But, soft! behold, lo, where it comes again!
I’ll cross it, though it blast me.—Stay, illusion!
If thou hast any sound, or use of voice,
Speak to me!—Shakespeare.
— “Nhà Dubarry,” ông bắt đầu kể, “từng là một dòng dõi quý tộc Công giáo La Mã người Pháp. Một người con thứ trong gia tộc ấy đã đặt chân đến Virginia từ những ngày đầu lập quốc của thuộc địa này.
Cũng như những người đồng hương Anh giáo có thế lực hơn, ông ta được triều đình ban cho một vùng đất rộng lớn. Ông dựng lúp sụp, lập nghiệp tại đây, cách chừng trăm thước nơi ngôi nhà thờ này tọa lạc.
Ông kết duyên với một thiếu nữ da đỏ, tiếp tục sống cảnh thợ săn hoang dã giữa chốn rừng thiêng nước độc; thỉnh thoảng mới phá lệ đôi lần trong năm, xuống Jamestown để mua sắm những vật dụng văn minh mà chốn rừng sâu không tài nào có được, để nghe ngóng tin tức từ những con thuyền vừa cập bến từ quê nhà; và hơn hết, để tận hưởng chút không khí lễ hội giữa những kẻ tìm kiếm niềm vui—vốn cũng chẳng thiếu ngay tại vùng định cư sơ khai Jamestown.
Qua thời gian, những người con trai con gái mang dòng máu lai lần lượt ra đời quanh ông, và túp lều tranh thô sơ dần nhường chỗ cho một trang viên bằng đá vững chãi.
Vùng đất xung quanh cũng dần trở nên đông đúc. Gia tộc Berners đã giành được quyền sở hữu Thung lũng Đen, dựng nên phần đầu tiên của tòa Black Hall—nơi cứ qua mỗi thế hệ lại được cơi nới thêm, cho đến khi đạt quy mô như hiện tại.
Cũng vào khoảng thời gian ấy, Charles Dubarry bắt đầu nuôi dưỡng một hoài bão lớn dành cho đứa con trưởng, một thanh niên mười chín tuổi dốt nát và đậm chất da đỏ; và khi nghe tin hai người con trai của Richard Berners ở Black Hall sắp được cử sang Anh du học, ông bèn đề nghị rằng ‘cậu bé đen’ của mình—theo cách ông gọi đứa con trai khôi ngô có đôi mắt huyền—cũng nên đi cùng họ. Vì ba thiếu niên này đã là bạn đồng hành chốn rừng rậm từ nhiều năm qua, đề nghị của lão Dubarry đã được đón nhận hào hứng, thế là cả ba cùng nhau giương buồm sang Anh.
Họ trải qua mười năm ở cựu thế giới và trở về cùng nhau y như lúc xuất phát. Chính sau ngày trở về ấy, tình bạn keo sơn gắn bó suốt tuổi trẻ bỗng chốc biến thành mối thù sâu sắc nhất. Sự việc diễn ra thế này:
Trong thời gian họ vắng mặt, dân cư trong vùng đã gia tăng đáng kể. Mọi thung lũng trù phú giữa chốn núi non này đều đã có chủ nhân người da trắng. Tại Thung lũng Hoa Hồng—được gọi như vậy bởi vào thời điểm người chủ đầu tiên đến tiếp quản, nơi đây vốn được trải thảm và giăng đầy những dây hồng dại—cư ngụ một người tên Gabriel Mayo, một quý ông giàu có, hào hoa và uy bác. Ông có những người con gái vô cùng xinh đẹp, mà lão Dubarry với thói quen phóng đại và bản tính hào hiệp quê mùa từng thốt lên rằng ‘tất cả đều là những thiếu nữ kiều diễm nhất thế gian, và cô nào cũng đẹp hơn tất thảy những cô còn lại’.
Dù thế nào đi nữa, chắc chắn là có năm nàng thiếu nữ tuổi từ mười lăm đến hai mươi mốt để lựa chọn. Thế nhưng ai có thể lý giải nổi sự thất thường của con người, nhất là trong những chuyện thế này? Cả ba chàng trai—Louis Dubarry, cùng John và William Berners—đều đem lòng dâng hiến ái tình cho Florette Mayo, nàng út xinh đẹp nhất.
