Huyện phái tới một tổ công tác đến giúp đỡ việc "nắm cách mạng, thúc sản xuất", tổ trưởng là Hoàng Quốc Bỉ tiêu với bộ râu quai nón và chiếc mũi cà chua đỏ chót vô cùng rõ rệt. Nhiệm vụ chính của Hoàng Quốc Bỉ vốn dĩ là giúp các xã viên phê phán Lâm Bão, đồng thời bảo cho các xã viên biết Lâm Bão đã mặc chung một chiếc quần với Khổng lão tứ từ hơn hai ngàn năm trước như thế nào. Xã viên đầu trọc Trịnh Quảng Phát vì tình trạng đỉnh đầu khá giống với Lâm Bão, cảm thấy hơi kiêng kỵ, bèn đưa ra một góc nhìn khác. Ông ta nói Lâm Bão là Phó Chủ tịch, ngày nào cũng có thịt ăn có rượu uống, không thể nào không có quần để mặc, lại càng không có chuyện mặc chung một chiếc quần với cái lão họ Khổng từ hơn hai ngàn năm trước đó. Các xã viên cười ồ lên, mọi người ngồi dưới bóng râm hàng liễu, kẻ thì ngoáy mũi, người thì gãi chân, lại có một số kẻ đang đùa nghịch với con ve s kêu râm ran không ngừng. Buổi phê phán được tổ chức cực kỳ qua loa, bách tính chẳng lấy làm hứng thú gì với việc nắm cách mạng, thứ mà họ quan tâm hơn chính là lương thực.
Nhiều năm sau, tôi mới biết cuộc cách mạng văn hóa chủ yếu là tranh quyền và phản tranh quyền, cách mạng ở tầng lớp thượng uyển thì còn có chút ý nghĩa, chứ đối với hàng triệu quần chúng nhân dân rộng lớn mà nói thì vô cùng tẻ nhạt. Việc học tập văn liệu chẳng qua chỉ là để trốn cái nắng gắt ban ngày, thế cho nên cứ đến mùa hè và những ngày đông giá rét, các xã viên lại cực liệt yêu cầu được phê phán Lâm Bão.
Hoàng Quốc Bỉ hầm hầm tức giận nói với cậu tôi là Trịnh Thiên Lương: "Giác ngộ của quần chúng quá kém, anh là thanh niên trí thức về quê, phải làm gương học tập tốt văn liệu, nắm chắc cương lĩnh."
Cậu tôi ngoài miệng thì vâng vạ nhưng hành động thực tế lại khá tiêu cực, bởi vì tuy cậu là bác sĩ thú y của đại đội, nhưng phạm vi nghiệp vụ của cậu trên thực tế đã mở rộng ra toàn công xã, công việc hoạn trứng bò đực bận rộn không sao xuể. Sau mấy lần cậu vắng mặt trong các buổi họp phê phán, có lần trước mặt đại đội trưởng Trần Căn Sinh, Hoàng Quốc Bỉ đã mắng nhiếc cậu tôi một trận tệ hại: "Trịnh Thiên Lương, tư tưởng thái độ của anh có vấn đề lớn lắm, chỉ lo đi theo con đường chuyên môn mà không có hồng tâm, làm một tên uy quyền kỹ thuật, dây thần kinh đấu tranh giai cấp trong đầu đã đứt sạch cả rồi. Cứ tiếp tục thế này nữa, tôi sẽ bảo người đưa anh lên huyện để mở lớp học tập!"
Cậu tôi sợ đến mức trên trán toát ra mồ hôi hột, theo chỉ thị của đại đội trưởng Trần Căn Sinh viết một bản kiểm điểm đưa cho tổ công tác mới coi như qua cửa.
Vào buổi chiều ngày cậu thận trọng học tập văn liệu ấy, Trương Nhị Hòe đội sản xuất Hồng Miên hớt hơ hớt hải chạy đến gọi cậu tôi. Một con bò mộng đang cày ruộng ở đội Hồng Miên bị tiêu chảy cấp, đã ngã khụy xuống rồi. Cậu tôi nghe xong, kẹp chiếc hòm thuốc chạy đi ngay. Hoàng Quốc Bỉ đang giảng đến đoạn "Công tác chính trị là đường lối sinh mệnh của mọi công tác", liền ra lệnh cho cậu tôi: "Không được phép đi!"
Đợi đến chập tối khi cậu tôi chạy đến tiểu đội Hồng Miên thì con bò mộng đang độ tráng kiện ấy đã tắt thở rồi. Trương Nhị Hòe nuôi bò ôm lấy đầu bò đấm ngực dậm chân khóc lóc thảm thiết. Hoàng Quốc Bỉ sẽ không thể biết được, một con bò cày ở nông thôn còn quan trọng hơn cả một mạng người. Mùa đông năm ngoái, đội sản xuất Tiền Miếu chết một con bò cày, người chăn bò là Tiền Triêu Quý đã thắt cổ tự tử, thế nên cậu tôi hễ cứ nghe thấy bò bệnh là cắm cổ chạy ngay.
Hôm sau, đội Tiền Miếu lại có người đến gọi cậu tôi. Mười tám con heo của đội sản xuất bị trúng nắng không chịu ăn uống gì nữa, cậu tôi xin phép đại đội trưởng Trần Căn Sinh. Trần Căn Sinh nhìn sang Hoàng Quốc Bỉ, Hoàng Quốc Bỉ vô cùng quyết đoán phun ra hai chữ: "Không được."
Cậu tôi vốn dĩ ôn hòa cuối cùng cũng đỏ ngầu cả mắt, làm tới bến với Hoàng Quốc Bỉ ngay tại buổi họp học tập văn liệu. Cậu ném cái hòm thuốc cũ kỹ lên đống văn liệu trước mặt Hoàng Quốc Bỉ: "Các ông lớn trong thành phố các người có còn chút tình cảm giai cấp nào với quần chúng nhân dân nữa không? Bò đội Hồng Miên đã chết rồi, lại còn muốn đội Tiền Miếu chết thêm mấy chục con heo nữa mới vừa lòng, rắp tâm cái gì hả?"
Hoàng Quốc Bỉ sững sờ, chòm râu trên miệng rỉ ra rất nhiều mồ hôi giữa bầu trời oi bức của mùa hè. Đột nhiên, ông ta phản ứng lại thật nhanh từ cuộc tập kích bất ngờ không đề phòng, liền dằn mạnh tay vỗ bàn cái rát: "Dân binh nòng cốt đâu? Trói Trịnh Thiên Lương lại cho tôi, tôi có thể khép hắn vào tội phản cách mạng hiện hành ngay bây giờ."
