Tàn Nhẫn Như Nấm Mồ

Lượt đọc: 75 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 32
Một Canh Bạc Liều Lĩnh

❊ ❊ ❊

Ta đã đặt cả sinh mệnh vào một ván bài.

Và ta sẽ đương đầu với mọi rủi ro của số phận.—Shakespeare.

Trời hãy còn rất sớm khi họ đánh xe đi được mười dặm đường đến một ngôi làng nhỏ ven đường thì mới nghĩ đến chuyện ăn sáng. Tại đó, ông Berners nhắc người sĩ quan áp giải rằng Sybil vẫn chưa được lót dạ. Nghe vậy, Purley liền dừng xe trước quán trọ duy nhất của vùng, bước xuống, đỡ người tù của mình xuống theo, rồi nắm chặt tay cô dẫn vào nhà và gọi bữa sáng.

Trong lúc bữa ăn được chuẩn bị, hắn giữ bốn người trong nhóm ngồi quây quần tại phòng khách chờ đợi. Ngay khi bữa sáng kết thúc, tất cả lại lên xe tiếp tục hành trình. Họ đi thêm hai mươi dặm nữa thì dừng lại ăn trưa tại một quán trọ quạnh hiu bên đường; ở đó, Purley lại theo dõi người tù ngặt nghèo đến mức cô chẳng có cơ hội nào để nói chuyện riêng với chồng hay người bạn đồng hành. Dẫu vậy, cô vẫn hy vọng cơ hội ấy sẽ đến khi họ dừng chân nghỉ qua đêm. Sau một tiếng nghỉ ngơi, họ lại lên đường, di chuyển với tốc độ vừa phải suốt cả buổi chiều. Họ đi thêm mười lăm dặm trước khi mặt trời lặn, rồi tính ra ngày hôm đó đã đi được bốn mươi lăm dặm; nhận thấy lũ ngựa đã rất mệt mỏi, họ quyết định dừng chân nghỉ qua đêm tại một xóm nhỏ có khách sạn nhỏ ấm cúng, hứa hẹn sẽ mang lại sự nghỉ ngơi và tĩnh dưỡng.

Purley vẫn bám sát người tù của mình. Tất cả dùng bữa tối trong một phòng khách riêng. Và khi bữa ăn kết thúc, đã đến giờ nghỉ ngơi, chính Purley đã tháp tùng vợ chồng ông Berners về phòng ngủ để kiểm tra xem căn phòng có an toàn hay không. Đó là một gian phòng ở tầng trên, hướng ra mặt tiền, với hai cửa sổ nhìn xuống đường làng, và chỉ có một lối đi mở ra hành lang.

"Mọi thứ đều an toàn," Purley nói, đảo mắt quan sát xung quanh. "Vậy tôi có thể để hai người ở lại đây một mình, hẳn là hai người rất vui mừng khi được như vậy. Nhưng tôi rất tiếc phải khóa trái các vị lại; không phải vì tôi có quyền giam giữ ông, thưa ngài, mà không có sự đồng ý của ông; nhưng dĩ nhiên là ông sẽ đồng ý thôi, vì muốn được ở bên vợ mình."

"Dĩ nhiên là tôi đồng ý; và cảm ơn anh vì đặc ân này," ông Berners đáp.

"Vậy thì tốt lắm. Chúc hai người ngủ ngon," Purley nói, khép cửa lại, khóa trái và rút chìa.

Và rồi hắn thực hiện thêm một biện pháp cẩn trọng nữa để đảm bảo an ninh cho người tù của mình, đó là ra lệnh mang một chiếc nệm đến trải ngay trước cửa phòng. Tại đó, hắn cùng người cộng sự ngả lưng nghỉ ngơi như một cặp chó canh cửa.