Cuộc tranh giành giữa những kẻ si tình vô cùng gay gắt và cay đắng. Thế nhưng thiếu nữ ấy lại đáp lại tình yêu của John Berners, nên duyên với chàng, và trở thành tổ mẫu của cô, Sybil ạ, như cô đã biết.
Và kể từ dạo đó cho đến khi nhánh gia tộc Dubarry ở châu Mỹ tuyệt diệt, một mối thù hằn gay gắt và cay đắng chẳng kém gì những cuộc giao tranh giữa các nam tước thời trung cổ, đã ngự trị giữa hai nhà Berners và Dubarry.
Ta giờ đây xin kể đến thời kỳ ngay trước thềm Chiến tranh Pháp-Ấn, khi những túp lều đá thô sơ thuở ban đầu đã nhường chỗ cho các trang viên bề thế, rộng rãi, và khi vị chủ nhân lúc bấy giờ của điền trang Dubarry đã cho dựng lên một dinh thự lộng lẫy ngay trên nền tảng của túp lều tranh thuở trước. Ông đặt tên cho cơ ngơi ấy là Chateau Dubarry, một cái tên mà người dân quê nhanh chóng đổi thành Shut-up Dubarry (Trang viên Khép kín).
Cái tên sau quả thực rất xứng, bởi chẳng có ai sống khép kín, cộc cằn và ghét bỏ loài người hơn Henry Dubarry, kẻ đã xây nên ngôi nhà ấy. Ông ta chẳng bao giờ đi thăm viếng hay tiếp đón ai, mà ích kỷ giam mình trong thiên đường nghệ thuật và chữ nghĩa mà chính tay ông đã tạo dựng nên bên trong mái ấm.
Ông có một người vợ, một con trai và hai con gái, tất cả đều phải chịu đựng ít nhiều sự cô lập khỏi đồng loại ấy. Thế nên đó là một sự giải thoát lớn lao cho người con trai khi cậu được cử đi học, trước hết là tại Cao đẳng William and Mary ở Williamsburg trong năm năm, rồi sau đó tiếp tục tại Oxford thêm năm năm nữa.
Sau khi người con trai và cũng là người em trai rời đi, người mẹ cùng hai cô con gái càng lúc càng phải chịu đựng nỗi kinh hoàng và u ám của sự cô lập, để rồi qua năm tháng, họ hoàn toàn gục ngã trước nó. Trước tiên là người mẹ qua đời, rồi đến người chị; và cuối cùng là cô em gái, bị bỏ lại một mình cùng người cha độc hạnh trong ngôi nhà đáng sợ ấy, đã phát điên.
Trong hoàn cảnh đó, người cha bèn viết thư gọi con trai trở về. Nhưng ích kỷ, chứ không phải tình thân, mới là thứ ngự trị tâm hồn chàng trai trẻ, y như cách nó từng chi phối các bậc tiên tổ. Cậu đã tốt nghiệp với tấm bằng danh dự, giành được một suất học bổng tại trường đại học, và đang chuẩn bị khởi hành cho chuyến du lịch thời thượng vòng quanh châu Âu. Cậu viết thư về nhà từ chối, rồi tiếp tục bước chân đi.
Cậu ở lại nước ngoài cho đến khi bị triệu hồi bởi hai sự kiện—cái chết của cha và em gái, cùng nhu cầu phải xoay sở tiền bạc cho bản thân.
Cậu trở về, nhưng không đi một mình. Cùng về với cậu là một sơn nữ có vẻ đẹp lạ lùng, người dường như gắn bó tha thiết với cậu, và cũng được cậu yêu thương hết mức có thể trong bản tính ích kỷ của mình.
Cậu đặt nàng vào vị trí người đứng đầu gia đình, những người hầu phác thực tuân lệnh nàng như nữ chủ nhân; và những người hàng xóm cởi mở, sẵn sàng bỏ qua những lời cự tuyệt trước kia, đã đến thăm cặp đôi trẻ.
Nhưng những chuyến viếng thăm ấy chẳng hề được đón tiếp niềm nở, và tuyệt nhiên không được đáp lễ. Khắp vùng râm ran lời đồn rằng Philip Dubarry cũng cộc cằn và ích kỷ chẳng khác gì người cha quá cố. Thế là ngôi nhà lại bị bỏ hoang, y như những ngày tháng của lão già và cô gái khùng thuở trước.