Thế nhưng bên dưới chẳng có chút động tĩnh nào, hiện trường cứng đờ lại, không khí cũng như đông đặc lại.
Cậu tôi mang dáng vẻ hiên ngang lẫm liệt như Lý Ngọc Hoà trước giờ ra pháp trường chịu chết.
Trần Căn Sinh thì giống như một tên ngụy quân thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, một mặt cúi đầu khom lưng với Hoàng Quốc Bỉ, mặt khác lại hung hăng quát mắng cậu tôi: "Trịnh Thiên Lương, nếu anh không viết bản kiểm điểm chạm đến sâu thẳm linh hồn, tôi sẽ treo cổ anh lên cây mà quất!"
Thế nhưng cậu tôi xách hòm thuốc đi thẳng một mạch, không chút do dự biến mất trong ánh mắt phẫn nộ của Hoàng Quốc Bỉ.
Sau chuyện này, Hoàng Quốc Bỉ cũng cảm thấy vô cùng phiền muộn. Đấu tranh giai cấp trên huyện diễn ra sôi nổi như lửa đốt, thế mà ở nông thôn lại phẳng lặng như nước ao tù, bảo sao Chủ tịch Mao ngày xưa lại mở "Sở giảng huấn vận động nông dân". Giác ngộ của quần chúng quá kém, ngay cả một thanh niên trí thức về quê như Trịnh Thiên Lương mà cũng lạnh nhạt với cách mạng đến thế. Thế là ở dưới quê, ông ta vừa phải chịu đựng muỗi đốt, vừa hoài niệm cái cuộc sống hạnh phúc được thổi quạt máy ở nhà khách huyện. Hoàng Quốc Bỉ vốn là sở trưởng nhà khách huyện ủy, lần này được phái xuống đây làm tổ trưởng tổ công tác ở đại đội trọn một năm, hai thành viên trong tổ là nữ đồng chí do huyện và quận phái tới, chỉ biết đọc văn liệu chứ chẳng làm nổi việc lớn gì.
Trần Căn Sinh liền nói với Hoàng Quốc Bỉ: "Tổ trưởng Hoàng, quần chúng giác ngộ kém, tôi cũng có trách nhiệm. Nói thật nhé, bách tính chỗ chúng tôi mấy trăm năm nay chưa từng có kẻ xấu nào giết người phóng hỏa, căng lắm thì chỉ có vài kẻ trộm gà bắt chó, độ khó của đấu tranh giai cấp quả thực rất lớn."
Tổ công tác ở trụ sở đại đội, tự nhóm củi nấu cơm, không lấy một kim một chỉ của quần chúng. Trần Căn Sinh mang đến cho Hoàng Quốc Bỉ hai con cá để bày tỏ sự quan tâm, Hoàng Quốc Bỉ chiểu theo quy định trả ba hào bốn xu tiền.
Trần Căn Sinh nói với Hoàng Quốc Bỉ: "Tổ trưởng Hoàng, anh là cán bộ lãnh đạo trên huyện, có thể kiếm cho chúng tôi ít phân hóa học từ nhà máy phân bón của huyện được không? Tốt nhất là giá cả rẻ một chút. Như vậy là anh vừa 'nắm cách mạng' lại vừa 'thúc sản xuất' cho chúng tôi rồi."
Hoàng Quốc Bỉ tự mình đa tình vỗ ngực nói: "Không thành vấn đề."
Hoàng Quốc Bỉ đã đánh giá quá cao năng lực của mình. Vào thời điểm đó, phân bón bị hạn chế sản xuất, chỉ tiêu phân bổ đến từng công xã, rồi lại phân đến từng đại đội, từng đội sản xuất. Chính quyền trên huyện dăm ba bữa lại đổi người, bí thư huyện ủy mới thì ông ta còn chưa quen biết, muốn kiếm một hai phân hóa học là điều bất khả thi.
Hoàng Quốc Bỉ tìm được một phó chủ nhiệm ủy ban cách mạng huyện quen biết, vị phó chủ nhiệm cấp cho giấy phê duyệt mười hai tấn nước am-ni-ắc từ nhà máy phân bón. Nước am-ni-ắc là nước thải trong quá trình sản xuất phân bón, mỗi tấn chỉ có ba đồng tiền, mùi hắc xộc lên mũi, bay hơi rất nhanh, sau khi dùng túi cao su kéo về lẽ ra phải lập tức tát ngay xuống ruộng mạ.
Hoàng Quốc Bỉ tự chủ trương nói: "Đổ vào hố phân ủ chung với nhau, hiệu lực phân bón sẽ cao. Đây gọi là canh tác khoa học."
Trần Căn Sinh và những người khác đương nhiên chẳng hiểu gì về khoa học, bèn đem nước am-ni-ắc đổ hết vào các hố phân để ủ, bên trên còn trát thêm một lớp phân bò.
Ba ngày sau, quả nhiên toàn bộ ngôi làng đều ngửi thấy mùi hắc nồng nặc do nước am-ni-ắc lên men lan tỏa ra. Các xã viên đều nói hiệu lực phân bón đã lên rồi, nhưng thực ra đó chính là khí am-ni-ắc bay hơi làm tiêu tan hết hiệu lực phân bón.
Thế là các xã viên đội sản xuất đi đào phân am-ni-ắc dưới cái nắng gay gắt giữa trưa để chuẩn bị mang đến thửa ruộng lúa đang trổ bông.
Vào lúc đó, cậu tôi đang hoạn trứng bò đực ở đội sản xuất Đông Phong.
Toàn bộ lao động tráng kiện đều đi đào phân bón khoa học cả rồi. Hoàng Quốc Bỉ cũng mang tinh thần phấn chấn cùng ra hiện trường để thúc đẩy sản xuất. Địa thế hố phân trũng thấp, lối vào chỉ có một con đường, xung quanh hồ nước toàn là cây cối rậm rạp không lọt gió.
Bốn xã viên trèo xuống đào lớp đất phủ đầu tiên tay cầm cuốc và gáo hót phân với vẻ đầy kích động nhìn những bọt khí đen sủi lên từng cái trong hố phân, cứ như nhìn thấy lương thực của mùa thu vậy. Chỉ là hôm nay mùi có hơi nồng quá, người đứng đầu tiên là Trương Quang Phú nói: "Mùi càng nồng, hiệu lực phân bón càng cao."
