cho Pad, và một quả dưa hấu cho Johnny? Bạn bè của Isabel chắc khó lòng mà mò vào tận nhà trẻ vào giờ ăn của lũ trẻ được. Dù vậy, lúc mua quả dưa hấu, William vẫn bị ám ảnh bởi cái viễn cảnh rùng rợn là một trong những gã thi sĩ trẻ của Isabel lại đang ngoạm một miếng dưa, vì lý do nào đó, ngay sau cánh cửa phòng trẻ.

Với hai gói đồ vướng víu trên tay, anh sải bước ra tàu. Sân ga đông nghẹt, tàu đã vào sân. Các cánh cửa rầm rập đóng mở. Tiếng đầu máy xì hơi lớn đến nỗi mọi người ngẩn ngơ cả người khi vội vã ngược xuôi. William tiến thẳng vào một toa hút thuốc hạng nhất, cất va-li cùng các gói đồ, rồi lôi ra một xấp tài liệu dày cộp từ túi áo trong, ngã người xuống ghế ở góc toa và bắt đầu đọc.

“Hơn nữa, thân chủ của chúng tôi quả quyết rằng... Chúng tôi nghiêng về việc xem xét lại... trong trường hợp...” À, thế thì đỡ hơn rồi. William vuốt lại mái tóc bẹp dí và duỗi thẳng đôi chân dài trên sàn toa. Cơn đau âm ỉ quen thuộc trong lồng ngực dịu lại. “Liên quan đến quyết định của chúng tôi...” Anh rút ra một cây bút chì xanh và chậm rãi gạch chân một đoạn văn.

Hai người đàn ông bước vào, bước qua người anh và tiến về góc xa. Một thanh niên văng bộ gậy đánh gôn lên giá và ngồi xuống đối diện. Tàu khẽ tròng trành, họ đã khởi hành. William ngước lên và thấy sân ga nóng bức, rực rỡ đang lùi dần phía sau. Một cô gái mặt đỏ gay chạy dọc theo các toa tàu, có cái gì đó căng thẳng và gần như tuyệt vọng trong cách cô vẫy tay và gọi lớn. “Hâm hấp thật!” William đờ đẫn nghĩ. Rồi một gã thợ mặt mày đen đúa, nhễ nhãi dầu mỡ ở cuối sân ga nhe răng cười với đoàn tàu đang chạy qua. Và William nghĩ, “Một cuộc đời nhơ nhớp!” rồi quay lại với đống tài liệu của mình.

Khi anh ngước lên lần nữa, trước mắt là những cánh đồng, và lũ gia súc đang đứng tránh nắng dưới tán cây sậm lá. Một con sông rộng, với lũ trẻ cồng cềnh bơi lội tung tăng ở vùng nước nông, lướt qua tầm mắt rồi lại biến mất. Bầu trời tỏa sáng nhợt nhạt, và một cánh chim chao lượn trên cao như một hạt màu tối trong viên ngọc quý.

“Chúng tôi đã kiểm tra các hồ sơ thư tín của thân chủ...” Câu cuối cùng anh vừa đọc cứ vang vọng trong tâm trí. “Chúng tôi đã kiểm tra...” William bấu víu lấy câu đó, nhưng chẳng ích gì; nó đứt đoạn ở giữa, và những cánh đồng, bầu trời, cánh chim lượn, làn nước, tất cả đều cất lên một tiếng, “Isabel.” Điều tương tự vẫn xảy ra vào mọi buổi chiều thứ bảy. Khi trên đường đi gặp Isabel, anh lại bắt đầu những cuộc gặp gỡ tưởng tượng vô tận ấy. Cô ở nhà ga, đứng tách biệt hẳn với mọi người; cô đang ngồi trong chiếc taxi mui trần đỗ bên ngoài; cô ở cổng vườn; đang bước đi trên bãi cỏ héo úa; ở trước cửa, hay vừa bước vào tiền sảnh.