Rồi dần dà, những lời đồn đại khác, đen tối và bất lợi hơn cho người chủ nhân lẫn tình nhân của Shut-up Dubarry, bắt đầu rò rỉ trong dân chúng. Những lời đồn này do chính gia nhân nhà Dubarry buột miệng trong lúc trò chuyện với người hầu các nhà khác khi tình cờ gặp nhau ở nhà thờ hay tụ điểm trong làng. Rằng Philip Dubarry thường xuyên cãi vã kịch liệt với người vợ người digan, thậm chí còn đe dọa tống cổ nàng về quê cũ; còn Gentiliska—hay thường được gọi là Iska—thì lúc khóc lóc, khi gào thét, đoạn tự bứt tung mái tóc đen của mình.
Đó vẫn là câu chuyện buồn muôn thuở, Sybil thân mến ạ. Cuối cùng thì vị học giả uy bác kiêm kẻ vô lại không có lấy một chút luân lý ấy cũng cảm thấy chán ngấy người vợ digan xinh đẹp nhưng dốt nát của mình—một người vợ chỉ trọn vẹn về mặt đạo lý chứ chẳng có danh phận pháp lý nào. Càng ngày hắn càng vắng nhà lâu hơn. Hắn dành mùa đông ở các thành phố lớn và mùa hè cho những chuyến chu du khắp các điền trang hiếu khách, bỏ mặc nàng suốt bốn mùa phải mòn mỏi khóc than, hoặc gào thét xé tóc trong nỗi cô đơn u ám của Shut-up Dubarry. Dù vậy, mỗi khi hắn hạ cố trở về nhà, nàng vẫn đón tiếp hắn bằng sự hồ hởi khôn cùng—một sự phó mặc trọn vẹn cho niềm vui không bờ bến. Và để rồi khi hắn quay lưng rời đi, nỗi tuyệt vọng của nàng lại càng sâu sắc, nỗi đau đớn lại càng cào xé dữ dội hơn. Tất cả những điều đó đều được ghi nhận tường tận bởi đội ngũ thông tín viên cần mẫn bậc nhất: chính là lũ gia nhân trong nhà.
Cuối cùng thì thời khắc khủng hoảng cũng đã điểm. Philip Dubarry phái một tên quản lý về mở toang các cánh cửa của Shut-up Dubarry, kéo theo một đội ngũ thợ thuyền đến để sửa sang, trang hoàng và sắm sửa lại toàn bộ dinh cơ. Mặc sức Gentiliska gặng hỏi, đám thợ thuyền hoặc không thể hoặc không thèm giải thích cho nàng thỏa đáng. “Đó là lệnh của chủ nhân,” bọn chúng đáp gọn lỏn và không nói gì thêm. Với người vợ digan trung thành ấy, mệnh lệnh của “chủ nhân” là thứ thiêng liêng hơn bất cứ điều gì trên đời. Nàng cúi đầu khuất phục, để mặc đám thợ muốn làm gì thì làm. Toàn bộ mùa hè bị cuốn vào công trình ấy. Thế nhưng đến mùng Một tháng Mười, ngôi nhà đã được tân trang hoàn toàn từ trong ra ngoài, trông tựa như một cung điện giữa chốn bồng lai tiên cảnh; và người vợ digan lang thang khắp dinh thự cùng khu vườn với niềm vui sướng chỉ bị vẩn đục đôi chút bởi sự vắng bóng kéo dài của người chồng.
Cuối cùng, vào khoảng giữa tháng, giữa lúc mùa săn bắn đang hồi sôi động nhất, Philip Dubarry đã trở về. Thế nhưng sự đón chào nồng nhiệt của người vợ lại vấp phải thái độ lạnh lùng, cáu kỉnh khiến nàng vừa tổn thương vừa tức giận. Nàng chìm nghỉm trong cơn bão đau thương và cuồng nộ. Nàng khóc lóc, gào thét và bứt tóc như thói quen mỗi khi bị kích động mạnh. Nhưng lần này hắn chẳng hề dành cho nàng chút kiên nhẫn hay lòng thương hại nào. Hắn đã cạn sạch tình cảm và chẳng còn muốn giữ nàng bên mình nữa, thế nên bộc lộ bản tính ích kỷ và quỷ quyệt của một kẻ tiểu nhân, hắn chẳng ngần ngại đối xử với nàng bằng sự khinh miệt và nhục mạ tàn nhẫn. Hắn bảo rằng nàng vốn chẳng phải là vợ hắn, và chưa bao giờ là vợ hắn cả. Hắn thóa m xiểm xiết, quát bảo nàng dọn đồ cuốn xéo đi đâu mặc kệ, miễn là khuất mắt hắn bởi hắn căm ghét nàng; phải cút khỏi ngôi nhà này nữa, vì sự hiện diện của nàng làm uế tạp nó; và rằng sau khi được sửa sang, dọn dẹp, dinh cơ này cũng cần phải được tẩy uế khỏi sự tồn tại của nàng trước khi hắn đón vị tiểu thư khuê các mà hắn sắp cưới về làm vợ bước chân vào cửa.