Lời anh ta còn chưa dứt, đã ngã chúi đầu xuống bên thành hồ.
Ba người phía sau miệng chửi bới làu bàu: "Mẹ kiếp chúng mày đi đứng nhìn cho rõ vào, đui mù à!"
Một người ở phía sau vừa định kéo Trương Quang Phú dậy thì thân hình lảo đảo, giống như tên phản động trúng đạn trong phim ảnh, ngửa mặt ngã lăn ra bên thành hồ.
Trong hố phân, những bọt khí đen sủi lục bục, ánh nắng chiếu rọi lên những bọt khí, ánh lên những đốm sáng phong phú sắc màu.
Hai xã viên ở phía sau thực tế còn chưa kịp đưa ra phán đoán quá nhiều, đã lần lượt ngã nhào xuống bên miệng hố.
Hơn ba chục xã viên ở phía trên cởi trần, hút thuốc lào, nghỉ ngơi dưới bóng cây đợi họ đào hố phân xong thì xuống múc phân. Lúc này, Lưu Trung Hoài gầy gò kêu thất thanh lên một tiếng: "Không ổn rồi, bọn họ ngã xuống hết cả rồi!"
Vừa nói, anh ta vừa lao vút xuống dưới. Lưu Trung Hoài miễn cưỡng lao được đến mép hồ, liền ngã nghiêng ngay tại chỗ đè lên bụng Trương Quang Phú. Trên mặt đất bên cạnh họ, một vài con kiến và côn trùng cũng chết bất động.
Dưới bóng cây lại có sáu xã viên mù quáng và vội vã ùa ào lao xuống: "Mau đi cứu người!" Miệng gò hét, ra vẻ nanh vuốt. Tựa như trong khu rừng đối diện có một khẩu đại liên vậy, sáu người giữa đường bị quật ngã cứ như cắt lúa mạch.
Trần Căn Sinh sợ đến mức mặt cắt không còn giọt máu, nhất thời đến cả câu nói cũng thốt lên không nên lời.
Các xã viên ở phía trên tuyệt đối không dám đi xuống nữa, họ trân trân nhìn mười tráng nam nằm bên miệng hố chẳng khác nào mười bao tải lương thực.
Hoàng Quốc Bỉ thể hiện sự bình tĩnh và điềm tĩnh của một cán bộ huyện, ông ta lớn tiếng hô hào: "Các đồng chí xã viên, thời khắc khảo nghiệm chúng ta đã đến, ai là đảng viên, đoàn viên thanh niên thì đứng ra đây!"
Trong số hai mươi mấy người còn lại, ba người là đảng viên đoàn viên bước ra.
Hoàng Quốc Bỉ vung tay hướng về phía Tần Nghĩa Lâm - đoàn viên thanh niên có ngoại hình trông giống như một chú bò mộng nhỏ: "Xuống đó!"
Tần Nghĩa Lâm dũng cảm lột chiếc áo khoác trên người ném phăng xuống đất, lao đi vun vút về phía đáy hố. Chạy được nửa đường, Tần Nghĩa Lâm ngã gục xuống.
Lúc cậu tôi đến, Hoàng Quốc Bỉ đang chỉ huy đảng viên Trần Đức Thắng và đoàn viên Tưởng Phượng Sơn lao xuống dưới. Cậu tôi chặn hai người lại: "Không được, không ai được phép xuống cả, mau chóng thông báo cho người trong làng gánh nước và mang khăn mặt tới!"
Bí thư Trần Căn Sinh ngây người đứng đó, cậu tôi giáng cho Trần Căn Sinh một cú đẩy trời giáng: "Mau về làng gọi người gánh nước đưa khăn mặt tới!" Trần Căn Sinh cắm cổ chạy biến.
Hoàng Quốc Bỉ vẫn đang chỉ huy người lao xuống dưới. Trần Đức Thắng - người từng gia nhập đảng trong đội ngũ dân công vận chuyển lương thực vượt sông năm xưa - lòi ra cái dũng khí của chiến dịch Hoài Hải, ngớ ngẩn đần độn lao xuống. Ở cách hố chừng hơn hai mươi mét, anh ta thoạt tiên vịn vào một gốc liễu, rồi từ từ ngã quỵ xuống, bốn chân chổng lên trời, một chiếcếc giày của anh ta tiếp tục lăn lông lốc xuống dưới.
Hoàng Quốc Bỉ lại đang động thái vận động quần chúng xuống cứu người, cậu tôi cuối cùng cũng giáng cho ông ta một bạt tai vang dội: "Đồ súc sinh nhà mày, còn nhúc nhích nữa tao đập nát đầu mày bây giờ!"
Hoàng Quốc Bỉ thấy cậu tôi tay giương cao cây đòn gánh, đôi mắt đỏ ngầu, sát khí đằng đằng, bèn sợ hãi ngồi thụp xuống đất không dám nhúc nhích thật.
Cậu tôi đứng giữa đám xã viên hồn vía lên mây, lớn tiếng hô vang: "Từ giây phút này trở đi, tất cả nghe theo sự chỉ huy của tôi!"
Già trẻ gái trai trong làng người thì bưng chậu nước, người thì gánh thùng nước ùn ùn kéo đến, tiếng khóc vang trời dậy đất, đòi sống đòi chết, rách nát can trường, hiện trường hỗn loạn một mảnh.
Người vợ mới cưới của đoàn viên Tần Nghĩa Lâm hét chói tai một tiếng: "Em đi cùng với anh!" Cô ta xô đám đông ra, lăn lộn một vòng lao tót xuống dưới, trông rất giống một vị anh hùng lao vào ôm bộc phá trên chiến trường.
Tiếng khóc lóc gào thét nửa chừng bỗng đứt quãng. Vợ của Tần Nghĩa Lâm đầu bù tóc rối bị thi thể của Trần Đức Thắng ngã đè lên vướng lại, nằm im bất động không tiếng động.
Cậu tôi lớn tiếng nói với các xã viên: "Người ở dưới đều đã bị ngộ độc khí am-ni-ắc, bắt buộc phải dùng khăn ướt bịt miệng xuống dưới cứu người. Thanh niên theo tôi, những người còn lại theo chú Căn Sinh ra gốc cây quả bạch quả ở chùa Huyền Huệ trải chiếu ra."