Và giọng nói trong trẻo, nhẹ nhàng của cô cất lên, “Là William đấy ư,” hay “Chào anh, William nhé!” hoặc “Cuối cùng thì William cũng đến rồi!” Anh chạm vào bàn tay mát lạnh của cô, má cô mát lạnh.

Sự tươi mát tuyệt vời của Isabel! Hồi còn là một cậu bé, niềm vui của anh là chạy ra vườn sau cơn mưa rào và rung cây hoa hồng vào người mình. Isabel chính là bụi hồng đó, mềm mại như cánh hoa, lấp lánh và mát rượi. Và anh vẫn là cậu bé ngày nào. Nhưng giờ đây nào có chuyện chạy ra vườn, nào có chuyện cười đùa và rung cây nữa. Cơn đau âm ỉ, dai dẳng trong lồng ngực lại bắt đầu. Anh co chân lên, vứt đống tài liệu sang một bên và nhắm nghiền mắt lại.

“Em bị sao thế, Isabel? Có chuyện gì vậy?” anh dịu dàng hỏi. Họ đang ở trong phòng ngủ của căn nhà mới. Isabel ngồi trên chiếc ghế đẩu được sơn phết trước bàn trang điểm bày la liệt những chiếc hộp nhỏ màu đen và xanh lá.

“Sao là sao, William?” Và cô chồm người về phía trước, mái tóc tơ đẹp đẽ rũ xuống đôi gò má.

“À, em thừa biết đấy!” Anh đứng giữa phòng và cảm thấy mình như một kẻ xa lạ. Nghe vậy, Isabel quay phắt người lại đối mặt với anh.

“Ôi, William!” cô kêu lên nài nỉ, và giơ cao chiếc lược chải tóc: “Làm ơn! Làm ơn đừng có quá ư tẻ nhạt và—bi kịch như thế. Lúc nào anh cũng nói, cũng nhìn hoặc ám chỉ rằng em đã thay đổi. Chỉ vì em được làm quen với những con người thực sự hợpạ, được đi đây đi đó nhiều hơn, và cực kỳ hào hứng với—với mọi thứ, mà anh cứ cư xử cứ như thể em đã—” Isabel hất mạnh mái tóc ra sau và cười —“bóp chết tình yêu của chúng ta hay làm cái quái gì rồi ấy. Thật là ngớ ngẩn hết chỗ nói”—cô cắn môi—“và làm người ta phát điên lên được, William. Ngay cả căn nhà mới này và lũ gia nhân mà anh cũng tiếc rẻ với em nữa.”

“Isabel!”

“Đúng, đúng, xét theo cách nào đó thì đúng là vậy,” Isabel nhanh nhảu đáp. “Anh nghĩ chúng là một dấu hiệu tồi tệ khác. Ồ, em biết là anh nghĩ vậy mà. Em cảm nhận được điều đó,” cô nói khẽ, “mỗi lần anh bước lên cầu thang. Nhưng chúng ta đâu thể cứ tiếp tục sống mãi trong cái ổ chật chội tối tăm kia được, William. Hãy thực tế lên chút chứ! Nào có đủ chỗ cho lũ trẻ đâu cơ chứ.”

Không, đúng là thế thật. Sáng nào khi anh từ tòa án trở về cũng là cảnh lũ trẻ đang chơi đùa cùng Isabel ở phòng khách phía sau. Chúng đang cưỡi trên tấm da báo ném vắt vẻo qua lưng ghế sô-pha, hoặc chúng đang chơi trò hàng xóm với chiếc bàn làm việc của Isabel làm quầy hàng, hay thằng Pad đang ngồi trên thảm sưởi cố bơi hết sức bình sinh bằng một chiếc xẻng xúc than bằng đồng nhỏ xíu, trong khi thằng Johnny dùng kẹp gắp than để bắn cướp biển. Tối nào cũng vậy, mỗi đứa được cõng trên lưng trèo lên chiếc cầu thang hẹp để vào phòng vú nuôi già béo ú.