Nghe đến đây, cơn thịnh nộ trong nàng bỗng chốc lắng xuống, nhường chỗ cho sự bình tĩnh và quyết tâm đến chết. Nàng quả quyết với hắn rằng nàng sẽ chẳng bao giờ rời khỏi ngôi nhà này; rằng nàng chính là vợ hắn, là nữ chủ nhân của dinh cơ; nàng có quyền ở lại và nhất định sẽ ở lại. Ngay lập tức, hắn nổi giận lôi đình, thề thốt nếu nàng không chịu cút đi, hắn sẽ dùng vũ lực tống cổ nàng ra ngoài. Bấy giờ, nàng cất lời đáp lại bằng những câu nói bất hủ đã được lưu truyền qua bao thế hệ:
“Xác thịt này anh có thể quẳng ra khỏi nhà, chứ linh hồn ta thì đừng hòng! Dù sống hay chết, dù ở dạng thể xác hay linh hồn, ta sẽ ở lại ngôi nhà này cho đến khi những bức tường kia sụp đổ! Ngay cả khi anh đập nát ngôi nhà này để đuổi ta đi, dù là thể xác hay linh hồn, ta vẫn sẽ bước vào và chiếm lấy ngôi nhà tiếp theo mà anh xây dựng! Và nếu anh cả gan đưa đến đây, hay bất cứ đâu, một nàng dâu mới nhằm thay thế ta, dù ở thể xác hay linh hồn, ta cũng sẽ nguyền rủa và hủy diệt ả. Nguyện xin các vị thần của dân tộc ta chứng giám cho lời thề này!”
Trong khoảnh khắc, kẻ nhẫn tâm và gan lì ấy chợt chùn bước trước khí chất đáng sợ bùng lên từ thân hình mảnh mai ấy. Nhưng khi trấn tĩnh lại, hắn chìm đẵm trong cơn cuồng nộ, lao đến túm lấy người thiếu nữ rồi thô bạo hất văng nàng qua ô cửa sổ đang mở rộng. May thay, họ đang ở tầng trệt nên cú ngã không quá cao, vả lại nàng lại có vóc dáng nhẹ nhàng, linh hoạt như loài mèo. Nàng rơi xuống thảm lá khô dày đặc rải rác trên thảm cỏ.
Nàng nằm lặng ở chỗ vừa ngã xuống trong giây lát, hơi thở đứt quãng vì chấn thương; rồi mới từ từ nhấc người dậy. Một bên tay thõng xuống bất động; khớp vai nàng đã bị trật; nhưng tay kia giơ cao hướng lên trời, miệng lầm bầm vài câu bằng tiếng mẹ đẻ rồi quay lưng bước đi khuất dạng vào chốn thâm sơn cùng cốc.
“Mong rằng ả sẽ nhảy xuống sông tự vẫn cho đúng bài bản, thế là hết chuyện,” kẻ ác độc rủa xả. Không một ai được phép đuổi theo nàng. Có lẽ nàng thực sự đã tự vẫn, nhưng đó hoàn thế không phải là hồi kết. Người ta đồn rằng cô gái digan đã giữ trọn lời thứa của mình.
Ngày thứ ba sau đó, khi một cậu bé đang tìm kiếm trứng đại bàng trên những mỏm đá hiểm trở nhất của rặng Black Mountain, ánh mắt cậu chợt bị thu hút bởi sắc đỏ chói lọi vắt vẻo trên một gờ đá lưng chừng dòng thác Black Torrent. Linh hoạt như một thợ săn sơn dương trên dãy Alps, cậu bé bám vào các mỏm đá trèo xuống từng đoạn một cho đến khi chạm tới gờ đá, nơi thi thể của cô gái digan đang nằm bất động. Xác nàng đã dập nát sau cú ngã và ngấm đầy dòng bọt trắng xóa từ ngọn thác tuôn trào không dứt.
