“Chờ em với, Isa-bel! Kezia, chờ em với!”
Kia là tội nghiệp bé Lottie, lại bị bỏ lại đằng sau, bởi em thấy việc tự mình trèo qua cái bậc rào mới khó khăn làm sao. Khi em đứng lên bậc thang đầu tiên, đôi chân bắt đầu run lẩy bẩy; em bám chặt lấy cột rào. Rồi người ta phải vắt một chân sang. Nhưng chân nào nhỉ? Em chẳng bao giờ quyết định được. Và khi cuối cùng em cũng vắt được một chân qua với một vẻ tuyệt vọng giậm chân bình bịch — thì cảm giác thật kinh khủng.
Em vẫn còn nửa ở trong bãi cỏ chăn gia súc và nửa ở trong đám cỏ lác. Em bám lấy cột rào một cách tuyệt vọng rồi cất cao giọng. “Chờ em với!”
“Không, đừng chờ nó, Kezia!” Isabel bảo. “Con bé ngốc nghếch thật. Lúc nào nó cũng làm rùm beng lên. Mau lên!” Và nhỏ giật mạnh áo len của Kezia. “Cậu cứ dùng xô của tớ nếu đi cùng tớ,” nhỏ tốt bụng nói. “Nó to hơn xô của cậu.” Nhưng Kezia không thể bỏ mặc Lottie một mình được. Con bé chạy quay lại với Lottie. Lúc này mặt Lottie đã đỏ bừng và thở hồng hộc.
“Nào, đưa nốt chân kia qua đi,” Kezia bảo.
“Ở đâu?”
Lottie nhìn xuống Kezia như từ trên đỉnh núi cao.
“Ở đây này, chỗ tay tớ đây.” Kezia vỗ vỗ vào chỗ đó.
“Ồ, ý cậu là ở đó á!” Lottie thở dài một hơi thật sâu và đưa nốt chân thứ hai qua.
“Bây giờ—cậu cứ quay người lại rồi ngồi xuống và trượt xuống,” Kezia nói.
“Nhưng có cái gì để ngồi đâu, Kezia,” Lottie nói.
Cuối cùng con bé cũng xoay sở được, và một khi đã qua được rồi, em phủi người lại và bắt đầu rạng rỡ hẳn lên.
“Tớ trèo rào giỏi hơn rồi phải không, Kezia?”
Lottie vốn có bản tính rất hay hy vọng.
Chiếc mũ che nắng màu hồng và màu xanh đi theo chiếc mũ che nắng đỏ rực của Isabel lên cái ngọn đồi trơn trượt đó. Lên đến đỉnh, chúng dừng lại để quyết định nên đi đâu và ngắm nghía thật kỹ xem ai đã có mặt ở đó từ trước. Nhìn từ phía sau, đứng nổi bật giữa đường chân trời, khoát tay múa chân lia lịa bằng những chiếc xẻng, trông chúng chẳng khác nào những nhà thám hiểm tí hon đang bối rối.
Cả gia đình nhà Samuel Josephs đã có mặt ở đó từ trước cùng với cô gia sư người làm của họ, người ngồi trên chiếc ghế xếp và duy trì kỷ luật bằng một chiếc còi đeo ở cổ cùng một chiếc gậy mây nhỏ để chỉ đạo các hoạt động. Bọn trẻ nhà Samuel Josephs chẳng bao giờ tự chơi với nhau hay tự quản lý trò chơi của mình. Nếu chúng tự chơi, thể nào mọi chuyện cũng kết thúc bằng việc đám con trai đổ nước vào cổ đám con gái hoặc đám con gái tìm cách nhét những con cua đen nhỏ vào túi áo đám con trai. Thế là bà S. J. và tội nghiệp cô gia sư liền vạch ra cái mà cô gọi là một “chương-trình” mỗi buổi sáng để giữ cho chúng “bận rộn và tránh xa rắc rối”. Toàn là các cuộc thi đấu, cuộc đua hay trò chơi vòng tròn. Mọi thứ bắt đầu bằng một tiếng còi sắc lẹm của cô gia sư và kết thúc cũng bằng một tiếng còi khác. Thậm chí còn có cả phần thưởng—những gói giấy to, hơi bẩn mà cô gia sư với một nụ cười chua chát rút ra từ một cái túi lưới căng phồng. Bọn Samuel Josephs đánh nhau tranh giành phần thưởng đến sợ luôn, chúng gian lận và véo tay nhau—đứa nào cũng là chuyên gia véo. Duy chỉ có một lần bọn trẻ nhà Burnell chơi cùng chúng, Kezia đã giật được một giải thưởng, và khi gỡ ba lớp giấy bóc ra, con bé tìm thấy một chiếcóc-sê gỉ sét rất nhỏ. Kezia chẳng hiểu tại sao chúng lại làm rùm beng lên như thế cơ chứ....