Ngay khi nhận ra mình đã ở một mình cùng chồng, Sybil liền ra hiệu cho ông tiến về phía cuối căn phòng, nơi xa cửa ra vào nhất, và khi ông đã đến sát bên, cô thì thầm bằng giọng khẽ nhất:

"Anh có nhận thấy điều gì kỳ lạ ở thái độ của tên phái viên trẻ tuổi kia không?"

"Anh nhận ra hắn cố tình thu hút sự chú ý đặc biệt của anh mỗi khi chúng ta có lấy một khoảnh khắc không ai để ý. Nhưng vì chúng ta bị canh chừng quá gắt gao nên anh chẳng có cơ hội để hỏi, và hắn cũng chẳng thể nói cho anh biết hắn có ý gì," Lyon Berners đáp.

“Thế thì em sẽ kể cho anh nghe toàn bộ sự thật. Khi ông Purley rời đi cùng anh và để thanh niên đó canh chừng em, việc đầu tiên cậu ta làm là tự giới thiệu thân phận và đặt mình vào sự sai bảo của em, dẫu có phải hy sinh đến tính mạng!"

"Cậu ta là ai?"

"Robert Munson; một cậu bé mà em từng may mắn giúp đỡ từ thưở nhỏ. Về sau, cậu ta là lính trơn trong đại đội của Đại úy Pendleton, phục vụ dưới quyền ngài ấy suốt tám năm, chiến đấu chống lại người da đỏ ở vùng biên giới. Theo gợi ý của Đại úy Pendleton, và hoàn toàn bằng sự tự nguyện nhiệt thành, cậu ta đã xung phong nhận nhiệm vụ truy bắt em, chỉ để có thể tìm cách giải thoát cho em một cách hiệu quả hơn."

"Sybil, em đang nói gì thế? Chúng ta có một người bạn nằm trong số những kẻ bắt giữ mình ư?" Lyon kêu lên trong vẻ ngạc nhiên tột độ.

"Vâng; một người bạn sẵn sàng phục vụ chúng ta đến hơi thở cuối cùng! Hãy lắng nghe em, Lyon yêu quý, em sẽ kể hết mọi chuyện cho anh nghe," Sybil đáp.

Và cô bắt đầu thuật lại toàn bộ hoàn cảnh quen biết giữa mình với Robert Munson; những động cơ khiến cậu ta nhận công việc hiện tại; và cách cậu ta tự hé lộ thân phận với cô tại khách sạn ở Portsmouth.

"Giờ đây, xin trời cao ban ơn để một ngày nào đó anh có cơ hội đền đáp tấm lòng vì nghĩa quên thân của chàng trai tốt bụng ấy, dù việc đó có giúp ích cho chúng ta hay không đi nữa," Lyon Berners nói bằng giọng đầy cảm thổ.

"Nhưng anh Lyon thân mến, chúng ta phải hết sức cẩn thận, không được để lộ bất kỳ lời nói hay ánh mắt nào cho thấy chúng ta quen biết, chứ đừng nói là đã đạt được thỏa thuận với Munson, bởi nếu làm vậy chẳng khác nào tự tay hủy hoại cơ hội trốn thoát duy nhất của mình," Sybil dặn dò.

"Dĩ nhiên rồi! Dĩ nhiên rồi! Anh hiểu rất rõ điều đó!"

"Nhưng anh hãy chờ thời cơ, và khi cảm thấy hoàn toàn an toàn, hãy bắt liên lạc với Robert Munson."

"Anh hiểu mà, Sybil yêu dấu, anh sẽ vô cùng cẩn trọng và cảnh giác," ông Berners đáp.

Và rồi họ chìm vào giấc ngủ.

Sáng sớm hôm sau, họ bị đánh thức bởi kẻ canh gác – người chưa từng rời khỏi vị trí trước cửa phòng cho đến tận khi thấy họ bước ra ngoài. Sau đó, hắn liền luồn cánh tay của bà Berners vào tay mình và dẫn cô xuống ăn sáng.

Dùng bữa xong, họ tiếp tục lên đường.

