Trong mấy chục năm Đại Đường Đế quốc mở rộng bờ cõi, chiếm lĩnh thành trì trên phạm vi toàn cầu và phát triển các vùng lãnh thổ hải ngoại, triều đình đã thử nghiệm qua rất nhiều phương thức khác nhau.
Ví dụ như trong việc chiếm đoạt các vùng lãnh thổ hải ngoại, các phương thức mà Đại Đường áp dụng vô cùng đa dạng, thậm chí có thể nói, cách thức Đại Đường chiếm lấy mỗi nơi đều có sự khác biệt.
Chẳng hạn như vùng lãnh thổ hải ngoại sớm nhất là đảo Mindanao, Đại Đường trực tiếp xem nơi này như đảo hoang, sau đó tiến hành di dân khai khẩn.
Thế nhưng ở đảo Đông Đan thuộc tỉnh Banten, khi mưu tính chiếm Banten, Đại Đường lại chọn cách để Công ty Tây Dương Đại Đường ký kết hiệp nghị với Vương quốc Banten tại địa phương, trực tiếp mua lại một vùng đất.
Về sau ở những nơi khác, Đại Đường cũng thử nghiệm các hình thức thuê mướn như thời hạn mười năm, năm mươi năm, một trăm năm, một nghìn năm hoặc cho thuê vĩnh viễn. Phương thức khiến thổ dân địa phương đồng ý cho thuê cũng có đủ loại: từ thương lượng hữu nghị, dùng vũ lực ép buộc, hay thậm chí là tự biên tự diễn. Những nơi này đa phần tồn tại ở những vùng mà thổ dân khá hung hãn, hoặc là nơi Đại Đường còn có điều kiêng dè, ví dụ như khu vực châu Âu, Đế quốc Ottoman.
Các khu tô giới cảng biển, khu sứ quán của Đại Đường Đế quốc tại khắp nơi ở châu Âu, phổ biến đều áp dụng phương thức thuê mướn hoặc mua lại.
Thuê mướn hoặc mua lại vẫn còn là cách tốt, phần lớn thời gian, Đại Đường đều coi nơi đó là đất vô chủ, rồi sau đó mới kéo tới lập các cứ điểm di dân.
Còn ở một số khu vực khác thì thông qua đủ loại hình thức cắt nhượng đất đai.
Ví dụ như Ceuta và Baku, hai nơi này chính là điển hình của việc cắt nhượng.
Cho nên, thủ đoạn của Đại Đường để đạt được các vùng lãnh thổ hải ngoại là vô cùng đa dạng, bao gồm nhưng không giới hạn ở các phương thức thuê mướn, mua lại, cắt nhượng v.v.
Tương tự như vậy, khi Đại Đường Đế quốc khai khẩn những vùng lãnh thổ hải ngoại này cũng áp dụng các phương thức khác nhau, thường là mỗi nơi mỗi khác, tùy theo từng địa phương mà có một bộ phương pháp riêng.
Ví dụ như khu vực các đảo Nam Dương, Đại Đường áp dụng phương thức từng bước bản địa hóa, cuối cùng thực hiện bản địa hóa toàn diện.
Còn ở bán đảo Nam Dương, triều đình lại chọn cách di dời các nước sở tại đi nơi khác, rồi trực tiếp coi toàn bộ bán đảo Nam Dương là bản thổ để di dân khai khẩn kinh doanh.
Mà các vùng mới chiếm đóng như Tây Bắc, thậm chí còn lược bỏ cả quá trình bản địa hóa, thường là trực tiếp thiết lập tỉnh, đưa vào phạm vi bản thổ đại lục.
Nhưng ở những vùng hải ngoại khác thì lại không giống vậy, ví dụ như đảo Ceylon, nơi này thuần túy được kinh doanh như một căn cứ quân sự siêu cấp.
