Tess Xứ D'urbervilles: Một Người Phụ Nữ Trong Trắng

Lượt đọc: 946 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Về phần Tess Durbeyfield, cô không dễ gì gạt bỏ được cuộc gặp gỡ ấy ra khỏi tâm trí. Đã lâu cô không còn bụng dạ nào nhảy múa nữa, dẫu quanh cô chẳng thiếu bạn nhảy; nhưng than ôi, chẳng ai trong số họ ăn nói nhã nhặn, duyên dáng như chàng trai lạ mặt kia. Mãi cho đến khi những tia nắng chiều nuốt chửng bóng dáng chàng trai trẻ khuất dần sau sườn đồi, cô mới rũ bỏ được nỗi buồn man mác chốc lát ấy để nhận lời một người đang tha thiết mời mình khiêu vũ.

Cô nán lại bên chúng bạn tới tận lúc hoàng hôn buông xuống, và nhập cuộc nhảy múa với niềm say mê nhất định; dẫu trái tim hãy còn hoàn toàn tự do, cô chỉ thuần túy tận hưởng từng bước chân nhịp nhàng vì chính vũ điệu; nàng đâu thể ngờ, khi chứng kiến “những dày vò êm ái, những cay đắng ngọt ngào, những đớn đau thú vị cùng bao phiền muộn dễ thương” của những thiếu nữ đã được theo đuổi và trao trọn trái tim, rằng bản thân mình rồi đây cũng có thể nếm trải những điều tương tự. Những cuộc tranh giành, xô lấn của cánh trai làng hòng giành lấy tay cô trong điệu nhảy gi-gơ chỉ đem lại cho cô chút trò vui—chẳng hơn; và hễ họ trở nên quá đà, cô liền cất tiếng quở trách.

Có lẽ cô đã ở lại muộn hơn nữa, nhưng hình ảnh cùng dáng vẻ kỳ quặc của người cha ban chiều bỗng ùa về choán lấy tâm trí, khiến cô không khỏi lo âu. Tự hỏi không biết cha đã ra sao, cô bèn tách khỏi đám nhảy và rảo bước về phía cuối làng, nơi có mái nhà tranh của gia đình.

Khi còn cách nhà hàng chục thước, bên tai cô đã vẳng lại những âm thanh nhịp nhàng khác hẳn thứ âm nhạc vừa rời bỏ; những âm thanh mà cô quá đỗi quen thuộc—thân thuộc đến nao lòng. Đó là chuỗi tiếng thình thịch đều đặn phát ra từ trong nhà, do chiếc nôi đưa lắc dữ dội trên nền lát đá, hòa cùng nhịp điệu dồn dập của một giọng nữ đang hào hứng hát bài ca khúc quen thuộc “Con bò đốm”—

Em thấy nàng nằm dưới bóng cây xanh mát;

Lại đây, người thương! rồi ta sẽ chỉ cho em!

Tiếng đu đưa nôi và lời ca bỗng chốc đồng thời im bặt, nhường chỗ cho một tràng thốt lên thất thanh ở cao độ chói tai nhất.

“Cầu Chúa ban phước cho đôi mắt sáng như kim cương của con! Cho đôi má mịn như sáp! Cả cái miệng chúm chím như quả anh đào! Cặp đùi mập mạp của thần Cupid! Cùng từng tấc da thịt diễm phúc của con tôi!”

Dứt lời cầu chúc ấy, tiếng nôi kẽo kẹt và lời ca lại tiếp tục rộn ràng, khúc hát “Con bò đốm” lại cất lên y như cũ. Sự tình đương diễn ra như thế thì Tess đẩy cửa bước vào, dừng chân trên tấm thảm chùi chân ngay ngưỡng cửa để dõi mắt nhìn quanh căn phòng.