Ừ, anh đành thừa nhận đó là một ngôi nhà nhỏ chật chội. Một ngôi nhà nhỏ màu trắng với rèm cửa màu xanh và một bồn hoa dã yên thảo ngoài cửa sổ. William thường đón khách ở cửa bằng câu: “Thấy hoa dã yên thảo nhà tôi chưa? Quá sức tuyệt vời đối với Luân Đôn đấy chứ, cậu nghĩ sao?”

Nhưng điều ngớ ngẩn, điều vô cùng kỳ lạ là anh hoàn toàn không hề hay biết rằng Isabel không hề hạnh phúc như anh tưởng. Chúa ơi, sao mà mù quáng thế cơ chứ! Hồi đó anh chẳng mảy may có nổi một ý niệm rằng cô thực sự căm ghét cái ngôi nhà bất tiện nhỏ bé ấy, rằng cô nghĩ mụ vú nuôi béo ú đang làm hư lũ trẻ, rằng cô đang cô đơn đến tuyệt vọng, khao khát những con người mới, âm nhạc mới, tranh ảnh mới các thứ. Giá như họ không đến dự bữa tiệc ở phòng tranh của Moira Morrison—giá như Moira Morrison lúc ra về không nói rằng: “Tôi sẽ giải cứu vợ anh, cái đồ ích kỷ. Cô ấy giống như nàng Titania nhỏ bé kiều diễm vậy”—giá như Isabel không cùng Moira đi Paris—giá như—giá như...

Tàu dừng lại ở một ga khác. Bettingford. Chúaạ! Họ sẽ đến nơi trong mười phút nữa. William nhét vội đống tài liệu vào túi; chàng thanh niên ngồi đối diện đã biến mất từ lâu. Lúc này hai người kia cũng bước xuống. Nắng chiều muộn chiếu rọi lên những người phụ nữ mặc váy vải bông và lũ trẻ chân trần rám nắng. Nắng chói chang trên một đóa hoa vàng óng ả với những chiếc lá thô ráp mọc bò lan trên vách đá. Gió thổi lùa qua khung cửa sổ mang theo mùi vị của biển. Không biết cuối tuần này Isabel có lại tụ tập đám đông đó quanh mình không nhỉ, William tự hỏi?

Và anh nhớ lại những kỳ nghỉ mà họ từng có, bốn người họ, với một cô bé làm nông tên Rose để trông nom lũ trẻ. Isabel mặc áo len và thắt bím tóc; trông cô như mới mười bốn tuổi. Trời ạ! Ngày trước mũi anh hay lột da làm sao! Và sức ăn của họ, rồi thời gian họ ngủ trong chiếc giường lông vũ khổng lồ với đôi chân đan cài vào nhau... William không kìm được một nụ cười nhạt khi nghĩ đến sự hoảng hốt của Isabel nếu cô biết được trọn vẹn mức độ sướt mướt của anh.

“Chào anh, William!” Cô đã ra ga đón anh rốt cuộc, đứng đúng như anh tưởng tượng, tách biệt với những người khác, và — tim William đập rộn lên — cô đi một mình.

“Chào em, Isabel!” William ngẩn ngơ ngắm nhìn. Anh thấy cô đẹp đến mức buộc phải thốt lên một câu gì đó: “Trông em mát mẻ dễ chịu lắm.”

“Thế ư?” Isabel nói. “Em chẳng thấy mát mẻ chút nào cả. Đi thôi, cái chuyến tàu kinh khủng của anh trễ giờ rồi đấy. Xe taxi ở bên ngoài kìa.” Cô đặt nhẹ bàn tay lên cánh tay anh khi họ bước qua người kiểm vé. “Tất cả chúng anh đều ra đón anh đấy,” cô nói. “Nhưng chúng ta đã bỏ quên Bobby Kane ở tiệm bánh kẹo, lát nữa sẽ quay lại đón.”

“Ồ!” William thốt lên. Đó là tất cả những gì anh có thể nói lúc bấy giờ.

Ở đó, giữa ánh nắng chói chang, chiếc taxi đang đợi sẵn, với Bill Hunt và Dennis Green đang ngả ngốn một bên, mũ sụp xuống tận mặt, trong khi ở phía bên kia, Moira Morrison, đội chiếc mũ rơm trông như một quả dâu tây khổng lồ, đang nhảy cẫng lên.