Còn trong rất nhiều vùng lãnh thổ hải ngoại ở Ấn Độ, ngoại trừ một phần nhỏ hạn chế thổ dân địa phương tiến vào, thì phần lớn các vùng lãnh thổ hải ngoại thực tế không hề hạn chế sự tồn tại của thổ dân địa phương, mà duy trì mô hình thuộc địa kiểu người Tây Ban Nha. Trong khi ở sâu hơn trong nội địa Ấn Độ, lại áp dụng mô hình đại lý, thông qua các vị vua địa phương để cai trị gián tiếp.
Cho nên chính sách của Đại Đường tại khu vực Ấn Độ, thực ra không phải là di dân khai khẩn, mà lấy bóc lột thuộc địa làm chủ đạo.
Còn tại Đế quốc Ottoman và khu vực châu Âu, quy mô các thuộc địa tại những nơi kể trên thường khá nhỏ, đa số tồn tại dưới dạng căn cứ quân sự cảng biển ven bờ, không tiến hành di dân nhiều, tác dụng chính là đóng vai trò làm bàn đạp của Đại Đường tại địa phương. Đây không chỉ là bàn đạp quân sự, mà còn là bàn đạp để các loại hàng hóa Đại Đường ồ ạt tiến vào khu vực đó. Mô hình này có phần giống với mô hình thực dân của các liệt cường đối với khu vực Hoa Hạ đời sau, coi nơi đó là nơi tiêu thụ hàng công nghiệp, đồng thời gây ảnh hưởng toàn diện về ngoại giao, chính trị và quân sự.
Về phần khu vực châu Phi, ngoại trừ Nam Phi, những nơi khác Đại Đường cơ bản đều coi như không thấy. Những nơi khỉ ho cò gáy đó người Đại Đường không mấy mặn mà, nên mấy năm gần đây, Đại Đường đã biến vùng trung tâm châu Phi thành nơi an trí, dùng để sắp xếp cho mười hai nước Nam Dương bị di dời cùng với Vương quốc Đan Mạch.
Dùng lời của người Đại Đường mà nói chính là: Dĩ di chế di!
Để đám man di này tự đánh giết lẫn nhau, người Đại Đường chúng ta chỉ cần đứng phía sau bán vũ khí là được rồi.
Thế nhưng tại khu vực Nam Phi, lại vì phát hiện ra những mỏ vàng khổng lồ, vì vàng nên Đại Đường đã làm một việc đặc biệt, chuyên tâm thực hiện bản địa hóa cục bộ đối với Nam Phi.
Mà bản địa hóa cục bộ ở khu vực Nam Phi lại không giống với bản địa hóa cục bộ ở những nơi khác.
Những khu vực hiện đang tiến hành bản địa hóa cục bộ, bao gồm Baku, tỉnh Luzon, tỉnh Banten, một phần khu vực bang Malacca, đảo Ceylon v.v., chúng đều lấy toàn bộ một khu vực hoặc một hòn đảo để thực hiện bản địa hóa cục bộ.
Ví dụ như đảo Luzon, đảo Mindanao, đảo Banten, cảng Malacca.
Nhưng bản địa hóa cục bộ của Nam Phi lại chỉ giới hạn ở dọc tuyến đường sắt Nam Phi, không bao gồm toàn bộ Nam Phi, thậm chí cả bình nguyên Nam Phi hay cảng Nam Phi cũng không được liệt vào trong đó.
Bản địa hóa cục bộ của Nam Phi chỉ giới hạn trong phạm vi mười cây số dọc theo tuyến đường sắt Nam Phi và các khu vực khai thác mỏ vàng.
Nó còn được gọi là bản địa hóa cục bộ dọc tuyến đường sắt.
Dưới quyền cai trị của Đại Đường có nhiều lãnh thổ hải ngoại như vậy, nhưng chỉ có mỗi một nơi là Nam Phi có kiểu bản địa hóa cục bộ kỳ lạ này.