Ngày đầu tiên và đêm đầu tiên trên đường đi ấy chính là hình mẫu cho tất cả những ngày tiếp theo. Tên phái viên Purley không bao giờ rời mắt khỏi người tù của mình ngoại trừ ban đêm; khi ấy, trước tiên hắn tự mình kiểm tra để chắc chắn rằng căn phòng của cô là một nhà tù kiên cố, từ đó cô hoàn toàn không thể trốn thoát; và rồi, để cẩn lại càng cẩn hơn, hắn luôn khóa trái cửa từ bên ngoài, đút chìa khóa vào túi, rồi ngả người nằm trên tấm nệm trải ngang khung cửa.

Sybil, Lyon và người bạn mới không có lấy một cơ hội nào để nói chuyện riêng với nhau; và khi ngày nối ngày, đêm tiếp đêm trôi qua trong vô vọng như thế, tinh thần họ từ chỗ chán nản dần rơi vào tuyệt vọng.

Nhưng người ta vẫn nói, khoảng thời gian tối tăm nhất chính là lúc ngay trước bình minh, và khi mọi chuyện đã đến đường cùng thì ắt sẽ có hướng giải quyết; quả nhiên, điều đó đã ứng nghiệm với hoàn cảnh của họ.

Vào buổi tối của ngày thứ tư trên hành trình đầy mệt mỏi, họ dừng chân ăn tối và ngủ lại tại một trang trại quạnh hiu, nơi mà vì "chút lợi lộc", người chủ trại nghèo sẵn sàng nhận trọ cho những lữ khách bất cứ khi nào có cơ hội.

Tại đây, xe ngựa và lũ ngựa của họ được chuồng ấp chu đáo, còn bản thân họ thì được bố trí phòng ốc và khoản đãi thịnh soạn.

Cũng như mọi khi, sau bữa tối, ông Purley tháp tùng người tù về phòng ngủ của cô; nhưng ngạc nhiên thay, hắn phát hiện căn phòng này có đến hai cánh cửa: một cửa mở ra hành lang trên lầu, và cửa kia thông với một căn phòng trống bên cạnh.

Sau một hồi đắn đo, hắn đã tìm ra cách giải quyết bài toán canh gác tù nhân bằng cách nói với người trợ lý:

"Này Munson, cách duy nhất lúc này là thế này: một trong chúng ta sẽ phải nằm chắn ngang một cửa, và người kia chắn cửa còn lại. Vì ta đã ba đêm không được ngủ trong phòng tử tế rồi, nên ta nghĩ ta sẽ chiếm căn phòng trống đó, còn cậu cứ giữ cái hành lang. Nhưng nhớ đấy, đừng quên rút chìa khóa ra khỏi cửa khi đã khóa lại và đút nó vào túi. Cả chuyện này nữa, hãy chắc chắn là kéo tấm nệm sát tận cửa và nằm chắn ngang hoàn toàn, để nếu ổ khóa có bị cạy đi chăng nữa thì cũng không ai có thể bước qua mà không dẫm phải người cậu; và cuối cùng, hãy nhớ chỉ ngủ với một mắt mở, bằng không mọi biện pháp phòng ngừa khác đều sẽ trở thành công cốc."

"Tôi sẽ hết sức cẩn thận, thưa ngài," phái viên trẻ Munson đáp, đưa tay lên vành mũ chào cấp trên theo đúng phong cách quân đội.

“Và giờ đây, vì chân cẳng cậu còn trẻ trung hơn tôi, làm ơn chạy xuống lầu bảo người chủ nhà gửi lên cho tôi một vại bia đắng tự ủ mà ông ta vừa nhắc đến lúc nãy xem nào."

"Vâng, thưa ngài," phái viên trẻ đáp lời rồi nhanh nhẹn bước đi, trong khi người lớn tuổi hơn tiếp tục ở lại canh gác trước cửa phòng tù nhân.

Chỉ trong vòng năm phút hoặc ngắn hơn thế, Munson đã quay lại mang theo một vạc bia "tự ủ" dung tích một quart đưa cho Purley.