Vừa nói, cậu tôi là người đầu tiên bịt khăn ướt lao xuống, tiếp theo đó người thứ hai, thứ ba cũng nối gót đi xuống. Nửa tiếng sau, mười hai xã viên bị ngộ độc đều được khiêng lên hết.
Ở chỗ thông gió dưới gốc cây bạch quả trước chùa Huyền Huệ, cậu tôi chỉ huy toàn bộ quá trình cấp cứu.
Giữa tiếng khóc lóc trời long đất lở, cậu tôi cạy miệng những người bị ngộ độc, bảo các xã viên dùng quạt để quạt gió vào mũi và khoang miệng của họ, sau đó ra lệnh cho bác sĩ vườn Ân Tiểu Hồng lấy từ phòng y tế về năm bình nước muối. Chỉ có hai dây truyền dịch, cậu tôi luân phiên truyền dịch cho mười hai người bị ngộ độc theo tần suất ba phút, năm phút, mười phút. Mọi thứ đều tiến hành rành mạch có trật tự, đợi đến khi bệnh viện công xã chạy đến thì đã có bảy người tỉnh lại.
Khi trời tối hẳn, mười hai xã viên bị ngộ độc thì cứu sống được chín người, Trương Quang Phú, Lưu Trung Hoài là những người xuống đầu tiên và đảng viên lâu năm lớn tuổi nhất là Trần Đức Thắng không qua khỏi.
Đại y sĩ của bệnh viện công xã nói, nếu không phải cậu tôi Trịnh Thiên Lương kịp thời áp dụng các biện pháp cấp cứu hiệu quả, thì những người bị ngộ độc chậm thêm bốn mươi phút nữa sẽ tử vong toàn bộ. Cậu tôi đã giật lại được chín mạng người từ tay thần chết.
Hôm sau, trên sân lúa của đội sản xuất chúng tôi bày ba cỗ quan tài.
Ông trời giống như một chiếc chăn bông thật dày bịt chặt lấy mũi và miệng của mỗi người, cảm giác ngạt thở khiến cho tất cả mọi người đều sinh ra một nỗi sợ hãi như ngày tận thế đến nơi.
Mặt trời vẫn treo lơ lửng trên không trung trút lửa xuống hoa màu trên mặt đất và trong lòng người ta. Trên vòm trời xanh ngắt trôi nổi đầy những gương mặt của người chết. Nhân dân quê tôi trong một cơn ác mộng không có điểm dừng cứ hồi tưởng đi hồi tưởng lại cái khung cảnh kinh hoàng của mùa hè năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba ấy.
Vào mùa thu năm một nghìn chín trăm bảy mươi ba, có mấy người ăn mặc chỉnh tề ở thành phố đến làng tìm cậu tôi là Trịnh Thiên Lương. Về sau cậu tôi đã trở thành tấm gương cho thanh niên trí thức về quê trong toàn huyện. Báo chí đăng tải sự tích cậu tôi bám rễ ở nông thôn, cải tạo thế giới quan, phần lớn dung lượng dùng để ca ngợi cậu tôi đã bình tĩnh điềm đạm mà lại xả thân cứu sống mười hai người anh em giai cấp thế nào. Bài báo mô phỏng "Vì sáu mươi mốt người anh em giai cấp", nhịp điệu nhanh, rất có tính hồi hộp, hơn nữa còn có một số tình tiết không đúng sự thật, ví dụ như việc cậu tôi hô hấp nhân tạo miệng đối miệng với người bị ngộ độc, rồi thì cõng người bị ngộ độc đầu tiên lên xong mới để những người khác cùng đi xuống. Cậu tôi vì chuyện này mà còn tìm cả ban thanh niên trí thức huyện, yêu cầu báo chí đăng một lời đính chính. Các đồng chí ở ban thanh niên trí thức nói sự việc này không dễ giải quyết.
Nói chung, hễ trên báo đã tuyên truyền là bạn bám rễ ở nông thôn rồi, thì về cơ bản bạn không cần phải bám rễ nữa. Điều này cũng giống như một bệnh nhân xuất viện khi nói huyên thuyên về bệnh lao phổi, thì anh ta đã không còn là bệnh nhân lao phổi nữa rồi, bệnh lao phổi đã thành chuyện quá khứ.
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi tư, cậu tôi Trịnh Thiên Lương được giới thiệu theo học trường cao đẳng cơ khí tỉnh theo hình thức "xã đến xã đi", làm sinh viên công nông binh hai năm. Sau khi tốt nghiệp đương nhiên không về công xã ở quê tôi nữa, với tư cách là một thanh niên trí thức kiểu mẫu, cậu được phân công về công xã Triều Dương cách thành phố chỉ mười hai cây số nhậm chức Phó Bí thư Đảng ủy, hai năm sau lên làm Bí thư Đảng ủy, khi ấy tròn hai mươi chín tuổi.
Cậu tôi với tư cách là một bác sĩ thú y nông thôn thì chắc chắn là xuất sắc, nhưng với tư cách là một quan chức của đảng và chính phủ, phương thức công tác và thủ đoạn thao tác của cậu đương nhiên nên có sự khác biệt lớn so với lúc làm bác sĩ thú y. Khi làm bác sĩ thú y thì điều cần nói là đối với súc vật dưới tay phải vững vàng, chuẩn xác, tàn nhẫn, gọn gàng dứt khoát, một dao cắt đứt làm đôi; còn khi làm quan thì phải đối mặt với con người, con người là vĩ đại nhất, con người đồng thời cũng là loài động vật khó chiều nhất trên thế giới này.
Làm quan hình như là mưu định nơi màn trướng, quyết thắng ngoài ngàn dặm, không tranh cái dũng nhất thời, không khoe cái tài nhất thời, lấy lùi làm tiến, lấy tiến làm lùi, thật thật giả giả, hư hư thực thực, hoặc là thái cực đẩy tay, hoặc là mượn đao giết người, hoặc là ngoài mặt tu sửa đường cổ đạo nhưng ngầm vượt qua Trần Thương, hoặc là nhẫn nhục chịu đựng chịu đựng kham nhẫn toàn diện. Làm quan ngoài việc có kỹ thuật chuyên môn tinh xảo của người thợ thủ công ra, còn phải có trí tuệ và mưu lược điều khiển con người ngoài kỹ thuật nữa.