Cậu bé hoảng hốt chạy đi loan tin. Phải mất vô vàn khó khăn, thi thể ấy mới được đưa lên và chuyển về trang viên Shut-up Dubarry. Cuộc điều tra của bồi thẩm đoàn đưa ra một kết luận vô cùng đơn giản: “Tìm thấy đã chết”; bởi vì cái chết là do tai nạn hay tự vẫn, hay do cú ngã xuống đá, hay do dòng nước thác xiết, thì đám bồi thẩm đoàn cù bất cù bơ ấy chẳng tài nào phân định nổi.
Thi thể cô gái digan được đem chôn cất; còn kẻ bảo hộ tàn bạo của nàng thì không ngần ngại thô lỗ tuyên bố bản thân cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng trước cái chết đó. Hắn triệu tập toàn bộ gia nhân đến trước mặt, nghiêm cấm họ—với lời đe dọa sẽ giáng xuống cơn thịnh nộ khủng khiếp nhất—tuyệt đối không được nhắc đến cái tên Gentiliska trước mặt người phụ nữ mà hắn sắp đón về làm vợ. Những kẻ hầu kẻ hạ thừa biết bản tính chủ nhân, nên trong nỗi sợ hãi tột cùng, tất cả đều đồng thanh trang trọng thề sẽ tuân lệnh. Sau đó, hắn rời nhà đi về miền đông của tiểu bang để đón vị hôn thê. Chuyến đi này kéo dài trọn một tháng trời.
Đúng vào giữa tháng Mười một, hắn trở về Shut-up Dubarry, mang theo người vợ trẻ xinh đẹp. Nàng xuất thân từ dòng họ Fairfax, thuộc vùng hạt được đặt theo tên gia tộc ấy. Nàng đích thực là một quý cô cao sang, thuần khiết bậc nhất, và tầng lớp quý tộc láng giều vốn luôn hào hứng chào đón những con người như thế, đã đến thăm viếng, mời nàng tới dinh thự của họ và tổ chức những bữa tiệc tối linh đình để vinh danh nàng.
Philip Dubarry, kẻ từng cảm thấy bức bối trước xiềng xích “ghẻ lạnh” mà vì mối tình thoáng qua với cô gái digan hắn đã tự tròng vào cổ, giờ đây khấp khởi mừng vui vì được giải thoát, liền hào hứng lao vào chốn vui chơi hội hè với niềm thích thú của sự đổi mới. Hắn đem lòng yêu thương người vợ xinh đẹp, danh giá bằng cả niềm đam mê lẫn sự kiêu hãnh; còn nàng thì tôn thờ một người hùng tưởng tượng mang hình hài hắn, và ngập tràn hạnh phúc trong ảo ảnh ấy. Cứ thế, mọi thứ trôi đi vui vẻ như tiếng chuông ngày cưới cho đến một ngày tháng Mười u ám, khi những trận mưa xối xả trút xuống, gió hú hét quanh ngôi nhà, và thời tiết khắc nghiệt buộc đôi vợ chồng son phải giam mình trong bốn bức tường, cô dâu chợt quay sang hắn, nhẹ nhàng cất tiếng hỏi:
“Cô bé tóc đen nào với đôi mắt sắc lẹm và chiếc áo choàng đỏ ngắn củn mà em cứ thấy lảng vảng quanh nhà suốt thế anh?”
“Em nói gì cơ?” Philip Dubarry hỏi lại bằng giọng run rẩy.
“Cô bé mặc áo choàng đỏ ấy, kẻ có vẻ rất quen thuộc với ngôi nhà này là ai vậy? Em ấy bị câm điếc à? Em nói chuyện nhưng con bé chẳng bao giờ đáp lời; mà thường thì cứ thấy em chú ý là nó lại bỏ đi ngay. Em ấy là ai thế, Phil?” Và người vợ trẻ nhìn chồng chờ câu trả lời. Nhưng gương mặt hắn tái mét như xác chết, toàn thân run lẩy bẩy như trúng cơn rét rừng, bởi những kẻ có tật giật mình bao giờ cũng hèn nhát.
Thế nhưng người vợ lại hiểu lầm nguyên nhân cơn hoảng loạn của chồng. Nàng thoáng quên bẵng ngay câu hỏi vừa thốt ra—vốn dĩ chẳng mang theo ý định gì quan trọng—liền bước đến cầm tay chồng, đăm đăm nhìn vào mặt hắn và van nài vì ơn trên hãy nói cho nàng biết chuyện gì đang xảy ra.