Mặc dù kỳ lạ, nhưng phương thức này lại mang đến một niềm hy vọng mới cho các quan lại thuộc Nha môn Sự vụ châu Mỹ cùng các thế lực quyền quý đã di cư sang Bắc Mỹ, đặc biệt là ba đại phiên vương và một bộ phận quý tộc.
Đó chính là thông qua phương thức bản địa hóa cục bộ dọc tuyến đường sắt để phá vỡ thế bí của việc bản địa hóa Bắc Mỹ.
Bản địa hóa Bắc Mỹ là một điều cấm kỵ, trước khi Đại Đường Đế quốc chưa chuẩn bị hoàn toàn tuyệt đối, đặc biệt là khi Thánh Thiên Tử chưa cho là đã chuẩn bị xong, thì tuyệt đối không thể thực hiện bản địa hóa được.
Cho dù tất cả mọi người ở Bắc Mỹ đã là thần dân Đại Đường, không còn một tên thổ dân nào nữa, cũng không thể thực hiện bản địa hóa.
Điểm này, người tầng lớp trên cơ bản đều biết rõ, cũng biết tại sao.
Cho nên chuyện bản địa hóa Bắc Mỹ, họ không trông cậy gì trong thời gian ngắn cả.
Thế nhưng họ vẫn muốn có được đường sắt.
Lý do mà phía bản thổ lo ngại thì ai cũng biết, chẳng qua là sợ Bắc Mỹ xây dựng lượng lớn nhà máy, cuối cùng xuất hiện tình trạng đuôi to khó vẩy mà thôi.
Vậy thì không làm cái trò bản địa hóa gì nữa, dù sao cũng không thể thông qua.
Họ chuẩn bị "đường vòng cứu quốc", tiến hành bản địa hóa cục bộ dọc tuyến đường sắt. Đến lúc đó đường sắt xây xong chưa nói, mà điều quan trọng là, tuyến đường sắt này dù khu vực có hơi nhỏ, nhưng dù sao vẫn là có đất, vẫn có thể xây dựng nhà máy như thường.
Cùng lắm thì xây nhà máy bao quanh tuyến đường sắt là được.
Thế là, Thánh Thiên Tử Lý Hiên vào tháng sáu năm Tuyên Bình thứ ba mươi tám đã nhận được bản kế hoạch xin phép trù bị xây dựng đường sắt do Nha môn Sự vụ châu Mỹ đệ trình.
Trong lần xin phép này, Nha môn Sự vụ châu Mỹ vẫn dùng một danh từ mới do chính họ tự sáng chế ra, gọi là: "Bản địa hóa chuyên dụng đường sắt".
Tất nhiên, tuy tên gọi khác nhau, nhưng cốt lõi vẫn là bản địa hóa cục bộ dọc tuyến đường sắt của Nam Phi.
"Bản địa hóa chuyên dụng đường sắt" mà Đốc biện Nha môn Sự vụ châu Mỹ đưa ra, về cơ bản không khác gì so với bản địa hóa cục bộ dọc tuyến đường sắt ở Nam Phi, đồng thời còn nói về tầm quan trọng của đường sắt đối với sự phát triển kinh tế Bắc Mỹ và đối với công dụng quốc phòng.
Đáng tiếc là, sau khi Thánh Thiên Tử Lý Hiên xem xong bản đề nghị này, liền trực tiếp phê rằng: Bắc Mỹ liên quan đến quốc bản, Trẫm tự có phương lược. Ngoài ra, kẻ này vọng nghị quốc bản, chuyển giao tư pháp tra xét xử lý.
Vô tuyến điện còn chưa làm ra được, trình độ kỹ thuật của quân nhu thiết bị cũng chưa nâng lên đến tầng thứ đầy đủ, bày đặt chơi trò bản địa hóa Bắc Mỹ cái gì chứ.
Còn muốn đường vòng cứu quốc, Trẫm chém đứt tay các ngươi luôn!