Cậu tôi đã bị xử bắn. Cậu bị xử bắn tôi không hề có chút đồng cảm hay bi thương nào, thậm chí còn có chút hả hê. Với tư cách là họ hàng, cậu thấy chết mà không cứu, táng tận lương tâm; với tư cách là quan chức, cậu hủ bại đọa đày, trái luân thường đạo lý quốc pháp. Nếu như cậu thực sự trước sau như một kiên trì nguyên tắc và tín ngưỡng, tôi sẵn sàng duy trì một sự tôn trọng về nhân cách đối với cậu, thế nhưng cậu lại không phải như vậy.
Sau đó, tôi tìm hiểu từ chỗ bố của Cảnh Vĩ Cường là Cảnh Thiên Long, con số nhận hối lộ và đưa hối lộ của cậu tôi là bốn triệu một trăm bốn mươi ngàn, ít hơn Hồ Trường Thanh mấy chục ngàn đồng, tình nhân cũng không có bảy hay tám người, thực tế chỉ có một người rưỡi. Toàn bộ thời gian gây án tức là hoàn thành trong vòng một năm rưỡi, thuộc vào loại phần tử hủ bại khởi bước muộn tiến bộ nhanh.
Cảnh Thiên Long sống trong một tòa nhà nhỏ hai tầng bên hào nước quanh thành phố. Đứng trên lầu có thể nhìn bao quát hàng liễu xanh ngắt ven sông cùng những cửa hàng chen chúc hai bên bờ và tiếng người náo nhiệt. Vị cục trưởng thương mại nghỉ hưu này nói ông thích nhìn thấy cảnh tượng thương mại phồn vinh, giống như một con bạc cả đời đều hy vọng được nghe tiếng mạt chược vậy.
Trong sân dưới lầu trồng đủ loại hoa mộc và tiểu cảnh. Cuộc trò chuyện giữa tôi và Cảnh Thiên Long bắt đầu dưới giàn nho trong sân. Những đóa cúc trong bồn hoa bên cạnh đang tỏa ra mùi hương đậm đặc sắc vàng óng dưới ánh nắng. Trên đỉnh đầu, trên giàn nho treo hai chiếc lồng chim, chim vẹt và chim sáo trong lồng hoạt bát vô cùng, rõ ràng chúng tỏ ra vô cùng mãn nguyện với cuộc sống không làm mà hưởng trong lồng.
Ông cụ rất khách sáo, pha một ấm trà "Bích Loa Xuân" thượng hạng, còn đưa cho tôi một điếu thuốc "Trung Hoa" vỏ mềm. Cảnh Thiên Long đặt mình giữa tiếng chim ca hoa nở, không giấu vẻ tiếc nuối mà nói với tôi: "Tòa nhà này vẫn là do Tiểu Cường xây cho tôi đấy. Làm lãnh đạo cả đời, cuối cùng vẫn phải dựa vào con trai." Ông nói công ty của Cảnh Vĩ Cường đã chuyển đến Nam Kinh rồi, người cũng quanh năm buôn bán ở vùng Giang Chiểu, mấy tháng mới về nhà một chuyến.
Từ chỗ vị lão nhân mặt mày hiền từ này, tôi rất khó nhìn ra dấu vết của câu nói "phải bắt hắn ta xem Gala mừng xuân trong tù nửa đời sau" mà cậu tôi từng nói. Vị cục trưởng thương mại này suýt chút nữa đã bị phó huyện trưởng phụ trách công nghiệp và thương mạo năm đó là Trịnh Thiên Lương tống vào nhà giam. Cảnh Thiên Long buộc phải nghỉ hưu sớm, sau khi nghỉ hưu cấp trên cấp dưới gặp nhau trông như người dưng nước lã. Thế nhưng, trong những năm tháng cuối đời của cậu tôi là Trịnh Thiên Lương, quan hệ giữa hai người lại được cải thiện trở lại, cậu thường xuyên đến nhà Cảnh Thiên Long chơi, và gọi Cảnh Thiên Long là "cụ Cảnh".
Cảnh Thiên Long đã bảy mươi mốt tuổi rồi, ông nói với tôi: "Tôi lớn hơn cậu của cậu tròn hai mươi tuổi, cậu ấy gọi tôi là cụ Cảnh cũng không coi là quá đáng. Bây giờ Trung ương Đảng đều đề xướng tôn trọng các đồng chí lão thành mà!"
Cảnh Thiên Long hình như đang sốt ruột muốn chứng minh điều gì đó với tôi, ông nói: "Thực ra năm đó tôi chẳng có tội trạng gì to tát cả, chẳng qua cũng chỉ là phê duyệt dư ra một chút ti-vi màu, tủ lạnh, xe đạp. Nói thật nhé, toàn là các lãnh đạo trên huyện tìm đến tôi, tôi đắc tội nổi ai chứ? Tôi kiếm cho anh ta một chiếc ti-vi màu giá bình ổn, anh ta sống chết không chịu lấy, lại còn muốn xử lý tôi. Cảnh Vĩ Cường là bạn học cùng lớp với cậu, cậu biết đấy, thành tích vẫn luôn không tốt, không được có chí khí như các cậu, đều thi đỗ vào trường cả. Tôi tạo điều kiện cho nó làm chút việc buôn bán, bây giờ nhìn lại, quả thực chẳng đáng nhắc tới. Thế nhưng có kẻ đi cáo giác tôi, huyện trưởng Trịnh liền muốn tống tôi vào tù. Con cái của các lãnh đạo trung ương đều lên làm lãnh đạo cả đấy thôi, đó là vì họ từ nhỏ chịu ảnh hưởng của gia đình, bồi dưỡng ra tài năng lãnh đạo; tôi cả đời làm thương mại, con trai làm chút việc buôn bán nhỏ, cũng coi là kết quả của sự huân đúc gia đình chứ bộ. Thế thì có gì nào!"
Tôi không hy vọng Cảnh Thiên Long quá mức chối tội thay cho mình, liền ân cần châm đầy nước trà vào chén của Cảnh Thiên Long, nói: "Hay là ông kể chuyện về cậu tôi đi!"
Mái tóc bạc trắng của Cảnh Thiên Long rối tung trong gió thu, ông có vẻ đau lòng nhức nhối: "Hai năm nay cậu của cậu thỉnh thoảng có đến chỗ tôi ngồi chơi, bàn bạc mấy chuyện công việc, thế nhưng tôi tuyệt đối không ngờ cậu ấy lại gây ra ruột gan tày trời như vậy." Ông ực một cái nuốt sạch nước trong chén trà xuống cổ họng, vị lão nhân cô độc bắt đầu lời kể dài đằng đẵng của ông về cậu tôi.