Hắn bèn nói dối. Hắn lắp bắp qua hàm răng đang đánh lập cập rằng mình sợ bị lên cơn sốt rét; rằng sự thay đổi thời tiết đột ngột và khắc nghiệt đã hại hắn—và vô số điều tương tự thế.
Nàng vội vã chạy đi pha một ly rượu mạnh nóng hổi với nước sôi cùng các loại gia vị, rồi mang tới ép hắn uống.
Nhờ liều thuốc kích thích mạnh mẽ ấy, hắn hồi sức. Thế nhưng trong nỗi sợ hãi và bấn loạn lúc bấy giờ, nàng đã hoàn toàn quên mất câu hỏi từng đặt ra, và mọi chuyện đã chẳng bị nhắc lại nếu như chính hắn, vì quá hoảng sợ và tò mò, lại khơi mào chủ đề đó.
“Vừa nãy em có hỏi anh về... một người hầu nào đó phải không?” hắn dò hỏi.
“À, đúng vậy. Nhưng thôi, đừng bận tâm nữa! Ngồi yên đi, cứ để chân gần đống lửa cho đến khi người ấm lên đã. Bây giờ thì đừng bận tâm đến việc thỏa mãn sự tò mò ngốc nghếch của em nữa,” nàng ân cần đáp.
“Cơn rét của anh đã biến mất rồi, nhờ có tài chăm sóc khéo léo của em đấy! Nào có cơn sốt nào cưỡng lại được thứ nước uống ấm nóng của em cơ chứ? Nhưng giờ quay lại câu chuyện của em đi. Lúc nãy em hỏi gì nhỉ?”
“Ồ, chẳng có gì to tát đâu! Em chỉ hỏi xem cô bé mặc áo choàng đỏ là ai thôi, con bé cứ thầm lặng và rụt rè đến mức chẳng bao giờ đáp lời mỗi khi em bắt chuyện, lại luôn co rúm người bỏ chạy mỗi khi bị ai nhìn thấy.”
Tên khốn kiếp đang run lẩy bẩy ấy đã chuẩn bị sẵn lời dối trá. Hắn đáp:
“À! Nó là con của một gia đình nghèo trên núi, hay đến nhà mình xin thức ăn thừa; nhưng như em đã thấy đấy, nó rất nhút nhát; thế nên anh nghĩ em cứ mặc kệ nó thì hơn.”
“Vâng, nhưng anh có chắc là con bé đáng tin không? Bởi vì dù rụt rè trong những chuyện khác, nó lại đủ gan lờn để xông vào những khu vực riêng tư nhất của ngôi nhà, lại còn vào những thời điểm bất thường nhất ban đêm,” nữ chủ nhân nhận xét.
“Thật ư?” kẻ có tội lẩm bẩm bằng giọng đặc quánh như từ dưới mộ.
“Thật chứ, quá thật là đằng khác! Đơn cử như tối qua thôi, lúc chúng ta về nhà vào lúc nửa đêm từ bữa tiệc của phu nhân thẩm phán Mayo, khi anh còn nán lại dưới nhà để nói chuyện với quản gia, còn em chạy một mình lên phòng riêng, em đã tận mắt nhìn thấy sinh vật kỳ lạ với mái tóc đen xõa tung và chiếc áo choàng đỏ ấy đang đứng trước bàn trang điểm của em đấy! Giờ thì anh tính sao về chuyện đó nào?”
“Nó... nó... con bé vốn là một đứa được gia đình nuông chiều từ nhỏ, nên quen chân chạy nhảy khắp nhà, ra vào mọi căn phòng vào bất cứ giờ giấc nào chẳng khác gì một con chó nhỏ,” tên tội phạm mang mặc cảm tội lỗi ngụy biện bằng giọng run rẩy.
“Thói quen đó phải được chấn chỉnh ngay lập tức!” vị phu nhân nhà Fairfax tuyên bố, ngẩng cao đầu với vẻ đầy uy quyền và có lẽ cả chút ghen tuông nghi kỵ.
“Chắc chắn rồi, thưa em! Anh sẽ ra lệnh chấn chỉnh ngay,” Philip Dubarry run rẩy đáp.
“Thôi, anh đừng bận tâm lo việc đó. Chỉnhốn gia thất vốn là đặc quyền của em, và em sẽ tự lo lấy,” nàng kiêu hãnh đáp.