“Không có đá! Không có đá! Không có đá!” cô hào hứng hét lên.

Và Dennis phụ họa từ dưới vành mũ: “Chỉ mua được ở hàng bán cá thôi.”

Và Bill Hunt nhổm dậy, bổ sung thêm: “Có cả con cá nằm trong khối đá luôn đấy.”

“Ôi, chán chết đi được!” Isabel than thở. Và cô giải thích cho William nghe họ đã phải chạy đôn chạy đáo khắp thị trấn để tìm đá lạnh ra sao trong lúc đợi anh. “Thứ gì cũng đang tan chảy trôi tuột xuống vách đá lao thẳng xuống biển cả, bắt đầu từ cục bơ.”

“Chúng ta sẽ phải tự xức bơ lên người thôi,” Dennis nói. “Cầu mong cho cái đầu của anh, William, không thiếu thuốc mỡ.”

“Này các cậu,” William lên tiếng, “chúng ta sẽ ngồi thế nào đây? Hay anh ngồi lên ghế trước cạnh tài xế nhé.”

“Không, Bobby Kane ngồi chỗ tài xế rồi,” Isabel nói. “Anh phải ngồi giữa Moira và em.” Xe taxi bắt đầu chuyển động. “Trong mấy gói đồ bí hiểm kia có gì thế anh?”

“Đầu người bị chặt đứt đấy!” Bill Hunt nói, rùng mình dưới vành mũ.

“Ồ, hoa quả cơ à!” Giọng Isabel nghe vô cùng phấn khởi. “William khôn ngoan! Một quả dưa hấu và một quả dứa. Quá ư là tuyệt vời!”

“Không, đợi chút đã,” William cười nói. Nhưng thực sự anh đang thấy lo lắng. “Anh mang chúng về cho mấy đứa nhỏ mà.”

“Ôi, anh yêu của em!” Isabel cười vang, luồn tay qua cánh tay anh. “Chúng mà ăn vào thì có mà quằn quại trong đau đớn. Thôi nào” — cô vỗ nhẹ tay anh — “lần sau anh phải mua thứ khác cho chúng nhé. Em nhất quyết không nhường quả dứa đâu.”

“Isabel tàn nhẫn quá! Cho tôi ngửi nhờ một tí đi!” Moira nói. Cô nài nỉ vắt cả hai tay qua người William. “Ôi!” Chiếc mũ quả dâu sụp về phía trước: cô kêu lên nghe như sắp ngất.

“Nàng thơ đang yêu một quả dứa,” Dennis nói, khi chiếc taxi dừng lại trước một cửa hàng nhỏ có mái hiên kẻ sọc. Bobby Kane bước ra, tay ôm đầy những gói nhỏ.

“Tôi hy vọng chúng đều ngon. Tôi chọn chúng chỉ vì màu sắc đấy. Có mấy thứ hình tròn trông thực sự thần thánh lắm cơ. Và hãy nhìn thỏi kẹo nugat này xem,” cậu ta reo lên đầy mê đắm, “hãy nhìn nó xem! Trông y như một vở ba-lê thu nhỏ ấy!”

Nhưng đúng lúc đó người chủ cửa hàng xuất hiện. “Ôi, tôi quên mất. Mấy thứ này chưa trả tiền,” Bobby nói với vẻ hoảng hốt. Isabel đưa cho chủ quán một tờ tiền giấy, và Bobby lại rạng rỡ hẳn lên. “Chào William nhé! Tôi ngồi chỗ tài xế đây.” Và với đầu trần, toàn thân mặc đồ trắng, tay áo xắn đến tận vai, cậu ta nhảy tót lên chỗ ngồi của mình. “Avanti!” cậu ta hô lớn...