Cảnh tượng bên trong, bất chấp điệu hát vui tươi, vẫn đập vào mắt cô gái với một vẻ buồn tẻ đến khôn cùng. Từ không khí tưng bừng ngày hội nơi đồng nội—những tà váy trắng muốt, những bó hoa xinh, những cành liễu uốn cong, những vòng xoay cuồng nhiệt trên thảm cỏ, cùng tia rung động dịu dàng thoảng qua dành cho người xa lạ—cho đến cảnh tượng ảm đạm vàng vọt dưới ánh ngọn nến le lói độc nhất này, ôi chao là một bước cách biệt thăm thẳm! Bên cạnh sự hụt hẫng vì nỗi tương phản gay gắt, một niềm tự trách lạnh lùng chợt dâng lên trong lòng cô, bởi cô đã không về sớm hơn để đỡ đần mẹ việc nhà, thay vì mải mê vui chơi thỏa thích ngoài trời.

Mẹ cô vẫn đứng đó giữa lũ trẻ, đúng như lúc Tess rời đi, đang còng lưng bên chậu giặt đồ từ hôm thứ Hai, mà nay, như lệ thường, vẫn cứ dùng dằng dây dưa tới tận cuối tuần. Cũng chính từ cái chậu giặt ấy, mới hôm qua thôi—Tess bỗng thấy nhói buốt một niềm hối hận khôn nguôi—đã vắt ra chiếc váy trắng cô đang mặc trên người, chiếc váy mà cô đã vô ý để cỏ ẩm làm xanh một vạt, do chính đôi bàn tay mẹ vắt khô và là ủi phẳng phiu.

Như thường lệ, bà Durbeyfield đứng co một chân giữ thăng bằng bên mép chậu giặt, chân kia bận rộn với công việc đưa nôi ru đứa con út như đã tả. Đôi then cong của chân nôi đã phải cần mẫn gánh vác phận sự suốt bao năm ròng rã, oằn mình dưới sức nặng của ngần ấy đứa trẻ trên nền đá phiến, đến nỗi chúng đã mòn vẹt gần như phẳng lì; hệ quả là mỗi nhịp đung đưa lại kéo theo một cú giật nảy cực mạnh, hất đứa bé lắc lư từ bên nọ sang bên kia tựa con thoi trên khung dệt, trong khi bà Durbeyfield, phấn khích theo điệu hát, nhún chân đạp lên then nôi bằng tất cả chút sức sống còn sót lại sau một ngày dài nhúng mình trong đống bọt xà phòng sủi ngập.

Cọt-kẹt, cọt-kẹt, chiếc nôi chuyển động; ngọn lửa nến vươn mình cao vút rồi bắt đầu nhảy nhót chập chờn; nước từ khuỷu tay người đàn bà rỏ tong tòng, và bài hát cứ dồn dập trôi cho đến hết khổ thơ, trong khi bà Durbeyfield vẫn đưa mắt nhìn con gái. Ngay cả lúc này, dẫu gánh nặng đàn con thơ đè nặng trĩu vai, Joan Durbeyfield vẫn là người mê đắm cung đàn điệu hát. Chẳng có khúc ca nào từ thế giới bên ngoài bay vào thung lũng Blackmoor mà mẹ của Tess lại không học thuộc lòng chỉ trong vòng một tuần lễ.

Trên nét mặt người phụ nữ ấy vẫn còn phảng phất đôi chút nét tươi tắn, thậm chí là sự duyên dáng của thời xuân sắc; điều đó cho thấy dường như vẻ quyến rũ mà Tess có quyền tự hào phần lớn là được thừa hưởng từ mẹ, và vì thế, nó chẳng dính dáng gì đến dòng dõi hiệp sĩ hay lịch sử vẻ vang.

“Để con đưa nôi cho mẹ,” cô con gái dịu dàng nói. “Hoặc con cởi chiếc váy đẹp này ra rồi phụ mẹ vắt quần áo nhé? Con cứ ngỡ mẹ đã giặt xong từ lâu rồi chứ.”