Câu đầu tiên của ông là: "Công tâm mà nói, tôi cảm thấy cậu của cậu vẫn được tính là một người chính phái. Nhưng hai năm nay cậu ấy thường xuyên đến chỗ tôi xin lỗi, khiến tôi có hơi hồ đồ."
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi chín, toàn bộ ruộng đất của công xã Triều Dương đều được chia cho nông dân. Mùa xuân vừa qua, vị Bí thư Đảng ủy công xã Triều Dương tròn hai mươi chín tuổi rưỡi là Trịnh Thiên Lương không thể ngồi yên được nữa, mùng sáu Tết đã triệu tập hội nghị đảng ủy. Trong tiết trời xuân giá rét, cậu ta uống nước và hút thuốc liên tục, giọng nói vang oang oang, cuống họng khàn đục, một chân còn vắt lên ghế, hoàn toàn không còn chút dấu vết ôn nhu nho nhã nào của ngày xưa nữa.
Cậu taắn tay áo lên, ở cửa tay chiếc áo len rách lộ ra một đoạn len màu xám xanh, giống như một con giun đi lạc chui từ trong ống tay áo ra. Cậu ta gõ bàn nói: "Ruộng đã chia xong hết rồi, nông dân có lương thực ăn rồi, nhưng sau khi họ được ăn no, lại bắt đầu làm mê tín phong kiến. Bà con quê tôi la hét đòi tu sửa chùa Huyền Huệ, lúc ăn năm mới, cảnh tượng người ta đến chùa Huyền Huệ thắp hương bái Phật tấp nập như đi chợ, nhơ nhớp ô uế, mấy tên thầy cúng bà đồng bói toán đều ngóc đầu dậy hết rồi."
Tất cả các ủy viên đảng ủy đều vẫn đang đắm chìm trong bầu không khí rượu thịt ngày Tết, chẳng mấy mặn mà với lời nói của Bí thư Trịnh. Trịnh Thiên Lương thấy mọi người không có phản ứng gì thì hơi bực mình. Ngày tết ngày nhất, cậu ta không tiện phát tác, bèn đè nén cảm xúc xuống nói: "Đương nhiên rồi, Hội nghị Trung ương 3 khóa XI vừa mới mở xong, chúng ta phải giải phóng tư tưởng, nên cho bách tính sự tự do tín ngưỡng tôn giáo. Thế nhưng, ý thức tiểu nông của nông dân quá mạnh mẽ, có cơm ăn rồi là bắt đầu không có chí tiến thủ, suốt ngày đánh mạt chược đánh bạc."
Trịnh Thiên Lương nói câu này xong lại dùng ánh mắt sắc như cái giũa liếc sâu vào phó bí thư Quách Thành một cái: "Tôi nói này lão Quách, sao anh cũng hùa theo dẫn đầu đánh mạt chược thế, ra thể thống gì nữa? Năm mươi tám tuổi mà ý chí cách mạng đã suy thoái rồi. Nếu còn có người phản ánh anh đánh mạt chược, tôi không có quyền xử lý anh, nhưng tôi có thể kiến nghị huyện ủy cách chức anh."
Trịnh Thiên Lương rốt cuộc vẫn nổi giận. Phó bí thư Quách Thành cúi gằm đầu không dám lên tiếng, mắt đăm đăm nhìn đôi giày da heo mới tinh trên chân mình. Các ủy viên đảng ủy khác liền nhìn nhau ngơ ngác, động tác hút thuốc uống trà có phần gượng gạo.
Trịnh Thiên Lương nói: "Nhiệm vụ của chúng ta không phải là để bách tính có cơm ăn, mà là phải khiến họ trở nên giàu có. Làm thế nào để giàu? Chúng ta những cán bộ cơ sở này không nghĩ cách, không hiến kế, thì còn giữ chúng ta lại để làm gì? Trồng lúa nước trồng lúa mì, bắt đầu từ thời Tần Thủy Hoàng rồi, chết đói thì không chết đói được, nhưng giàu lên thì không giàu nổi đâu. Đại đội Hoa Sĩ ở Giang Tô có bóng đèn điện, có điện thoại, lầu trên lầu dưới là làm thế nào? Làm công nghiệp! Không có công nghiệp thì không cường thịnh, không có thương mại thì không giàu có, không ai nói đây là chủ nghĩa tư bản nữa cả. Qua Rằm tháng Giêng, chúng ta dẫn các bí thư đại đội đi tham quan đại đội Hoa Sĩ. Tôi không tin, trứng dái của nhà người ta lại to hơn đầu óc của chúng ta."
Trịnh Thiên Lương xuất thân từ nghề hoạn trứng bò đực rốt cuộc vẫn thốt ra một câu tục tởm không rời cái nghề cũ rích của mình.
Sau cuộc họp, thư ký đảng ủy làm nhiệm vụ ghi chép là Hoàng Dĩ Hằng chạy đến ký túc xá đơn thân của Trịnh Thiên Lương, động tác thành thạo đưa thuốc châm lửa cho Trịnh Thiên Lương: "Bí thư Trịnh, những lời anh nói hoàn toàn chính xác, là chân lý chịu được sự kiểm nghiệm của thực tiễn."
Trong phòng rất lạnh, cái mũi của Hoàng Dĩ Hằng đỏ ửng vì lạnh, miệng không ngừng hà hơi nóng vào đôi bàn tay.
Trịnh Thiên Lương ngồi trên một chiếc ghế mây rách nát, dịch chậu than sưởi xích lại gần Hoàng Dĩ Hằng, nói: "Tiểu Hoàng nha, cậu đừng coi lời nói của tôi vĩ đại như Đặng Tiểu Bình. Tôi chỉ cảm thấy chúng ta đã làm quan một đời, phải mang lại phúc lợi cho một phương, cậu có chủ ý gì hay không nào?"
Hoàng Dĩ Hằng lại đẩy chậu than xích về phía chân của Trịnh Thiên Lương: "Bí thư Trịnh, tôi cho rằng nhà máy nông cơ công xã vẫn phải chế tạo máy kéo lên, anh lại là chuyên gia trong lĩnh vực này. Mỗi năm chỉ cần chế tạo dăm ba trăm chiếc, chắc chắn sẽ nổi tiếng toàn quốc."