“Lạy Chúa tôi! Đắng thật đấy! Tôi cũng từng nghe nói về bia đắng, nhưng thứ này thì vượt qua mọi loại đắng mà tôi từng nếm! Dù sao thì, càng đắng lại càng tốt; thứ này uống vào thực sự sảng khoái," Purley vừa nói vừa cạn sạch vại bia, rồi đưa chiếc vại không cho một chú bé da đen vừa mang chiếc nệm dùng cho giấc ngủ của Munson đến đặt xuống.

Munson mỉm cười thầm trong bụng.

Sau đó, Purley lặp lại một lượt những lời dặn dò về việc canh chừng cẩn mật đối với người tù, rồi cuối cùng cũng chúc người đồng sự ngủ ngon và lui vào căn phòng trống để canh gác ở phía cửa đó.

Munson kéo tấm nệm chắn ngang cửa hành lang đúng như đã được chỉ thị, rồi nằm xuống với nguyên vẹn bộ quần áo trên người – không phải để ngủ, mà là để lắng nghe và quan sát cho đến khi ngôi nhà chìm vào tĩnh lặng; bởi vào đêm nay, cậu đã quyết tâm thực hiện cuộc giải cứu Sybil, bằng không sẽ bỏ mạng trong gang tấc.

Trong khi đó, vợ chồng ông Berners đã lui về phòng ngủ của họ – không phải để nghỉ ngơi, mà để chờ đợi thời cơ; bởi vào đêm nay, một thứ trực giác mách bảo chắc nịch rằng Robert Munson, kẻ đang làm nhiệm vụ canh gác ở ngoài cửa phòng họ, nhất định sẽ tận dụng thời cơ để ra tay giải cứu. Thế là họ âm thầm phối hợp với những gì mà họ đoán biết là ý định của cậu.

Đầu tiên, Sybil tiến đến treo một chiếc khăn tắm lên nắm đấm cửa để che khuất lỗ khóa của cánh cửa đang bị Purley canh giữ. Sau đó, cô sập chốt lại và nói:

"Hắn muốn canh giữ chúng ta thế nào cũng được, nhưng đừng hòng nhìn trộm hay xông vào phòng này, nếu em còn có thể ngăn cản."

Và rồi, thay vì cởi đồ đi ngủ, họ lại làm điều ngược lại: lặng lẽ chỉnhốn y phục để sẵn sàng tẩu thoát. Cuối cùng, họ giấu tiền bạc cùng trang sức lên người, nhét vài vật dụng thiết yếu nhất cho chuyến đi vào một chiếc túi du lịch, rồi ngồi xuống lắng nghe và canh chừng từ bên trong, cũng giống như người bạn của họ đang lắng nghe và canh chừng ở bên ngoài.

Kế đó, họ nghe tiếng Purley sắp xếp rồi lại sắp xếp lại chiếc giường áp sát vào cửa của hắn, rồi ngả phịch người xuống đó như một kẻ đã kiệt quệ vì mệt mỏi và cơn buồn ngủ; đoạn, mọi thứ chìm vào tĩnh lặng, cho đến khi tiếng ngáy như kéo bễ của tên phái viên vang lên báo hiệu hắn đã chìm sâu vào giấc ngủ. Kể từ lúc đó, trong nhà không còn phát ra bất kỳ âm thanh nào nữa. Lyon nhìn đồng hồ. Mới chỉ có chín giờ tối, dường như toàn bộ ngôi nhà đã đi ngủ. Ở những chốn thôn quê hẻo lánh này, người ta thường lên giường cùng bầy gà, hoặc rất lâu trước khi đêm về.

Họ tiếp tục chờ đợi thêm một giờ đồng hồ trong sự hồi hộp đến nín thở; và rồi, họ nghe thấy tiếng gõ nhẹ phát ra từ cánh cửa do Munson canh giữ.