Sau bữa trà, mọi người kéo nhau đi tắm biển, trong khi William ở lại để giảng hòa với lũ trẻ. Nhưng Johnny và Paddy đã ngủ say, ánh hoàng hôn đỏ hồng đã nhợt nhạt, những chú dơi đang bay lượn, mà đám người đi tắm vẫn chưa trở về. Khi William thẫn thờ đi xuống nhà, cô hầu gái đi ngang qua tiền sảnh tay cầm một ngọn đèn. Anh đi theo cô vào phòng khách. Đó là một căn phòng dài, được sơn màu vàng. Trên bức tường đối diện với William, ai đó đã vẽ một thanh niên to hơn người thật, với đôi chân xiêu vẹo, đang dâng một bông cúc mở tròng mắt to thao láo cho một thiếu nữ có một cánh tay cực ngắn và một cánh tay cực dài, gầy guộc. Phắt phơ trên những chiếc ghế bành và sô-pha là những dải vải đen, chi chít những vết bắn tung tóe trông như trứng vỡ, và nhìn đi đâu cũng thấy những chiếc gạt tàn đầy tàn thuốc lá. William ngồi xuống một chiếc ghế bành. Thời kỳ này, khi người ta thọc tay dọc theo mép ghế, sẽ không thể chạm trán một con cừu ba chân, hay một con bò mất một sừng, hay một chú bồ câu béo múp míp nào từ chiếc Hòm Cứu Thế của Nô-ê nữa. Người ta chỉ với lên được một cuốn sách nhỏ bìa giấy đựng những bài thơ trông nham nhở...

Anh nghĩ đến xấp tài liệu trong túi áo, nhưng anh quá đói và mệt để mà đọc. Cửa đang mở; có âm thanh phát ra từ nhà bếp. Mấy người hầu đang trò chuyện cứ như thể họ chỉ có một mình trong căn nhà. Bỗng nhiên có tiếng cười ré lên thật lớn và một tiếng “Suỵt!” cũng lớn không kém. Họ đã nhớ ra sự hiện diện của anh. William đứng dậy đi qua ô cửa kính kiểu Pháp ra khu vườn, và khi anh đứng đó trong bóng râm, anh nghe thấy đám người đi tắm đang bước lên con đường cát; tiếng nói cười của họ vang vọng qua bầu không gian yên tĩnh.

“Tôi nghĩ đã đến lúc Moira nên tung hết mấy chiêu trò và mánh khóe nhỏ của cô ấy ra rồi đấy.”

Một tiếng rên rỉ đầy bi kịch phát ra từ phía Moira.

“Chúng ta nên có một chiếc máy hát tự động cho dịp cuối tuần để chơi bản ‘Nữ chúa miền núi’ chứ nhỉ.”

“Ồ không! Ồ không!” giọng Isabel vang lên phản đối. “Thế thì đối xử với William bất công quá. Hãy đối xử tử tế với anh ấy nhé mấy cưng của tôi! Anh ấy chỉ ở lại đến chiều mai thôi đấy.”

“Cứ để anh ta cho tôi lo,” Bobby Kane lớn tiếng. “Tôi giỏi chăm sóc người khác lắm.”

Cánh cổng kẽo kẹt mở rồi đóng lại. William di chuyển trên hiên nhà; họ đã trông thấy anh.

“Chào William nhé!” Và Bobby Kane, vừa vẫy vẫy chiếc khăn tắm, vừa bắt đầu nhảy cẫng lên và quay vòng trên bãi cỏ héo úa. “Tiếc là anh không ra tắm cùng bọn em, William. Nước biển tuyệt thần lắm. Xong xuôi tất cả bọn em còn ghé vào một quán rượu nhỏ làm mấy ly gin mận gai nữa cơ.”

Mọi người đã về đến nhà. “Này Isabel,” Bobby gọi lớn, “cậu có muốn tối nay tớ mặc bộ đồ diễn Nijinsky không?”

“Không,” Isabel đáp, “chẳng ai thay trang phục hóa trang gì sất. Bọn mình đói lả cả rồi. William cũng đang đói đây. Nào các bạn tôi ơi, hãy khai vị bằng cá mòi đi thôi.”