Trịnh Thiên Lương cười: "Tiểu Hoàng nha, cậu hiến cho tôi cái chủ ý tồi tệ gì thế, tôi học cơ khí chẳng lẽ lại không biết, chỉ dựa vào mấy cái kìm cái búa này mà chế tạo ra được máy kéo chắc, cậu lại muốn bắt tôi mất mặt giống như Lưu Minh Lý thuở trước chắc?"
Sáu năm trước, nhà máy nông cơ công xã Triều Dương để dâng lễ Quốc khánh, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của bí thư công xã Lưu Minh Lý, đã phát động quần chúng dựa vào quần chúng, phát huy tinh thần người thắng thiên định, bắt đầu thách thức với uy quyền phản động tư sản. Bọn họ muốn làm theo kiểu ta đây tự chế máy kéo đi-cầy ở nhà máy nông cơ công xã. Sau khi mua một số linh kiện máy kéo từ Thượng Hải về, Lưu Minh Lý tập hợp toàn bộ những thợ rèn, thợ vá nồi nổi tiếng trong công xã cùng một số thợ mộc lại để chế tạo máy kéo.
Đến giữa tháng Chín, mười chiếc máy kéo đi-cầy lắp ráp xong xuôi. Tay quay giật mạnh một phát, quả nhiên phát ra tiếng kêu đinh tai nhức óc. Lưu Minh Lý kích thích đến mức nhảy cẫng lên chẳng thèm kiềm chế, nước mắt trong hốc mắt thế mà lại không kìm được trào tuôn ra ngoài.
Mười chiếc máy kéo chạy ra khỏi cửa nhà máy chạy một vòng quanh con phố nhỏ của công xã, ngoại trừ việc đâm nát một cửa hàng bánh rán, đâm bị thương một con lừa kéo xe ra thì cơ bản không xảy ra vấn đề lớn gì. Lưu Minh Lý nói chủ yếu là tay nghề lái máy kéo không tốt, phải lập tức huấn luyện tăng cường.
Phố nhỏ công xã tè một bãi nước tiểu có thể tè ba vòng, nguy cơ tiềm ẩn của máy kéo đi-cầy đương nhiên cũng theo đó mà không bị phơi bày đầy đủ.
Ngày Quốc khánh, đài phát thanh của huyện đã phát đi bản tin công xã Triều Dương chế tạo thành công máy kéo từ trước đó. Toàn huyện chấn động vì tin này. Trước cửa huyện ủy cờ bay phấp phới, chiêng trống vang trời, biển người tấp nập, trên các khẩu hiệu lớn viết những câu cổ động và mắng chửi như "Nhân dân mới là anh hùng chân chính sáng tạo ra lịch sử", "Người thắng thiên định", "Hãy để bọn uy quyền học thuật tư sản phản động cút xuống địa ngục đi" v.v.
Công xã Triều Dương cách thành phố chỉ có mười hai cây số, thế mà người chờ xem lễ kỷ niệm trước cửa huyện ủy đến tận mười một giờ vẫn không thấy bóng dáng chiếc máy kéo nào đâu. Điện thoại sang công xã Triều Dương hỏi thì bảo tám giờ rưỡi sáng đã xuất phát rồi.
Hóa ra, mười chiếc máy kéo đi-cầy được đeo hoa đỏ đàng hoàng chẳng chịu tí chiến đấu nào cả. Chạy được hai cây số thì có ba chiếc bị sôi nước ở két nước, không châm thêm nước thì động cơ có nguy cơ phát nổ, thế là đỗ nối đuôi nhau xếp thành một hàng dọc để châm nước. Chạy được ba cây số nữa, lại có hai chiếc đột ngột chết máy. Chạy thêm một cây số nữa, lại có một chiếc bị rò rỉ bình xăng, không nhúc nhích được nữa, sửa mất một hồi lâu mà giật kiểu gì cũng không nổ.
Trên dọc đường tổn binh hao tướng, có những chiếc đành phải bỏ dở giữa chừng tắt thở tại chỗ. Lưu Minh Lý lo lắng toát mồ hôi hột, nổi trận lôi đình thề sẽ xử bắn người phụ trách kỹ thuật. Người phụ trách là người thợ rèn ưu tú nhất toàn công xã, anh ta mếu máo kêu khóc: "Bí thư Lưu, tôi không cố ý phá hoại đâu." Vừa nói nước mắt vừa đầm đìa khuôn mặt.
Đến mười một giờ rưỡi, chỉ có ba chiếc máy kéo đi-cầy lếu thế lết thết lái được đến trước cửa huyện ủy, thảm hại chẳng khác nào những tên lính đào ngũ chạy trốn từ chiến trường về, trong đó còn có một chiếc chết máy ở cách hiện trường kỷ niệm của huyện ủy đúng một trăm hai mươi mét. Mọi người xúm tay xúm chân đẩy chiếc máy kéo này đến dưới đài chủ tịch.
Sau sự việc ấy, bí thư huyện ủy tức điên lên cách chức Lưu Minh Lý. Từ đó về sau Lưu Minh Lý biến mất khỏi chính đàn của huyện nhà. Hiện tại, Lưu Minh Lý đã nghỉ hưu từ ban hậu bếp ủy ban nhân dân huyện, đang mở một quán ăn nhỏ bên bờ hào nước cổng Đông thành phố, bán mì bò, hoành thánh kiêm luôn cả kinh doanh bia và súng đồ chơi trẻ em hàng nhái.
Hoàng Dĩ Hằng thấy Trịnh Thiên Lương không đồng ý chế tạo máy kéo, liền liên mồm nói: "Bí thư Trịnh phê bình rất đúng, quả thực khoa học kỹ thuật nên là lực lượng sản xuất số một. Trình độ lực lượng sản xuất của chúng ta vẫn chưa theo kịp, thế nhưng con đường làm công nghiệp này nhất định phải đi cho bằng được."
Trịnh Thiên Lương gật đầu tỏ ý đồng tình với quan điểm của Hoàng Dĩ Hằng. Hoàng Dĩ Hằng hỏi: "Bí thư Trịnh, buổi trưa có cần nhà ăn làm thêm một đĩa móng giò kho tàu không? Món mà anh thích nhất ấy, tôi đã bảo sư phụ Vạn làm rồi."
Trịnh Thiên Lương nói ăn tạm chút là được, có gì ăn nấy, đừng có giở trò đặc biệt gì cả, không có lần sau. Hoàng Dĩ Hằng nói, lần sau tôi nhất định sẽ nghiêm ngặt thi hành theo chỉ thị của Bí thư Trịnh.