Và mọi chuyện lẽ ra đã dừng lại ở đó, nếu như bản thân Philip Dubarry không quá bận tâm đến vấn đề này. Hắn nhớ lại lời nguyền rủa khủng khíp nhất của người vợ digan bị phản bội: “Dù ở thể xác hay linh hồn, ta sẽ ở lại ngôi nhà này cho đến khi những bức tường sụp đổ! Dù ở thể xác hay linh hồn, ta sẽ nguyền rủa và hủy diệt nàng dâu mà hắn đưa về thay thế chỗ của ta!” Cho đến lúc này, hắn chưa từng có lý do gì để cho rằng cô gái digan đã giữ lời hứa. Hắn chưa từng thấy hay nghe bất cứ điều gì bất thường trong ngôi nhà. Nhưng giờ đây, khi người vợ nhắc đến vị khách không mời mà đến mặc áo choàng đỏ này, hắn nhận ra ngay hình bóng quen thuộc ấy, và tâm hồn tội lỗi của hắn chìm trong nỗi kinh hoàng. Dù vậy, hắn không phải là kẻ mê tín. Hắn là một đứa con của thế kỷ mười tám—thời đại vốn hoài nghi chuyện siêu nhiên hơn nhiều so với thế kỷ mười, dẫu cho thế kỷ sau có lắm hiện tượng tâm linh huyền bí đến đâu chăng nữa. Hắn là một con người thực tế và mang tư duy khoa học. Thế nhưng hắn vẫn run lên bần bật khi lắng nghe những mô tả của người vợ vô tình về vị khách kỳ lạ này. Và hắn không tài nào kìm chế được việc phải gặng hỏi thêm.
“Em có nói chuyện với con bé khi bắt gặp nó trong phòng mình lúc nửa đêm không?” hắn hỏi.
“Có chứ, đương nhiên rồi; em hỏi tại sao nó lại bén mảng tới đó muộn thế. Nhưng thay vì trả lời, nó cứ thế lặng lẽ lướt đi.”
“Em đã nói với bất kỳ người hầu nào về việc con bé này bén mảng vào những khu vực không phận sự trong nhà chưa?”
“Chưa, mãi tận sáng nay em mới nói; bởi vì trước đó em chẳng đời nào thèm để tâm đến một sinh vật nhỏ bé mà em chỉ tình cờ chạm mặt ngoài hành lang, cho đến khi tận mắt thấy nó trong phòng ngủ của mình lúc nửa đêm. Thế nên sáng nay em đã miêu tả hình dáng nó cho bà quản gia nghe, hỏi xem nó là ai và kẻ nào cho phép nó bén mảng vào phòng ngủ của em muộn màng như thế. Và anh đoán xem mụ Monica già đã trả lời sao nào?”
“Anh chịu đấy, sao mà biết được.”
“Mụ ta làm dấu thánh, rồi kêu lên: ‘Xin Chúa thương xót linh hồn tất cả chúng ta! Ngài đã nhìn thấy con bé rồi sao!’ Em bèn hỏi: ‘Nhìn thấy ai cơ?’ Nhưng mụ ta đáp: ‘Không có gì cả. Chẳng có ai đâu. Tôi đang lẩm cẩm gì thế không biết. Đầu óc chắc mụ mị cả rồi.’ Và em có gặng hỏi thế nào cũng chẳng thể moi thêm được câu trả lời nào thỏa đáng từ mụ ta. Thế nên em mới phải sang tìm anh để nghe giải thích. Và anh bảo với em rằng đó là Milly Jones, con của một gia đình nghèo trên núi, đến đây xin đồ ăn thừa và quần áo cũ. Được rồi. Từ nay về sau em sẽ chu cấp cho gia đình nghèo khổ trên núi ấy, vì em không muốn bất kỳ đồng loại nào trong tầm với của mình phải chịu cảnh đói nghèo; nhưng với điều kiện cô Milly Jones kia phải ở nhà giúp mẹ nấu nướng giặt giũ, thay vì cứ lang thang suốt ngày dài lẫn đêm thâu khắp các ngõ ngách trong cơ ngơi của một nhà quý tộc và chiếm đoạt phòng ngủ của nữ chủ nhân.”