Ông Berners tiến lại, khẽ gõ nhẹ ba tiếng đáp lời.

"Suỵt!" tiếng thì thầm từ bên ngoài lọt qua lỗ khóa.

"Gì thế!" Lyon thì thầm đáp qua đường lỗ khóa.

"Anh hãy lấy một ít mỡ nến chảy trên đầu ngọn nến bôi trơn lỗ khóa thật kỹ vào, rồi em sẽ mở cửa bước vào nói chuyện với anh."

"Cảm ơn cậu; được chứ."

Ông Berners làm đúng theo lời dặn, và Munson luồn chìa khóa vào lỗ khóa đã được bôi trơn, lặng lẽ mở cửa.

“Ôi, vị cứu tinh của chúng ta!" Sybil xúc động thốt lên khi cậu bước nhẹ vào phòng, khép cửa lại phía sau và giơ một ngón tay lên ra hiệu cho họ giữ im lặng.

"Và giờ thì hãy ngồi lại gần nhau trong giây lát, để tôi kể cho hai người nghe những gì tôi đã làm và sắp sửa làm," Munson nói, kéo một chiếc ghế đẩu đến ngồi xuống trước mặt vợ chồng ông Berners.

"Cứ nói đi," Lyon thì thầm, siết chặt bàn tay người bạn.

"Vâng, nói đi anh Bob quý mến!" Sybil hồi hộp giục giã.

"Đầu tiên, tôi bỏ gần nửa ao-xơ thuốc phiện vào vại bia đắng của lão già Purley, khiến lão cứ ngỡ đó là loại bia hảo hạng và đắng độc nhất vô nhị nên đã nốc cạn cả vại."

"Lạy Chúa! Munson, cậu giết người ta rồi à?" Lyon hoảng hốt hỏi.

"Không, tôi chỉ tăng gấp đôi liều lượng hôm trước thôi, mà hôm trước lão uống vào có thấy hề hụt gì đâu, nên lần này thuốc cũng chỉ khiến lão ngủ li bì tầm mười hai tiếng là cùng. Chúa ơi, nghe tiếng lão ngáy kìa! Sấm sét đánh bên tai chắc cũng chẳng làm lão tỉnh nổi đâu."

"Thế còn gì nữa?"

"Tiếp theo, ngay khi lão chìm vào giấc ngủ, tôi rón rén bước vào phòng lão bằng đôi tất chân, khép tất cả các tấm chớp gỗ lại để khi tỉnh dậy lão vẫn tưởng trời còn tối và tiếp tục cảm thấy buồn ngủ như bản năng vốn có của lão – thế nào lão cũng sẽ ngủ lại cho đến tận chiều tối, và điều đó sẽ giúp hai người có lợi thế đi trước lão gần hai mươi tư tiếng đồng hồ."

"Đúng lắm! Rất thông minh," ông Berners khen ngợi.

"Được rồi, thế còn gì nữa, anh Bob quý mến," Sybil sốt ruột giục.

"Tôi đã khóa cửa phòng lão từ bên ngoài và cầm theo chìa khóa, để nếu chủ nhà hoặc bất kỳ ai trong gia đình có tò mò vào phòng xem tại sao lão ngủ lâu thế, họ sẽ tưởng lão tự khóa trái cửa bên trong. Còn phần tôi, tôi sẽ ở lại đây và vờ như ngủ dậy thật muộn. Thực ra tôi sẽ ngủ cho đến khi họ vào gọi dậy, rồi tôi sẽ tỏ ra giận dữ, mắng họ tốt nhất đừng có dở trò trêu chọc ông Purley, bởi lão sẽ nổi lôi đình nếu giấc ngủ bị quấy rầy. Cứ thế, tôi sẽ canh chừng hai căn phòng này khỏi bị xâm nhập, và bảo vệ cuộc trốn chạy của hai người khỏi bị phát hiện chừng nào còn có thể."