Nhưng giờ thì chúng chẳng bao giờ chơi với bọn Samuel Josephs hay thậm chí đến dự tiệc nhà họ nữa. Bọn Samuel Josephs lúc nào cũng tổ chức tiệc tùng cho trẻ con ở Vịnh và lần nào cũng chỉ có chừng ấy món ăn. Một cái chậu rửa mặt to đựng đầy xà lách hoa quả ngả màu nâu đậm, bánh mì ngọt cắt làm tư và một cái bình rửa mặt đựng đầy thứ mà cô gia sư gọi là “Nước-chanh-đờ”. Và rồi bạn ra về vào buổi chiều với một nửa đường viền đăng-ten ở váy bị rách bươm hoặc thứ gì đó vương vãi đầy trước ngực chiếc tạp dề thêu thủng lỗ chỗ, để lại đằng sau bọn Samuel Josephs đang nhảy nhót như những kẻ hoang dã trên bãi cỏ nhà chúng. Không! Bọn chúng quá sức kinh khủng.
Ở phía bên kia bãi biển, sát ngay mép nước, hai cậu bé đang xắn quần cao lên, lấp lánh di chuyển như những con nhện. Một đứa đang đào bới, đứa kia thoăn thoắt chạy ra chạy vào dòng nước để múc đầy một chiếc xô nhỏ. Đó là hai anh em nhà Trout, Pip và Rags. Nhưng Pip bận đào bới đến nỗi và Rags bận phụ giúp đến nỗi chẳng nhìn thấy mấy cô em họ cho đến khi chúng đã đến sát bên.
“Nhìn này!” Pip nói. “Nhìn xem tớ vừa tìm được cái gì này.” Và nó chìa cho chúng xem một chiếc giày cũ ướt sũng, trông bẹp dúm bẹp dó. Ba cô bé trân trối nhìn.
“Cậu định làm gì với nó đấy?” Kezia hỏi.
“Giữ lại chứ sao!” Pip tỏ ra vô cùng khinh bỉ. “Đây là đồ nhặt được đấy—thấy chưa?”
Vâng, Kezia thấy thế thật. Dù sao đi nữa....
“Có khối thứ được chôn dưới cát ấy chứ,” Pip giải thích. “Chúng bị sóng đánh dạt vào từ những vụ đắm tàu. Kho báu đấy. Biết đâu—cậu có thể tìm thấy—”
“Nhưng sao Rags cứ phải đổ nước vào làm gì?” Lottie hỏi.
“À, để làm ẩm nó lên,” Pip nói, “cho công việc dễ hơn một chút. Cứ làm tiếp đi, Rags.”
Và chú bé Rags ngoan ngoãn chạy ngược chạy xuôi, đổ thứ nước đã ngả màu nâu như bột cacao vào.
“Này, có muốn tớ cho xem thứ tớ tìm được hôm qua không?” Pip nói với vẻ đầy bí ẩn, rồi cắm phập chiếc xẻng xuống cát. “Hứa là không được kể với ai đấy nhé.”
Chúng hứa.I
“Nói đi, thề có Chúa chết liền đấy.”
Mấy cô bé liền thề.
Pip lấy từ trong túi ra một thứ, kì cọ nó một hồi lâu vào trước ngực áo len, rồi hà hơi vào và lại kì cọ tiếp.
“Bây giờ quay lưng lại đi!” nó ra lệnh.
Chúng quay lưng lại.
“Tất cả nhìn về cùng một hướng nhé! Đứng yên! Nào!”
Và bàn tay nó mở ra; nó giơ lên cao trước ánh sáng một thứ đang chớp lóa, đang nháy mắt, một thứ có sắc xanh tuyệt đẹp.
“Đây là một viên ngọc lục-bảo đấy,” Pip ra điều nghiêm trang nói.
“Thật á, Pip?” Ngay cả Isabel cũng phải thán phục.
Thứ màu xanh tuyệt đẹp ấy dường như đang nhảy múa trên những ngón tay của Pip. Dì Beryl có một viên ngọc lục bảo gắn trên nhẫn, nhưng nó rất nhỏ. Viên này thì to bằng cả một ngôi sao và đẹp hơn gấp bội.