Người mẹ chẳng hề giận dỗi việc Tess bỏ mặc việc nhà cho một tay bà cáng đáng suốt bấy lâu; quả thật, Joan hiếm khi rầy la con gái về chuyện ấy, bà chẳng mấy khi bận tâm đến việc thiếu bàn tay Tess đỡ đần, bởi lẽ kế sách bản năng của bà để trút bớt nhọc nhằn chính là cứ lần lữa gác việc lại. Tuy nhiên, tối nay, tâm trạng bà dường như còn tươi vui rạng rỡ hơn mọi khi. Trong ánh mắt người mẹ có nét gì đó mơ màng, trầm ngâm và đầy vẻ hân hoan phấn chấn mà cô gái chẳng thể nào hiểu nổi.

“Ừ, con về là tốt rồi,” mẹ cô cất lời ngay khi nốt nhạc cuối cùng vừa dứt khỏi môi. “Mẹ đang tính đi tìm cha con về; nhưng quan trọng hơn cả là mẹ muốn kể cho con nghe chuyện này. Con sẽ sướng rơn lên cho mà xem, cục cưng của mẹ, một khi con biết chuyện!” (Bà Durbeyfield theo thói quen vẫn nói bằng thổ ngữ địa phương; còn con gái bà, người đã vượt qua Tiêu chuẩn Lớp Sáu ở Trường Công lập dưới sự chỉ bảo của một cô giáo đào tạo từ London, lại nói được hai thứ tiếng: ở nhà thì dùng thổ ngữ ít nhiều; khi ra ngoài và tiếp xúc với giới quyền quý thì dùng tiếng Anh chuẩn mực.)

“Chuyện xảy ra từ lúc con đi vắng ạ?” Tess hỏi.

“Chứ sao!”

“Có liên quan gì đến chuyện chiều nay cha biến mình thành trò cười ngớ ngẩn trên chiếc xe ngựa ấy không mẹ? Sao cha lại làm thế chứ? Con chỉ muốn độn thổ vì xấu hổ thôi!”

“Đấy chỉ là một phần của câu chuyện ầm ĩ thôi con! Người ta vừa phát hiện ra nhà mình là dòng dõi quý tộc danh giá bậc nhất khắp cả cái hạt này đấy—dòng dõi bắt nguồn từ tít tận trước thời Oliver Càu Nhàu—ngược về tận thời của bọn Thổ Nhĩ Kỳ ngoại đạo—với bao nhiêu là lăng tẩm, hầm mộ, gia huy, khiên chắn phù hiệu, và Chúa mới biết còn những gì nữa. Hồi thời Thánh Charles, tổ tiên nhà mình còn được phong làm Hiệp sĩ Cây Sồi Hoàng gia cơ đấy, tên thật của nhà mình là d’Urberville!... Nghe thế lòng con có thấy phổng mũi lên không? Chính vì lẽ đó mà cha con mới ngất ngưởng ngồi xe về nhà đấy; chứ chẳng phải do ông ấy say sưa bét nhè như thiên hạ đồn thổi đâu.”

“Con mừng vì điều đó. Nhưng chuyện ấy có giúp ích gì cho nhà mình không mẹ?”

“Ồ có chứ! Người ta bảo chuyện này sẽ đem lại nhiều điều trọng đại lắm đấy. Chắc chắn cả một đoàn người cùng đẳng cấp với nhà mình sẽ sớm đánh xe ngựa tới đây ngay khi hay tin. Cha con biết được tin này trên đường từ Shaston về, và ông ấy đã kể vanh vách cho mẹ nghe toàn bộ gia phả nguồn cơn rồi.”

“Thế giờ cha đâu rồi mẹ?” Tess chợt hỏi.