"Nhưng khi sự việc bị phát hiện, anh bạn tội nghiệp của tôi ơi, cậu có gặp rắc rối không?" Lyon lo lắng hỏi.

"Dù tôi có gặp rắc rối đi chăng nữa thì bấy nhiêu đó có bõ bèn gì so với nỗi khổ của phu nhân đây? Mà tệ nhất thì tôi cũng chỉ bị lão già Purley mắng chửi và bị cảnh sát trưởng sa thải thôi; mà từ trước đến nay tôi vốn quen ăn chửi rồi, với lại tôi cũng chẳng mặn mà gì với cái chức vụ này, nên chẳng có gì phải bận tâm."

"Dù thế nào đi nữa, anh cũng sẽ được đền đáp xứng đáng, anh Bob thân mến ạ. Không phải là những dịch vụ như thế này mà anh sắp mang lại cho chúng ta có thể được đền đáp một cách tương xứng; nhưng xét cho cùng—"

"Ôi thưa phu nhân, xin đừng nhắc đến chuyện trả ơn! Tôi mang ơn phu nhân và rất vui vì được trả món nợ ấy. Tôi đã nói cho hai người biết những gì tôi đã làm và sẽ làm để giải tỏa nỗi lo âu cho hai người; và giờ thì chúng ta nên lặng lẽ rời khỏi nhà. Hai người đã sẵn sàng chưa?" Munson hỏi.

"Chúng tôi đã sẵn sàng từ hai tiếng trước rồi, chỉ chờ sự trợ giúp của cậu thôi."

"Đi thôi; nhưng hãy di chuyển thật nhẹ nhàng, dẫu rằng khả năng chúng ta bị phát hiện là vô cùng nhỏ. Lão chủ nhà là một tên bợm nhậu nên ngủ say như chết, còn đám phụ nữ trong nhà thì đều ngủ trên gác mái cả. Tôi tận mắt thấy họ lục đục đi lên; họ cầm nến đi qua lúc tôi đang nằm trên đệm," Munson thì thầm, vừa dẫn đường đi ra hành lang vừa khéo léo khép và khóa cửa lại, rồi rút chìa khóa đi.

"Làm thế này cho chắc ăn, đề phòng trường hợp có ai đó mở cửa trong lúc tôi vắng mặt," cậu nói thêm khi rón rén dẫn đoàn người đi xuống cầu thang.

Cậu lặng lẽ mở cửa chính, và họ bước ra khoảng không tự do bên ngoài.

Con chó canh cửa nằm rạp trên tấm thảm bên ngoài ngẩng đầu lên vẫy đuôi, rồi lại nằm xuống như để bày tỏ rằng nó sẵn sàng cho phép bất kỳ thành viên nào trong nhà rời đi nếu họ muốn, dẫu rằng không một kẻ lạ mặt nào có thể bước vào nếu chưa bước qua xác nó.

"Chú chó biết điều đấy chứ!" Munson nói khi cẩn thận khép và khóa cửa ngoài lại, đồng thời giữ luôn cả chiếc chìa khóa đó.

"Hai người không được cố trốn bằng xe ngựa; thay vào đó phải cưỡi ngựa, cách này hiệu quả hơn rất nhiều cả về tốc độ lẫn khả năng vượt qua những địa hình mà xe ngựa không thể vào được," Munson dặn dò khi họ băng qua sân trang trại.

Nhưng khi họ tiến lại gần chuồng ngựa, họ bất ngờ bị một cặp chó canh giếng sủa vang trời lao ra chặn đường tiến.

"Không còn cách nào khác!" Munson thốt lên, rút từ trong ngực áo ra một khẩu súng lục hai nòng, bắn hạ gục một con chó tại chỗ trong khi con kia cất tiếng tru lên rồi tháo chạy mất dạng.

Sau đó, với chút ít khó khăn, họ cạy được cửa chuồng, và trong lúc Lyon đứng bên ngoài cùng Sybil, chàng thanh niên Munson bước vào trong dắt hai con ngựa ra.