Cô dâu này, như bạn thấy đấy, chưa bao giờ mảy may tưởng tượng ra bóng ma, mà thay vào đó lại kịch liệt nghi ngờ chuyện tình ái trăng hoa, thế nên nàng vô cùng ngạc nhiên khi nghe chồng đáp:
“Cứ làm theo ý em đi, cưng ạ; và cầu xin ơn trên giúp em tống khứ vị khách phiền toái này một đi không trở lại.”
Vừa nói, Philip Dubarry vừa đứng dậy bước vào phòng làm việc, giật chuông gọi người hầu, rồi ra lệnh cho kẻ vừa ló mặt:
“Bảo mụ quản gia Monica vào đây ngay.”
Chỉ vài phút sau, Monica bước vào phòng.
“Ta đã chẳng ra lệnh cho ngươi, với hình phạt là cơn thịnh nộ tột cùng của ta, tuyệt đối không được phép làm phiền phu nhân Dubarry dù chỉ bằng một lời nhắc đến cái tên của cô gái digan đó sao?” Philip Dubarry nghiêm giọng chất vấn.
Mụ già lập tức quỳ sụp xuống, giáng hai tay lên trời và kêu lên:
“Ôi thưa chủ nhân, quả thực tôi có hé răng nửa lời nào đâu, một chút cũng không! Nhưng có ích gì đâu, vì cô ta cứ đi lại vất vưởng đấy chứ!”
“Ai đi lại vất vưởng hả, mụ già điên rồ kia?”
“Cô ta, thưa chủ nhân, cô gái digan ấy. Cô ta cứ đi lại vất vưởng, và phu nhân cũng nhìn thấy cô ta chẳng khác gì chúng tôi!”
“Chúng tôi? Ngươi gọi ai là ‘chúng tôi’, cái đồ ngu ngốc không thuốc chữa này?”
“Là tôi, với Ben gia nhân, Betty hầu phòng, và Peggy tiếp khách nữa. Ai cũng thấy hết, thưa chủ nhân. Trước khi phu nhân được rước về đây, chẳng ai trong chúng tôi nhìn thấy cô ta bao giờ; nhưng từ dạo đó trở đi, ngày nào chúng tôi cũng chạm mặt; chúng tôi thấy cô ta cứ như hồi cô ta còn sống sờ sờ vậy!” mụ quản gia vừa bò lết vừa nức nở khóc than đáp.
“Các ngươi nhìn thấy ở đâu, hay tự tưởng tượng ra thế, hả đồ tâm thần?” Philip Dubarry gầm lên giận dữ.
“Khắp mọi nơi, thưa chủ nhân! Chúng tôi đụng độ cô ta ngoài cầu thang; thấy cô ta ngồi chễm chệ ở đầu bàn ăn ngay khi dọn tiệc xong, trước cả lúc phu nhân đến chỗ ngồi; rồi chúng tôi còn thấy cô ta nằm trên những chiếc giường chưa dọn vào buổi sáng; nhưng hễ cứ thấy chúng tôi hét lên—bởi làm sao mà không hét được khi chạm trán thứ đó chứ, thưa chủ nhân—thì cô ta lại biến mất tăm!” mụ quản gia mếu máo khai.
Philip Dubarry cảm thấy chột dạ, gần như câm lặng—gần như thôi, chứ chưa hẳn, bởi hắn vốn là kiểu anh hùng càng hoảng sợ bao nhiêu lại càng hung hăng chèn ép kẻ khác bấy nhiêu. Hắn cố trấn tĩnh lại.
“Nghe đây!” hắn cuồng nộ gầm lên; “Tất cả những chuyện nhảm nhí và quái đản mà ngươi vừa bịa đặt kia hoàn toàn là những lời dối trá tởm lợm và tồi tệ nhất! Và giờ thì mở tai ra mà nghe cho rõ đây! Nếu ta còn nghe thấy bất kỳ ai trong số các ngươi thốt ra dù chỉ một lời về chủ đề này trong hay ngoài ngôi nhà này, dưới bất kỳ hoàn cảnh nào đi nữa, thì thề có máu của ta, ta sẽ khiến tất cả tụi mày phải ước rằng bản thân chưa từng sinh ra trên đời! Hãy truyền đạt lại điều này cho lũ gia nhân khác, và thay mặt ta cấm tiệt chúng không được bép xép nữa. Biến đi!” hắn quát thẳng vào mặt mụ già tội nghiệp, khiến mụ ta vội vã lồm cồm bò dậy rồi cắm cổ chạy thục mạng ra khỏi phòng.