Bà mẹ đưa ra câu trả lời chẳng ăn nhập gì với câu hỏi: “Hôm nay cha con có ghé khám bác sĩ ở Shaston. Xem ra chẳng phải bệnh lao phổi gì đâu. Bác sĩ bảo là có một lớp mỡ bọc quanh tim ông ấy. Đấy, nó giống như thế này này.” Vừa nói, Joan Durbeyfield vừa cong ngón cái và ngón trỏ còn sũng nước thành hình chữ C, rồi dùng ngón trỏ tay kia làm que chỉ. “‘Hiện giờ,’ bác sĩ bảo với cha con thế, ‘tim ông bị bọc kín hết một vòng quanh chỗ này, rồi quanh chỗ kia; chỉ còn chừa lại khoảng trống này thôi,’ ông ấy bảo vậy. ‘Chừng nào chỗ mỡ ấy khép kín lại như thế này,’”—bà Durbeyfield khép các ngón tay thành một vòng tròn trọn vẹn—“‘thì ông sẽ tan biến như một chiếc bóng vậy đó, ông Durbeyfield à,’ bác sĩ nói thế. ‘Ông có thể sống thêm mười năm nữa; mà cũng có thể ra đi sau mười tháng, hay chỉ mười ngày.’”

Tess lộ vẻ hoảng hốt. Cha cô có nguy cơ phải đi vào cõi vĩnh hằng sớm đến thế sao, bất chấp niềm vinh quang đột ngột giáng xuống này!

“Nhưng cha đâu rồi hả mẹ?” Cô hỏi lại lần nữa.

Bà mẹ làm ra vẻ biện bạch ái ngại. “Thôi nào, đừng có sừng sộ nổi giận lên thế chứ! Tội nghiệp ông ấy—sau khi được tin vui của ông mục sư nâng bổng lên chín tầng mây, ông ấy thấy bồn chồn bứt rứt quá—nên đã tạt qua quán Rolliver cách đây nửa tiếng rồi. Ông ấy cần phải bồi dưỡng lấy lại sức cho chuyến đi ngày mai chở đống thùng nuôi ong, dù gia tộc có danh giá hay không thì hàng vẫn phải giao. Chắc vừa qua mười hai giờ đêm nay là ông ấy phải lên đường rồi, vì đường sá xa xôi lắm.”

“Lấy lại sức ư!” Tess thốt lên đầy phẫn uất, nước mắt lưng tròng nơi khóe mi. “Ôi lạy Chúa tôi! Đến quán rượu để lấy lại sức sao! Thế mà mẹ cũng đồng tình với cha cho được!”

Lời trách móc cùng tâm trạng u uất của cô dường như bao trùm cả căn phòng, phả một vẻ sợ sệt, ủ rũ lên từng món đồ đạc, ngọn nến, lũ trẻ đang nô đùa quanh đó, và cả khuôn mặt người mẹ.

“Đâu có,” người mẹ giãy nảy, giọng chạm tự ái, “mẹ đâu có đồng tình. Mẹ đang đợi con về để trông nhà giùm, đặng mẹ còn đi lôi ông ấy về đây này.”

“Để con đi cho.”

“Ôi không được đâu, Tess. Con thấy đấy, con đi thì có ích gì đâu.”

Tess chẳng buồn tranh cãi thêm. Cô thừa hiểu ý tứ đằng sau lời can ngăn của mẹ. Chiếc áo khoác và chiếc mũ trùm đầu của bà Durbeyfield đã được khéo léo treo sẵn trên chiếc ghế bên cạnh, chuẩn bị cho chuyến dạo chơi đầy toan tính này—một chuyến đi mà lý do thực sự khiến bà mẹ chán ngấy còn hơn cả sự cần thiết của nó.

“À, mang cuốn Sách Bói Toàn Thư cất ra chái nhà sau đi con,” Joan tiếp tục dặn, vội vã lau khô tay rồi khoác áo vào người.