“Tôi tìm thấy cá mòi rồi đây,” Moira nói, vừa chạy vào tiền sảnh, giơ cao một chiếc hộp trên không trung.

“Nàng thiếu nữ bên hộp cá mòi,” Dennis nghiêm túc bình luận.

“Nào William, dạo này Luân Đôn thế nào rồi?” Bill Hunt hỏi, vừa dùng cái khui nở nút chai whisky.

“À, Luân Đôn chẳng thay đổi là mấy,” William đáp.

“Luân Đôn muôn năm,” Bobby hào hứng nói, dùng dĩa xiên một con cá mòi.

Nhưng chỉ một khoảnh khắc sau, William lại bị lãng quên. Moira Morrison bắt đầu thắc mắc không biết đôi chân của người ta thực sự có màu gì khi ở dưới nước.

“Chân của tớ có màu nấm nhạt nhất, nhạt nhất trên đời luôn ấy.”

Bill và Dennis ăn ngấu nghiến. Và Isabel rót đầy ly, đổi đĩa, châm diêm, mỉm cười một cách viên mãn. Có lúc, cô nói: “Em rất ước, Bill, anh sẽ vẽ bức tranh này.”

“Vẽ cái gì?” Bill lớn tiếng hỏi, miệng nhồi đầy bánh mì.

“Bọn mình,” Isabel đáp, “quây quần quanh bàn ăn. Chắc chắn sẽ vô cùng thú vị sau hai mươi năm nữa cho mà xem.”

Bill nheo mắt lại và nhai. “Ánh sáng hỏng bét,” anh ta cộc cằn đáp, “quá nhiều màu vàng”; rồi lại tiếp tục ăn. Và điều đó hình như cũng làm Isabel mê mẩn.

Nhưng sau bữa tối, tất cả mệt nhoài đến mức chẳng làm gì ngoài ngáp ngắn ngáp dài cho đến lúc muộn để đi ngủ...

Mãi cho đến khi William đang đợi xe taxi vào chiều hôm sau, anh mới có dịp ở riêng với Isabel. Khi anh mang chiếc va-li xuống sảnh, Isabel rời khỏi nhóm người kia và tiến lại chỗ anh. Cô cúi xuống nhặt chiếc va-li lên. “Nặng thế này cơ á!” cô nói, rồi cười ngượng ngùng một tiếng. “Để em xách giúp anh nhé! Ra đến cổng cơ.”

“Không, sao em phải làm thế?” William nói. “Đừng làm vậy chứ. Đưa anh xách nào.”

“Ôi, xin anh hãy để em làm đi,” Isabel nói. “Thật đấy, em muốn làm mà.” Họ đi bên nhau trong im lặng. William cảm thấy lúc này chẳng còn gì để nói nữa.

“Đấy,” Isabel đắc thắng nói, đặt chiếc va-li xuống, rồi lo lắng nhìn dọc theo con đường cát. “Lần này hình như em chẳng gặp anh được mấy,” cô thở hổn hển nói. “Thời gian ngắn quá phải không anh? Em có cảm giác như anh vừa mới đến đây thôi. Lần tới...” Chiếc xe taxi xuất hiện trong tầm mắt. “Em hy vọng họ chăm sóc anh tử tế ở Luân Đôn nhé. Em rất tiếc vì lũ trẻ đi vắng cả ngày, nhưng cô Neil đã sắp xếp lịch như vậy. Chúng sẽ buồn lắm vì lỡ gặp anh đấy. Tội nghiệp William, lại phải quay về Luân Đôn rồi.” Chiếc xe taxi quay đầu. “Tạm biệt anh nhé!” Cô trao anh một nụ hôn vội vã; rồi cô đi mất.

Những cánh đồng, hàng cây, bụi rậm lướt qua. Xe xóc nảy qua thị trấn nhỏ vắng vẻ, buồn thiu, rồi nghiến bánh leo dốc lên nhà ga.