"Ở đây có sẵn vài bộ dây cương, và có cả một chiếc yên ngựa phụ nữa, sẽ rất thích hợp cho bà Berners, nếu hai người không ngại mượn tạm chúng," Munson gợi ý.

"Tôi chẳng ngại mượn bất cứ thứ gì của bất kỳ ai để giúp vợ mình trốn thoát cả. Hơn nữa, chiếc xe ngựa của tôi có giá trị gấp đôi những thứ chúng ta cần; tôi sẽ để nó lại làm vật thế chấp," ông Berners nói.

"Cũng phải," Munson đồng tình.

Và suốt khoảng thời gian đó, cậu đã nhanh tay lắp yên cương lên chú ngựa dành cho Sybil. Ngay khi mọi thứ sẵn sàng, ông Berners bước đến để bệ hạ cho vợ lên yên.

"Chờ em một lát, anh Lyon," Sybil dừng lại để chỉnh lại trang phục.

Tranh thủ lúc đó, Munson quay sang nói với ông Berners.

"Ngài mang theo la bàn túi chứ?"

"Có."

"Vậy tôi khuyên ngài ngay khi trời sáng hãy dùng nó để định hướng đường đi. Và đừng đi về hướng đông, bởi lão già Purley sẽ đuổi theo hai người về hướng đó với suy nghĩ rằng ngài sẽ cố tìm cách ra một thành phố cảng nào đó để xuống tàu tẩu thoát. Hãy hướng thẳng vào vùng nội địa, về phía Tây, và đi thật nhanh, thật xa hết mức có thể. Hãy chú ý ẩn mình trong những khu rừng càng nhiều càng tốt, dẫu cho tốc độ di chuyển qua đó có chậm hơn so với đi ngoài đồng bằng đi nữa. Và giờ thì xin lỗi vì tôi đã cả gan đưa ra nhiều lời khuyên thế; nhưng ngài biết đấy, tôi từng trải qua những cuộc chiến trận, lăn lộn ngoài vùng đất của người da đỏ, nên cũng có chút kinh nghiệm về săn bắn và trốn chạy."

"Cảm ơn cậu – cả hai chúng tôi từ tận đáy lòng xin cảm ơn cậu. Và chúng tôi cầu nguyện cho ngày nào đó có thể chứng minh lòng biết ơn của mình," Lyon chân thành nói.

"Đừng bận tâm chuyện đó! Hãy đưa phu nhân lên yên đi. Bà ấy đã sẵn sàng rồi; và thực ra, hai người lên đường càng sớm càng tốt," Munson giục.

Ông Berners vừa bước về phía Sybil thì toàn bộ nhóm người bỗng khựng lại trước một biến cố khủng khiếp.

"Đừng có hòng hòng trốn thoát, đồ khốn kiếp! Ta tóm được tụi bay rồi nhé? Đứng lại!" một giọng nói vang lên như sấm sét, và gã chủ trại lực lưỡng bất ngờ xuất hiện chắn ngang lối đi, dẫn đầu là toàn bộ đám gia nô da đen, trên tay lăm lăm khẩu súng hỏa mai đã lên đạn!

Nhanh như chớp, chàng thanh niên Munson lao mình che chắn trước mặt Sybil, rút súng lục từ trong ngực ra, chĩa thẳng vào lức ngực kẻ địch và thét lên:

"Tránh đường ra, đồ quỷ sứ! Để cô ấy đi. Tránh đường ngay lập tức, bằng không, tao thề sẽ bắn chết mày! Tao thật sự làm đấy! Tao sẽ giết mày và đền mạng vì cô ta!"

Gã chủ nhà giương súng hỏa mai lên, nhắm thẳng vào đầu kẻ đang chĩa súng vào tim mình. Thế là, hệt như hai tay đấu súng quyết sống mái, họ trừng trừng nhìn nhau với ánh mắt sát khí!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.