Cuốn Sách Bói Toàn Thư là một cuốn sách cũ kỹ, dày cộp nằm trên chiếc bàn bên cạnh khuỷu tay bà, mép sách mòn vẹt vì bị đút túi nhiều đến mức lẹm sát vào tận lề chữ in. Tess cầm cuốn sách lên, còn người mẹ thì bước ra cửa.

Việc đi lùng tìm ông chồng vô tích sự nơi quán rượu là một trong những thú vui hiếm hoi còn sót lại của bà Durbeyfield giữa cảnh bận rộn bù đầu và mớ hỗn độn của việc nuôi dạy đàn con. Tìm thấy ông ở quán Rolliver, được ngồi cạnh ông suốt một hai tiếng đồng hồ và tạm gác lại mọi âu lo, suy nghĩ về lũ trẻ trong chốc lát, bấy nhiêu đó cũng đủ khiến bà hạnh phúc. Khi ấy, một vầng hào quang rạng rỡ, một ánh hoàng hôn ấm áp như buông tỏa khắp cuộc đời bà. Những phiền muộn cùng thực tại trần trụi bỗng hóa thành thứ gì đó vô hình vô ảnh, siêu hình, lắng xuống thành những hiện tượng tâm lý đơn thuần để thanh thản ngẫm ngợi, chứ không còn là những gánh nặng hữu hình đè nén, cào xé thể xác lẫn tâm hồn. Đàn con thơ, khi không ở ngay trước mắt, bỗng chốc lại hiện lên như những món quà đáng yêu và tươi sáng; những chuyện vụn vặt thường nhật bỗng mang màu sắc hóm hỉnh và vui tươi khi nhìn từ nơi ấy. Bà tìm lại được đôi chút cảm giác thuở nào, cái thuở còn ngồi bên người đàn ông nay đã là chồng mình ngay tại chốn này trong những ngày được ông tán tỉnh, khi bà nhắm mắt làm ngơ trước những thói hư tật xấu của ông, chỉ tôn sùng ông trong hình ảnh người tình lý tưởng.

Còn lại một mình với lũ em nhỏ, việc đầu tiên Tess làm là mang cuốn sách bói ra chái nhà sau rồi nhét sâu vào mái tranh. Nỗi sợ hãi kỳ quặc mang tính mê tín của người mẹ đối với cuốn sách cáu bẩn này khiến bà chẳng bao giờ dám để nó qua đêm trong nhà, và hễ mỗi lần tra cứu xong xuôi, nó lại được mang trả về chốn này. Giữa một người mẹ mang trong mình mớ hành trang đang tàn lụi dần của những điều dị đoan, chuyện dân gian, thổ ngữ địa phương cùng những khúc dân ca truyền miệng, với một cô con gái được thụ hưởng nền giáo dục chuẩn mực của Trường Công lập cùng tri thức theo Quy chuẩn không ngừng được sửa đổi, là cả một hố sâu ngăn cách chừng hai trăm năm theo cách hiểu thông thường. Mỗi khi họ ở bên nhau, thời đại vua James và thời đại Victoria như đang cùng lúc hiện diện song hành.

Rảo bước trở lại theo lối đi trong vườn, Tess thầm băn khoăn không biết mẹ muốn tra cứu điều gì từ cuốn sách vào chính cái ngày hôm nay. Cô đoán chuyện phát hiện nguồn gốc tổ tiên mới đây hẳn có can hệ đến việc đó, song chẳng hề mảy may ngờ rằng điều ấy lại liên quan mật thiết đến chính bản thân mình. Tuy nhiên, gạt phăng ý nghĩ ấy sang một bên, cô cùng cậu em trai chín tuổi Abraham và cô em gái mười hai tuổi rưỡi tên là Eliza-Louisa (thường gọi là ’Liza-Lu) tất bật rảy nước lên đống khăn áo đã phơi khô ban ngày, trong khi những đứa bé hơn đã được dỗ đi ngủ. Giữa Tess và đứa em kế tiếp cách nhau hơn bốn tuổi, bởi hai đứa trẻ lấp vào khoảng trống ấy đều đã yểu mệnh từ thuở lọt lòng, và điều này khiến cô mang dáng dấp của một người mẹ thay thế mỗi khi ở một mình cùng các em. Sau Abraham là hai cô bé Hope và Modesty; kế đó là một bé trai ba tuổi, và cuối cùng là đứa bé sơ sinh vừa tròn một tuổi.