Trịnh Thiên Lương nói: "Cậu bảo sư phụ Vạn làm thêm món móng giò kho tàu, phiếu thức ăn của tôi không đủ rồi, cậu bán cho tôi hai đồng rưỡi nhé."
Hoàng Dĩ Hằng nói: "Tiền móng giò kho tàu cứ trừ vào phí công tác phí của công xã đi."
Trịnh Thiên Lương trợn trừng mắt: "Tiểu Hoàng, cậu có ý gì thế?"
Hoàng Dĩ Hằng thận trọng nói: "Mùng Tám mới chính thức đi làm, ý của tôi là cái này tính là trợ cấp làm thêm giờ."
Trịnh Thiên Lương hỏi: "Cậu nói xem nên phát cho cậu bao nhiêu tiền trợ cấp?"
Hoàng Dĩ Hằng đứng ngây ra đó, gương mặt lúc đỏ lúc trắng.
Trên đường từ đại đội Hoa Sĩ trở về, các bí thư đại đội ganh tị thèm thuồng đến mức dãi chảy ròng ròng: "Cha mẹ ơi, cán bộ đại đội Hoa Sĩ toàn hút thuốc có đầu lọc, chỗ chúng tôi có tiền cũng chẳng mua nổi. Bọn họ đích thị là địa chủ, còn chúng ta là bần cố nông." "Người ta là sau giải phóng, còn chúng ta là trước giải phóng."
Lúc này có người nói: "Các anh nói thế, chẳng phải là khẳng định Bí thư Trịnh bắt chúng ta sống trong xã hội cũ tội ác tày trời hay sao? Hoàn toàn là lời của kẻ phản cách mạng hiện hành rồi." Trên xe lửa mọi người bắt đầu nâng tầm quan điểm lên.
Trịnh Thiên Lương mơ màng mở mắt ra nói: "Đừng sợ vạch trần khuyết điểm, nếu tôi vẫn để cho bách tính công xã Triều Dương vừa húp cháo loãng vừa đánh mạt chược, thì điều này thực sự cũng chẳng khác là bao so với trước giải phóng. Nhìn những ngôi nhà tranh vách đất của bách tính mà xem, lại nhìn xem có bao nhiêu gia đình xã viên ngay cả một chiếc đài phát thanh cũng không có, còn có ba đại đội đến nay vẫn chưa được kéo điện. Cái này mà mẹ kiếp gọi là ngày tháng gì chứ!"
Trịnh Thiên Lương nói thế rồi, cũng chẳng ai dám phát biểu bàn tán gì nữa.
Sau khi về đến nơi, đảng ủy họp liền ba ngày ba đêm. Mậu Biện đại công xưởng như đại đội Hoa Sĩ là điều bất khả thi, không có tiền, không mua được thiết bị, cho dù có tiền thì cũng không có kỹ thuật.
Đêm thứ ba, Trịnh Thiên Lương thức đến đỏ ngầu cả mắt, cuối cùng đã chốt lại tại hội nghị đảng ủy, xây dựng nên cương lĩnh phát triển "Thực sự cầu thị, tùy cơ ứng biến, từ nhỏ đến lớn, từ nông sang công".
Hội nghị quyết định cải tạo nhà máy nông cơ công xã đã đóng cửa thành "nhà máy gia công đồ sắt". Bây giờ sau khi chia ruộng đến hộ gia đình, nhu cầu về liềm, cuốc, xẻng, lưỡi cày tăng vọt đột biến. Gom toàn bộ những chiếc máy kéo, máy cấy đã báo hỏng năm xưa cùng với một đống sắt vụn han gỉ nấu chảy một nồi, tập trung những thợ rèn xuất sắc nhất toàn công xã lại để chế tạo liềm và cuốc. Xây dựng thêm một nhà máy chế biến lương thực, nhà máy chế biến bông.
Quyết định quan trọng nhất mà hội nghị đảng ủy ba ngày đưa ra chính là phát động toàn công xã trồng rau. Thu nhập từ việc trồng rau cao gấp sáu, bảy lần so với trồng lương thực. Công xã Triều Dương nằm ngay sát bên cạnh thành phố, phải phát động nông dân trồng năm ngàn mẫu rau, một ngàn mẫu cung cấp cho thành phố, phần còn lại tiêu thụ đi Nam Kinh, Dương Châu, Thượng Hải, Hàng Châu và các nơi khác.
Các thành viên đảng ủy công xã xuất động toàn lực, đều đến Nam Kinh, Dương Châu và Tô Nam để chạy vạy công ty rau quả quốc doanh, dùng mức giá thấp nhất để tranh thủ mời họ đến tận nơi thu mua.
Trịnh Thiên Lương công bố những kế hoạch vĩ đại này xong, với cảm xúc kích động nói: "Trong vòng hai năm, công xã Triều Dương bắt buộc phải xóa sổ toàn bộ nhà tranh vách đất. Xã viên mà không được ở nhà ngói, đám người chúng ta chính là lũ ăn hại vô tích sự!"
Một trận mưa xuân rả rích qua đi, ngày hôm sau trên những cây liễu đã bung ra những chồi non màu vàng nhạt, trong ao cũng được bơm đầy nước xuân. Những chú vịt con thỏa thích ngụp lặn trong nước, làn gió mềm mại và ấm áp lướt qua những mầm lúa mì đang xanh trở lại và những gương mặt nứt nẻ vì mùa đông của người dân. Lúc này, mùa xuân đã chính thức cập bến mảnh đất nghèo nàn nhưng không cam chịu sự tẻ nhạt này.
Lúc này, quy hoạch phát triển công xã Triều Dương do đảng ủy công xã hoạch định đã được khởi động toàn diện. Nhà máy đồ sắt bốc lên từng làn khói đen kiếm ra tiền, nhà máy chế biến lương thực, nhà máy chế biến bông máy móc gầm rú suốt ngày đêm.
Đó là một thời đại mà hễ dám làm thì kẻ đần độn cũng có thể kiếm ra tiền. Trịnh Thiên Lương chưa tròn ba mươi tuổi đứng giữa khung cảnh dòng kim loại nóng chảy tuôn trào và máy móc quay cuồng vù vù, hết lần này đến lần khác ngẫm nghĩ lại ý nghĩa sâu sắc của câu "Tam thập nhi lập".