Tàu đã vào ga. William tiến thẳng vào một toa hút thuốc hạng nhất, ngả người ra góc ghế, nhưng lần này anh mặc kệ đống tài liệu. Anh khoanh tay trước ngực để xua đi cơn đau âm lỉ dai dẳng, và bắt đầu nhẩm viết một bức thư gửi Isabel trong đầu.

Thư từ dạo này đến muộn như thường lệ. Họ ngồi bên ngoài ngôi nhà trên những chiếc ghế dài dưới tán ô nhiều màu sắc. Chỉ có mỗi mình Bobby Kane nằm bò trên thảm cỏ dưới chân Isabel. Mọi thứ thật tẻ nhạt, ngột ngạt; ngày dài rũ rượi như một lá cờ rủ.

“Cậu có nghĩ trên Thiên đàng cũng có những ngày thứ Hai không?” Bobby cất giọng ngây ngô hỏi.

Và Dennis lẩm bẩm: “Thiên đàng sẽ là một chuỗi ngày thứ Hai kéo dài cho mà xem.”

Nhưng Isabel không sao thôi thắc mắc về con cá hồi mà họ ăn tối hôm qua rốt ý nhỉ. Cô định bụng làm món xốt mayonnaise cá hồi cho bữa trưa và giờ thì...

Moira đang ngủ gục. Ngủ là phát hiện mới nhất của cô ấy. “Thích lắm cơ. Người ta chỉ việc nhắm mắt lại, thế là xong. Quá ư là tuyệt vời.”

Khi gã nhân viên phát thư già mặt đỏ gay cưỡi chiếc xe ba bánh lộc cộc cọc dọc con đường cát, người ta có cảm giác tay lái của lão lẽ ra phải là mái chèo.

Bill Hunt đặt cuốn sách xuống. “Thư từ đây,” anh ta tự đắc nói, và tất cả cùng chờ đợi. Nhưng chà, gã đưa thư vô tâm — ôi cái thế giới đầy ác ý này! Chỉ có đúng một bức thư, dày cộp và gửi cho Isabel. Thậm chí không có lấy một tờ báo.

“Và thư của tớ chỉ là của William thôi,” Isabel ảo não nói.

“Từ William á—sớm thế cơ à?”

“Anh ấy đang gửi trả lại cho cậu tờ giấy đăng ký kết hôn như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng đấy.”

“Ai cũng có giấy đăng ký kết hôn hết sao? Tớ cứ tưởng thứ đó chỉ dành cho tụi đầy tớ chứ.”

“Hết trang này đến trang khác! Nhìn cô ấy kìa! Nàng thiếu nữ đọc thư,” Dennis nói.

“Isabel quý giá, dấu yêu của anh.” Hết trang này đến trang khác. Khi Isabel đọc tiếp, cảm giác kinh ngạc trong cô biến thành một cảm giác ngột ngạt. Cái quái gì đã xui khiến William viết thế nhỉ...? Thật là kỳ lạ làm sao... Điều gì có thể khiến anh ấy... Cô cảm thấy hoang mang, ngày càng kích động, thậm chí hoảng sợ. Đúng là phong cách của William rồi. Phải thế không nhỉ? Thật ngớ ngẩn, dĩ nhiên rồi, chắc chắn nó phải ngớ ngẩn, buồn cười lắm đây. “Ha, ha, ha! Ôi trời!” Cô phải làm gì đây? Isabel ngả ngửa ra ghế và cười đến mức không sao dừng lại được.

“Nào, kể cho bọn tớ nghe với chứ,” những người khác nài nỉ. “Cậu phải đọc cho bọn tớ nghe chứ.”

“Tớ thèm được đọc lắm đây,” Isabel khúc khích cười. Cô ngồim dậy, gom bức thư lại và vẫy vẫy về phía họ. “Lại đây nào,” cô nói. “Nghe này, tuyệt diệu lắm cơ. Một bức thư tình đấy!”

“Một bức thư tình! Ôi thần thánh làm sao!” Isabel dấu yêu, quý giá. Nhưng cô vừa mới bắt đầu thì tiếng cười của họ đã cắt ngang lời.