Tất cả những linh hồn non nớt ấy đều là những hành khách trên con thuyền Durbeyfield—hoàn toàn phó mặc số phận, từ niềm vui, nhu cầu thiết yếu, sức khỏe cho đến cả mạng sống, vào sự định đoạt của hai người lớn nhà Durbeyfield. Nếu những người cầm lái gia đình Durbeyfield chọn căng buồm lao vào gian truân, thảm họa, đói khát, bệnh tật, đọa đày và cái chết, thì nửa tá sinh linh bé bỏng bị nhốt dưới khoang tàu kia cũng đành phải cắn răng xuôi theo họ—sáu sinh linh tội nghiệp, chưa từng một lần được hỏi liệu chúng có muốn bước vào cõi đời này với bất kỳ giá nào chăng, huống chi là phải sống dưới những hoàn cảnh nghiệt ngã đến thế khi sinh ra trong cái gia đình Durbeyfield vô phương này. Hẳn có kẻ sẽ muốn biết vị thi sĩ nọ—người mà triết lý thời nay được tụng ca là uyên thâm và đáng tin cậy chẳng kém gì những vần thơ trong trẻo, khoáng đạt của ông—lấy tư cách gì để cất lời ngợi ca “thiên ý thiêng liêng của Tự nhiên”.

Trời càng lúc càng về khuya, mà cả cha lẫn mẹ vẫn chưa thấy tăm hơi. Tess ngó ra ngoài cửa, đưa mắt dõi theo một hành trình tưởng tượng khắp làng Marlott. Cả ngôi làng đang dần khép mi chìm vào giấc ngủ. Đèn nến khắp nơi đều đã tắt ngấm: trong tâm trí, cô dường như mường tượng thấy chiếc chụp tắt nến cùng cánh tay vươn ra.

Chuyện mẹ đi gọi cha hóa ra chỉ rước thêm một người nữa cần phải đi gọi về. Tess bắt đầu nhận ra rằng một người đàn ông sức khỏe chẳng ra sao, lại trù tính lên đường làm một chuyến đi dài trước một giờ sáng, thì tuyệt nhiên không nên la cà ở quán rượu vào cái giờ khuya khoắt này để ăn mừng dòng máu cổ xưa của mình.

“Abraham,” cô bảo cậu em trai nhỏ, “em đội mũ vào đi—em không sợ chứ?—rồi chạy lên quán Rolliver xem có chuyện gì xảy ra với cha mẹ rồi.”

Cậu bé thoăn thoắt bật dậy khỏi chỗ ngồi, mở toang cánh cửa rồi bị màn đêm nuốt chửng. Lại nửa giờ nữa trôi qua; chẳng thấy bóng dáng đàn ông, đàn bà hay đứa trẻ nào quay trở lại. Dường như Abraham, cũng giống như cha mẹ mình, đã bị dính bẫy và mắc kẹt lại nơi quán rượu đầy mê hoặc kia.

“Mình phải đích thân đi thôi,” cô tự nhủ.

’Liza-Lu sau đó liền lên giường đi ngủ, còn Tess, sau khi khóa chặt cửa nhốt các em bên trong, bèn cất bước lần mò theo con ngõ tối tăm, quanh co khúc khuỷu vốn chẳng thuận tiện cho những bước chân vội vã; một con đường được vạch ra từ cái thời tấc đất chưa thành tấc vàng, và chiếc đồng hồ một kim hãy còn đủ sức chia cắt các khoảng khắc trong ngày.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Thomas Hardy

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.