“Đọc tiếp đi Isabel, hoàn hảo quá đi mất.”

“Đúng là một phát hiện tuyệt vời nhất.”

“Ôi, đọc tiếp đi Isabel!”

Chúa chẳng muốn, hỡi em yêu, anh trở thành gánh nặng kìm hãm hạnh phúc của em.

“Ôi! ôi! ôi!”

“Suỵt! suỵt! suỵt!”

Và Isabel đọc tiếp. Khi cô đọc đến đoạn cuối thì họ đã cười ngất lên ngất xuống: Bobby lăn lộn trên thảm cỏ và gần như muốn khóc thét lên.

“Cậu phải nhượng lại nó nguyên văn thế này cho cuốn sách mới của tớ nhé,” Dennis quả quyết nói. “Tớ sẽ dành hẳn một chương cho nó đấy.”

“Ôi, Isabel,” Moira rên rỉ, “cái đoạn tuyệt vời khi anh ấy ôm chặt lấy cậu trong vòng tay ấy!”

“Tớ vẫn tưởng mấy bức thư trong các vụ ly hôn là do người ta bịa ra chứ. Nhưng so với bức này thì chúng chỉ đáng xách dép.”

“Đưa tớ cầm nào. Cho tớ tự đọc nó một mình xem nào,” Bobby Kane nói.

Nhưng, trái với dự đoán của họ, Isabel vò nát bức thư trong tay. Cô không còn cười nữa. Cô nhanh chóng liếc nhìn tất cả bọn họ; trông cô vô cùng kiệt sức. “Thôi, không phải lúc này. Không phải lúc này đâu,” cô ấp úng nói.

Và trước khi họ kịp định thần lại, cô đã chạy vụt vào nhà, băng qua tiền sảnh, chạy lên lầu vào phòng ngủ của mình. Cô ngồi phịch xuống mép giường. “Thật đê tiện, đáng ghét, gớm ghiếc, dung tục làm sao,” Isabel lẩm bẩm. Cô dùng hai tay úp chặt lên mắt và ngả người qua lại. Và một lần nữa cô nhìn thấy họ, không phải bốn người, mà giống như bốn mươi người, đang cười cợt, chế giễu, nhạo báng, chìa những đôi tay ra trong lúc cô đọc bức thư của William cho họ nghe. Ôi, sao mà ghê tởm thế chứ khi đã làm một việc như vậy. Sao cô có thể làm thế cơ chứ! Chúa chẳng muốn, hỡi em yêu, anh trở thành gánh nặng kìm hãm hạnh phúc của em. William! Isabel vùi chặt khuôn mặt vào chiếc gối. Nhưng cô cảm thấy ngay cả căn phòng ngủ u ám đó cũng thấu hiểu bản chất nông cạn, phù phiếm và kiêu ngạo của cô...

Chẳng mấy chốc từ khu vườn bên dưới vẳng lên những giọng nói.

“Isabel, tất cả bọn mình đi tắm đây. Ra đây mau lên!”

“Mau ra đây, hỡi người vợ của William!”

“Hãy gọi cô ấy một tiếng trước khi đi, gọi thêm một lần nữa nào!”

Isabel ngồi bật dậy. Giờ là lúc này đây, giờ cô phải quyết định. Cô sẽ đi cùng họ, hay ở lại đây và viết thư cho William. Chọn bên nào, chọn cái nào đây? “Mình phải quyết định thôi.” Ơ hay, sao lại còn phải lăn tăn gì nữa chứ? Dĩ nhiên là cô sẽ ở lại đây và viết thư rồi.

“Titania ơi!” Moira ré lên.

“Isa-bel?”

Không, khó quá đi mất. “Mình—mình sẽ đi cùng họ, rồi viết thư cho William sau vậy. Lúc khác đi. Lát nữa nhé. Không phải bây giờ. Nhưng chắc chắn mình sẽ viết,” Isabel vội vã nghĩ.

Và, cười vang theo cái điệu cười mới mẻ ấy, cô chạy vụt xuống cầu thang.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Katherine Mansfield

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.